MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 3
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu....................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu. ......................................................................................... 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu. ................................................................................... 4
5. Bố cục. ............................................................................................................... 4
CHƢƠNG 1: ĐÌNH PHƢỢNG LỊCH TRONG LỊCH SỬ ..................................... 5
1.1. Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại ...................................................... 5
1.1.1. Đôi nét về Diễn Châu............................................................................ 5
1.1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên xã Diễn Hoa .................................... 8
1.2. Diễn trình lịch sử Đình Phƣợng Lịch. ........................................................ 15
1.2.1.Niên đại khởi dựng. ............................................................................. 15
1.2.2.Qúa trình tồn tại. ................................................................................. 15
1.3. Nhân vật đƣợc thờ- thành hoàng làng. ...................................................... 16
CHƢƠNG 2: GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC- NGHỆ THUẬT ĐÌNH PHƢỢNG LỊCH .. 17
2.1. Giá trị kiến trúc.......................................................................................... 17
2.1.1. Không gian cảnh quan. ....................................................................... 17
2.1.2. Bố cục mặt bằng tổng thể.................................................................... 18
2.1.3. Các đơn nguyên kiến trúc ................................................................... 19
2.2. Giá trị nghệ thuật. ...................................................................................... 21
2.2.1. Trang trí trên kiến trúc ....................................................................... 22
2.2.2. Di vật .................................................................................................. 24
2.3. Lễ hội ........................................................................................................ 25
2.3.1. Phần lễ ............................................................................................... 25
2.3.2. Phần hội. ............................................................................................ 25
2.4. Gía trị lịch sử. ............................................................................................ 26
1
ngƣỡng nhƣ mừng thọ cho các cụ trong làng, tổ chức hoạt động văn nghệ. Tuy
nhiên trải qua thời gian, Đình Phƣợng Lịch phải chống chọi với thiên nhiên khắc
nhiệt, chiến tranh tàn phá, một phần cũng do ý thức cộng đồng nên một số công
trình của đình đã bị phá hủy, hiện nay chỉ còn lại tòa đại đình duy nhất.
Tuy Đình Phƣợng Lịch đã dƣợc ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An xếp hạng di
tích cấp Tỉnh nhƣng ngôi đình làng vẫn ít đƣợc biết đến. Mặt khác do sự phát
triển của kinh tế, xã hội, con ngƣời quan tâm tới đời sống vật chất mà phần nào
đã lãng quên những di tích chứa đựng giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Là ngƣời con của Làng Phƣợng Lịch, đƣợc học về di tích. Vì thế tôi sẽ vận
dụng kiến thức đã học về loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật để viết về Đình
Phƣợng Lịch. Một mặt để ôn lại kiến thức, một mặt muốn giới thiệu Đình
Phƣợng Lịch tới tất cả mọi ngƣời.
Vì những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “ Tìm hiểu di tích Đình
Phượng Lịch ( xã Diễn Hoa, Huyện Diễn Châu, Nghệ An)”.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là di tích Đình Làng Phƣợng Lịch
3
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Nghiên cứu Đình Phƣợng Lịch gắn liền với quá trình hình
thành, tồn tại, phát triển của làng từ khi khởi dựng tới nay.
- Về không gian: Nghiên cứu Đình Phƣợng Lịch trong không gian lịch sử văn hóa của làng nói riêng và của huyện Diễn Châu nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu vùng đất, con ngƣời làng Phƣợng Lịch, và huyện Diễn Châu.
Tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại của di tích đình phƣợng lịch từ khi
khởi dựng cho tới nay.
Nghiên cứu các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích Đình
tích đất canh tác là 13200 ha. Dân số tính theo số liệu điều tra năm 1999 là
277939 ngƣời.
Địa hình Diễn Châu chủ yếu là đồng bằng hẹp, có núi thấp nằm ở phía tây,
biển nằm ở khu vực phía đông. Cƣ dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề thâm canh
lúa nƣớc, chăn nuôi gia súc và làm thêm một số ngành nghề thủ công và thƣơng
nghiệp. Đời sống nhân dân ngày càng đƣợc cải thiện.
Ngƣời dân Việt Nam có truyền thống đoàn kết, yêu nƣớc, tự lực, tự
cƣờng, chịu đựng gian khó, cần cù trong lao động, giản dị trong cuộc sống, kiên
cƣờng chinh phục tự nhiên, đó là tinh thần đoàn kết dân tộc, chuộng nhân nghĩa
trọng đạo lý… Là ngƣời Việt Nam dù sinh sống bất cứ địa bàn nào cũng mang
trong mình đặc điểm chung của dân tộc, bởi lẽ họ cùng một cội nguồn, một cộng
đồng dân tộc vốn sớm ổn định về ngôn ngữ, sinh hoạt, kinh tế và tâm lý… Tuy
nhiên, trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống với những đặc điểm riêng biệt về
điều kiện tự nhiên cũng nhƣ xã hội, ngƣời dân Diễn Châu qua thời gian và
không gian xê dịch đã có một sự chuyển đổi về tính cách, nếp nghĩ, tình cảm và
phong tục tập quán.
Truyền thống của nhân dân Diễn Châu về bản chất truyền thống của ngƣời
Việt biểu hiện trong hoàn cảnh cụ thể. Các truyền thống đƣợc truyền lại cho các
5
thế hệ tiếp nối, góp phần cùng cả nƣớc làm nên những bản anh hùng ca hàng
nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc.
Không chỉ có cảnh đẹp của núi sông, biển cả, giàu của cải thiên nhiên mà
Diễn Châu còn đƣợc biết đến là một trong những vùng đất có bề dày truyền
thống lịch sử - văn hoá. Nơi đây là nơi hội tụ, giao lƣu của hai nền văn hoá Bắc Nam. Nhiều di tích thời tiền sử đã đƣợc phát hiện, chứng tỏ đây là vùng đất cổ
có ngƣời cƣ trú từ lâu đời nhƣ di chỉ Rú Ta ( Diễn Thọ ) thuộc nền văn hóa Bầu
Tró, lèn Hai Vai ( Diễn Minh ), di tích Đồng Mổm ( Diễn Thọ )..v.v..
Huyện Diễn Châu nổi tiếng là vùng đất có truyền thống hiếu học, chuộng
làng, một khong cách giữa quan điểm tổ chức và thống trị của giai cấp địa chủ
phong kiến bề trên và ý thức dân chủ của làn xã ở cơ sở. Tập tục này còn đƣợc
duy trì đến ngày nay nhƣng hình thức có phần đã khác xƣa.
Hát dặm không thịnh thành ở Diễn Châu nhƣng kể chuyện thì hầu nhƣ nơi
nào cũng có. Vè không những đƣợc quần chúng sử dụng nhƣ một vũ khí sắc bén
để tố cáo, phản kháng đối với giai cấp thống trị mà còn mang tính chất thời sự
phản ánh và bình luận kịp thời với tinh thần phê phán những sự việc xy ra ở địa
phƣơng. Không có một quyền lực nào có thể cản trở đƣợc quần chúng nhân dân
sáng tác vè. Tác giả của các bài vè có thể là cá nhân hay một tập thể, một nhóm
ngƣời, sáng tác xong thì lập tức nhanh chóng đƣợc phổ biến rộng rãi trong thôn
xóm. Có nhiều bài vè đề cập đến những vấn đề rộng lớn, đã vƣợt thời gian và
không gian tồn tại nhƣ một cứ liệu lịch sử của thời đại nhƣ vè Tú Tấn, Tú Mai,
vè Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, vè đi phu ở Cửa Rào
Con ngƣời Diễn Châu rất yêu thích ca hát. Nhiều thôn xã trƣớc đây đều có
phƣờng hát nhƣ hát hội ở làng Bùng (Diễn Ngọc), Thừa Sủng (Diễn Xuân), hát
chèo ở Lý Nhân (Diễn Ngọc), Thanh Bích (Diễn Bích), hát hò Đại Thánh ở
Đông Câu, Phúc Thịnh (Diễn Hải). Vào ngày hội mùa xuân, các nơi đều tổ chức
ca hát, lôi cuốn đƣợc hàng trăm ngƣời tham dự. Nhân dân Diễn Châu rất hâm
mộ những nhạc phẩm, kịch bản nói về anh hùng dân tộc, các gƣơng trọng đạo lý
và tình nghĩa thuỷ chung.
Nét đặc sắc trong sinh hoạt văn nghệ ở Diễn Châu là hát ví, hát dặm và kể
vè. Hát ví đậm đà chất trữ tình, gắn liền với lao động sản xuất, với các ngành
7
nghề làm ăn của địa phƣơng. ở Diễn Châu hầu nhƣ nghề gì cũng có hát ví:
Ngƣời quay tơ dệt vi ở Đông Phái, Phƣợng Lịch (Diễn Hoa) có ví phƣờng vi; ;
ngƣời chắp gai đan lƣới ở Hữu Bằng, Phú Lộc, Lý Nhân (Diễn Ngọc) có ví
phƣờng chắp gai; ngừi đan lát ở Hoàng La (Diễn Hoàng), Phú Hậu (Diễn Tân)
có ví phƣờng đan; ngƣời đi săn vùng Rấm To (Diễn Lâm) có ví phƣờng đan;
Tây giáp với Diễn Hạnh và Diễn Quảng
Nam giáp với Diễn Phúc và Diễn Thành.
Đông giáp với Diễn Bích.
Trƣớc đây, xã Diễn Hoa có 3 thôn là Phƣợng Lịch, Tràng Khê và Trung
Hậu. Còn hiện nay, cơ cấu hành chính của xã đƣợc chia thành 7 thôn, từ thôn 1
đến thôn 7.
1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên.
Diễn Hoa nằm trong vành đai nhiệt đới ẩm gió mùa. Khí hậu thay đổi theo
mùa, chịu sự chi phối sâu sắc của khí hậu, mùa đông lạnh buốt gió mùa đông
bắc thổi mạnh, mùa hè nhiệt độ cao, hứng chịu thƣờng xuyên gió mùa tây nam
nên thời tiết vô cùng nống bức, nhiệt độ có lúc lên tới 42 0C. Nơi đây thƣờng
xuyên xảy ra nắng nóng cục bộ.
Đồng bằng Diễn Hoa đƣợc bồi đắp bởi sông bùng ( con sông này đã đi vào
thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ). Chất lƣợng đất ở đây không màu mỡ nhƣ
đồng bằng bắc bộ nên phần nào đã ảnh hƣởng tới sự sinh trƣởng của cây lúa và
chât lƣợng gạo.
Do đồng bằng nắm ven các con sông nên việc tƣới tiêu rất thuận lợi. lƣợng
nƣớc ở các con sông dôi dào lên xuống theo ngày và theo mùa.Nét đặc biệt của
xã Diễn Hoa là không có núi, ngoài đất cang tác lúa nƣớc, Diễn Hoa còn có số
lƣợng đất hoa màu tƣơng đối rộng, vì thế các sản phẩm chủ yếu ở đây là ngô,
lạc, vừng, thuốc lào...
1.1.2.3. Đời sống kinh tế.
Diễn Hoa là một xã tiềm năng, có đủ điều kiện để phát triển các thành phần
kinh tế. Do đó đời sống của cƣ dân ngày càng đƣợc nâng cao.Cũng giống nhƣ xu
thế của đất nƣớc, kinh tế Diễn Hoa đang chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp theo hƣớng hiện đại, ngày càng xuất hiện nhiều thƣơng
9
nhân thành đạt hơn. Tuy nhiên kinh tế nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo,
Nhìn chung đời sống kinh tế, văn hóa- xã hội ngày càng đổi sắc, phát triển
theo hƣớng tích cực, ổn định và bền vững.
1.1.2.5.Truyền thống lịch sử.
Truyền thống yêu nƣớc.
Ngƣời dân Việt Nam nói chung và ngƣời dân xã Diễn Hoa nói riêng đều có
lòng yêu nƣớc, điều này thể hiện ở hành động của họ với cách mạng với đất
nƣớc. Trong thời chiến thì họ tích cực tham gia chiến đấu, thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ quân sự, mỗi khi có giặc ngoại xâm thì họ đoàn kết lại thành khối sức
mạnh, đẩy lùi, quét sách chúng ra khỏi bờ cõi nƣớc ta, đem lại cuộc sống hòa
bình, yên ấm cho nhân dân. Thời bình ngƣời dân tích cực tham gia sản xuất, xây
dựng đất nƣớc bằng việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống.
Tryền thống yêu nƣớc và chống giặc ngoại xâm.
Ngoài việc là nơi sinh hoạt văn hóa- tín ngƣỡng, Đình làng còn là nơi hội
họp của các phẩm hàm chức sắc để bàn việc làng nhƣ: đắp đê chống lũ, cầu đảo,
chống hạn đôn đốc thuế má, phu phen tạp dịch, xử phạt các vi phạm an ninh
làng xã. Đình còn là nơi tiếp đón các quan trên về thị sát việc dân sự theo định
kỳ. Nơi dân làng tổ chức đám rƣớc thí sinh đỗ đạt các khoa trƣờng về làm lễ
vinh quy bái tổ.
Trong phong trào yêu nƣớc những năm đầu thế kỉ XX theo tiếng gọi của cụ
Phan Bội Châu, nhiều con em trong Tổng đã hăng hái tham gia tìm đƣờng cứu
nƣớc.Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, tháng 7 năm
1930 phủ ủy lâm thời Diễn Châu đƣợc thành lập. Sau khi đƣợc thành lập, ban
chấp hành lâm thời đã phân công trọng trách cho từng đồng chí trong phủ ủy.
mở rộng phát triển Đảng trong huyện. Đầu tháng 11 năm 1930 chi bộ Đảng
Cộng Sản đầu tiên ở Diễn Hoa, Diễn Viên, Diễn Hạnh đƣợc thành lập. Chi bộ
Nam Khoán gồm bốn đồng chí: Trần Hộ, Nguyễn Truân, Lê Hùng, Ngô Sĩ
Quyền do ông Trần Hộ làm bí thƣ. Dƣới sự lãnh đạo của chi bộ, các tổ chức
nông hội đỏ, tự vệ đỏ, phụ nữ giải phóng đƣợc thành lập và phát động sôi nổi.
Đình Phƣợng Lịch đã trở thành địa điểm hội họp, in ấn tài liệu truyền đơn báo
đã áp đảo chính quyền phong kiến. Ở một số xã thuộc tổng Lý Chai ,tông Hoàng
Trƣờng ,Tổng Vạn Phần,bọn hào lý nông dân đã bỏ trốn,trong hoàn cảnh đó chi
12
bộ Đảng Nam Khoán đã nắm lấy thời cơ nhanh chóng xây dựng các tổ chức
quần chúng ,đặc biệt là tổ chức nông hội đỏ,các tổ chức thanh niên ,tự vệ ,phụ
nữ cũng sớm đƣợc xây dựng và củng cố làm áp lực với bộ máy của địch vốn đã
rệu rão. Do đó đình Phƣợng Lịch đã trở thành địa điểm sinh hoạt hội họp chi bộ
và nhân dân địa phƣơng.Không khí ở Phƣợng Lịch nói riêng và Diễn Hoa nói
chung ngày càng nhộ nhịp,ban ngày lo sản xuất đấu tranh,ban đêm lo học tập
chính trị văn hóa.Thông qua học chữ quốc ngữ, thơ ca yêu nƣớc đã đƣợc truyền
bá rộng rãi trong quần chúng.Giới phụ nữ cũng hăng hái tham gia,tích cực vào
công việc chung của lãng xã.Hoạt động sôi nổi của quần chúng thu hút một số
tầng lớp trên tham gia vào cuộc đấu tranh.
Những phong tục lạc hậu nhƣ ma chay, cƣới hỏi, rƣợu chè, cờ bạc... từng
bƣớc bị phá bỏ, lối sống mới bƣớc đầu đƣợc xây dựng.
Hốt hoảng trƣớc bão táp của cách mạng, thực dân Pháp dồn sức với việc
dồn sức đàn áp tinh thần: “ hữa Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần ”.
Chúng tìm mọi thủ đoạn nhằm dìm Nghệ Tĩnh đổ trong bể máu. Mở đầu là đàn
áp công nhân Vinh- Bến Thủy, sau chuyển xuống các phủ huyện, chúng đƣa
những tên hung ác tham lam ra làm tay sai, chúng cho bắt Đảng viên của ta. Tại
đình Phƣợng Lịch chúng bắt các đồng chí Phạm Căn, Vũ Phƣơng. Trần Cầu,
Cao Phúc đem tập trung ở Đình để tra khảo, sau đó giải đi giam ở huyện và tỉnh.
Năm 1936- 1939 Diễn Châu đã có một Đảng bộ với 15 chi bộ gồm 87
Đảng viên lấy danh nghĩa của các tổ chức phƣờng hội, để làm cơ sở che mắt
định, các tổ chức quần chúng cách mạng của Đảng cũng đã ra đời đƣợc khôi
phục và hoạt động. Đó là các phƣờng tƣơng tế ái hữu, ở Phƣợng Lịch có phƣờng
dệt vải và trồng dâu nuôi tằm ra đời và hoạt động tích cực. Đình Phƣợng Lịch là
trung tâm hoạt động của các phƣờng hội lúc bấy giờ.
trào cách mạng. Hƣởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ
Chí Minh, Đình Phƣợng Lịch là nơi diễn ra lễ tiễn đƣa các lớp trai làng lên
đƣờng đánh giặc cứu nƣớc giành độc lập tự do cho tổ quốc.
Tháng 8 năm 1947, công đoàn liên khu IV tổ chức đại hội và triển lãm
thành tích kháng chiến tại Đình Phƣợng Lịch trong thời gian 7 ngày an toàn và
thắng lợi, có cụ Hồ Tùng Mậu làm ủy ban khang chiến liên khu về dụ.
14
Tháng 12 năm 1948, đại hội liên hoan thanh niên tỉnh Nghệ An đƣợc tổ
chức tại Đình Phƣợng Lịch có thiếu tƣớng Nguyễn Sơn về dụ và nói chuyện với
đạ hội. Năm 1951- 1952 Đình Phƣợng Lịch là địa điểm của xƣởng dệt vải Tam
Hợp- Diễn Châu do ông Nguyễn Hữu Đóa phụ trách để cung ứng vải may mặc
cho bộ đội vệ quốc đoàn theo yêu cầu của kháng chiến. Để bƣớc vào đông xuân
năm 1951- 1952, năm 1951 sƣ đoàn 304 đã tổ chức sinh hoạt “ rèn quán luyện
quân” tại Đình Phƣợng Lịch, đồng chí đại tƣớng Võ Nguyên Giáp về thăm và
nói chuyện với sƣ đoàn.
Nhƣ vậy Đình Phƣợng Lịch là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng
của địa phƣơng và một số hoạt động của cơ quan. nhà nƣớc, gắn liền với 2 cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn. Hiện
nay Đình Phƣợng Lịch dùng làm nơi hội họp của thanh thiếu niên và tổ chức lễ
mừng thọ đầu xuân cho các vị cao niên trong làng.
1.2. Diễn trình lịch sử Đình Phƣợng Lịch.
1.2.1.Niên đại khởi dựng.
Là một ngôi đình ra đơi muộn, vào cuối thế kỷ XIX, mang kiến trúc nghệ
thuật thời Lý, đƣợc nhân dân đóng góp sức ngƣời, sức của xây dựng nên, vì thế
Đình Phƣơng Lịch mang nét riêng của kiến trúc của làng. Trải qua thời gian
tuong đối dài, hiên nay đình chỉ còn lại tòa đại đình duy nhất.Đình đƣợc xây
dựng vào năm 1866, đúng vào thời điểm kháng chiến chống thực dân Pháp diễn
ra ác liệt, vì thế nhân dân đã ý thức đƣợc việc bảo vệ ngôi đình cẩn thận, song
quân để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài chống quân Nguyên Mông của nhà Trần.
Hiện nay, mỗi khi nhân dân làm thủy lợi hay đào giếng, còn bắt gặp những thứ
binh khí nhƣ gƣơm, giáo, tiền cũ...
Riêng bà Hồng Thị Châu Nƣơng tại Giang Lâm, sau khi bà lập ấp xong, lại
dạy cho dân cách trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông, dệt vải. Sau cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông, bà trở lại Thăng Long. Khi bà qua đời,
dân làng nhớ ơn lập đền thờ đẻ tỏ lòng biết ơn ngƣời có công khai khẩn mở
mang làng xã của mình, đúng với đạo lý “ uống nƣớc nhớ nguồn ” của dân tộc
ta.
16
CHƢƠNG 2
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC- NGHỆ THUẬT ĐÌNH PHƢỢNG LỊCH
2.1. Giá trị kiến trúc
2.1.1. Không gian cảnh quan.
Đình Phƣợng Lịch đƣợc xây dựng trên vùng đất bằng phẳng, cao ráo, đẹp,
thoáng mát ở trung tâm Làng Phƣợng Lịch thuộc xã Diễn Hoa, huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An.
Dựa vào thuyết địa lý phong thủy mà cổ nhân đã chọn đƣợc vị trí xây dựng
đình ở giữa một quần cƣ rất trù mật, quanh đình có làng mạc, cây đa, chợ đình(
chợ hôm), giếng nƣớc. Cùng với nhiều kiến trúc cổ nhƣ là cổng làng, điếm canh,
nhà thánh, đền chùa. Nhƣng do tác động của thiên nhiên, chiến tranh, con ngƣời
các kiến trúc cổ quanh đình đã dần dần bị hƣ hỏng, chợ đình cũng phải di dời,
nay chỉ còn lại chùa thiên sơn cách đình 1000 m.
Hiện nay Đình Phƣợng Lịch nằm giữa một vùng đất rộng, bằng phẳng, bốn
bề tiếp giáp với dân cƣ và trung tâm văn hóa chính trị của xã.Quang cảnh nơi
đây thật thoáng đãng, mát mẻ. Nằm cách đình một trăm mét về phía tây nam là
trƣờng tiểu học, trƣờng trung học cơ sở và UBND xã diễn hoa.
của cổng nhỏ hơn cổng chính, ta sẽ bƣớc vào sân đình, đây là một khoảng đất
tƣơng đối chật. Tiếp đến là tòa đình nằm trên móng đình cách mặt sân đình
khoảng 0.3m, tƣơng đối vững chắc.
Bên trong ngôi đình đƣợc chia làm năm gian hai chái.Hiện nay trong đình
không có bất kỳ một hiện vật hay đồ thờ nào.Chỉ còn là khoảng không trống
vắng, đơn điệu.Thần thành hoàng đƣợc thờ ở đền nên hoạt động lễ hội hiện nay
hầu nhƣ không thấy diễn ra ở đình làng.Mặt bằng kiến trúc đơn giản nhƣng song
so với khung cảnh vẫn hài hòa. Tạo nên nét độc đáo của đình làng Phƣợng Lịch
nói riêng và những ngôi đình miền trung nói chung so với mặt bằng kiến trúc cả
nƣớc.
Về sân đình:
Sân đình dài 20m
Rộng 8m
18
Xung quanh xây tƣờng bao( tƣờng hoa) cao 0.8m, mặt sân lát gạch cẩm
trang. Hai góc ngoài của sân xây 2 cột trụ hình vuông cao 1.2m.
Nối đƣờng với sân là hai cột nanh hình vuông cao 3.7m phân thành 3
phần rõ rệt: thân cột, chân cột và đỉnh cột. Trên đình cột có đắp hai con ghê chầu
vào nhau. Chân cột xây dật cấp, thân cột tạo gờ, viết hai câu đối bằng chữ hán
mực đen có nội dung:
Câu 1: Mộc xuất thiên chi do hữu bản
Thủy lƣu vạn phái tố tùng nguyên
Tạm dịch:
Cây ra nghìn cành do từ nguồn gốc
Nƣớc chảy muôn nơi đều từ một nguồn
Câu 2: Lễ nhạc uy nghi kính nhƣ thần tại
Âu ca cổ vũ lạc tại nhân hòa
Tạm dịch:
dài 20m, rộng 7.3m) nhà quay về hƣớng nam, khung sƣờn đƣợc làm bằng gỗ
lim, kích thƣớc lớn, không xây tƣờng, móng nhà cao 0.3m đƣợc bó vỉa bằng đá
ong, một loại vật liệu xây dựng truyền thống của diễn châu. Nền nhà lát gạch
cẩm trang.
Tòa đại đình là loại kiến trúc duy nhất đƣợc giữ lại cho tới ngày nay. Bên
trong có các hàng cột đƣợc dựng rất kiên cố bẵng gỗ lim, trải qua các giai đoạn
lịch sử, chịu ảnh hƣởng của thiên nhiên nhƣng các chất liệu gỗ ở đây vẫn bền
chắc,tuy màu gỗ có sự thay đổi. Hai tòa tiền tế và hậu cung đã bị phá dỡ
2.1.3.3. Kết cấu kiến trúc
Tòa đình gồm 5 gian 6 vì, mỗi vì có 4 cột ( 2 cột cái, 2 cột quân ) đƣợc kê
trên tảng đá xanh hình vuông rộng 0,44m dày 0.18m, cột cái cao 4.4m, cột quân
cao 3.2m. Các cột liên kết ngang với nhau bằng hệ thống kèo, kẻ chuyền có
chạm trổ văng ( hạ ) và khấu đầu, tất cả đƣợc bào trơn, đóng khít, xàm thắt
mộng đuôi én tạo nên sự vững chắc.
20
Riêng hai vì ở giữa ( vì 3 và vì 4 ) trốn hai cột cái thay bằng hai trụ tròn kê
trên đấu hình vuông làm cho các gian 2,3,4 rộng rãi. Thuận tiện sử dụng nhất là
những khi tế lễ. Đồng thời xà dọc của các vì này có đầu dƣ chạm hình rồng chầu
vào nhau. Các vì đƣợc liên kết dọc với nhau bằng các đƣờng xà thƣợng, xà hạ
thƣợng lƣơng, hoành, khấu đầu, lá mái tạo thành bộ khung nhà 5 gian rộng rãi,
vững chắc. Nhà đƣợc rải rui bản bằng gỗ lim dày 0.02m, rộng 0,12m mái lợp
ngói dƣơng. Bốn góc nhà có xây cột trụ hình vuông rộng 0.33m, cao 1.8m để đỡ
bốn góc mái.trên bờ nóc có đắp hình lƣỡng long triều nguyệt, trên bốn đầu đao
của mái có đắp vuốt.
2.2. Giá trị nghệ thuật.
Đình Phƣợng Lịch là công trình văn hóa có quy mô lớn, kết cấu vững chắc,
kiểu dáng thấp đậm nhƣng vẫn thoáng đẹp, phù hợp với điều kiện khí hậu khắc
nhiệt của miền trung ( lắm mƣa nhiều nắng ) độ ẩm cao, gió bão lớn. Vì vậy trải
nhƣng đã hƣ hỏng mất mát hết. Hiện nay bài trí ở tòa đình rất đơn giản, chỉ có
một bức đại tự gắn trên xà bằng gỗ, hình cuốn nhƣ đƣợc sơn son thiếp vàng,
xung quanh có các họa tiết trang trí hình lƣỡng long triều nguyệt, tứ linh tứ quý
cham trổ công phu,ở giữa có khắc bốn chữ hán: “ phƣợng kỷ vạn niên ” nghĩa là
“chúc làng phƣợng kỷ sống vạn niên ”. Ở phía trên có ghi “ bảo đại nhâm ngọ
xuân ” nghĩa là mùa xuân năm nhâm ngọ thời bảo đại. Ở bên phải có ghi(
nguyên tổng Quang lộc hƣu khánh Phạm Hải nhi đại nghi). Nghĩa là ông Phạm
Hải quan về hƣu tƣớc tổng quang lộc cùng bản xã cung tiến. Ở bên trái có ghi: (
bản xã quần anh thổ đồng bái khánh) nghĩa là hội quần anh của xã này cúng bức
đại tự cho làng.
Bức hoành phi có khắc bốn chữ “ Phƣợng kỷ vạn niên ” đƣợc đặt ngay
chính giữa gian của tòa đại đình, ở độ cao tƣơng đối nhƣng cũng rất dễ quan sát,
nó giữ vai trò làm trung tâm cho gian đình
Các hiện vật khác nhƣ bát bửu, hƣơng án hiện nay không còn nữa, tòa hậu
cung đã bị phá dỡ nên việc thờ cúng đƣợc chuyển về đền. Hiện nay khi nhìn vào
ngôi đình ta cảm thấy không gian trống vắng, yên tĩnh đến lạ lùng. Chỉ khi tổ
chức các hoạt động lễ hội thì không khí trong ngôi đình mới nhộn nhịp, còn
ngay sau đó nó lại trở với cảnh tĩnh lặng vốn có, hằng ngày cũng không thấy
22
mấy ai ra vào. Chính vì các hiện vật trong đình không còn, các hoạt động thờ
cúng không diễn ra tại đây nên việc hiểu biết về gía trị văn hóa đình làng còn
hạn chế. Để khắc phục tình hình này thì chính quyền địa phƣơng và nhân dân
nên khôi phục lại những gì vốn có cho ngôi đình., trả lại kiến trúc xƣa cho nó.
2.2.1.2. Trang trí trên bờ nóc và bờ hồi của mái đình
Trên bờ nóc các nghệ nhân đã thể hiện hình tƣợng rồng chầu mặt trăng,
gồm những mảng phù điêu sinh động bằng chất liệu tổng hợp từ vôi vữa rồi
ghép mảnh sành sứ đập vỡ, các nghệ nhân đã tạo thành những con rồng có màu
sắc, thân hình to, khỏe với đầy đủ các bộ phận tạo thành những đƣờng cong
Những đề tài trang trí ở đây chỉ xoay quanh những mô típ nhƣ:
Tứ linh tứ quý, đây là đề tài trang trí chủ yếu của ngôi đình.Đặc biệt trên tất
cả các kẻ của tòa đình đều đƣợc chạm hai mặt( phải trái) với các đề tài thể hiện
xên kẽ nhau, rồng phƣợng vờn nhau, tùng lộc, phƣợng ngậm thƣ.
Hình tƣợng đầu dƣ chạm hình rồng chầu vào nhau, rồng đƣợc thể hiện đầy
đủ các chi tiết đầu, râu, bờm... tạo cho ta cảm giác nhƣ thấy rồng ẩn hiện trong
mây.
Các tấm gỗ bên trong ngôi đình cũng đƣợc chạm khắc rất công phu nhƣng
cũng rất hài hòa so với tổng thể kiến trúc của ngôi đình.Ở trên xà và kèo ngoài
hình ảnh tứ linh tứ quý ta con thấy chúng đƣợc trang trí bằng đề tài hoa lá khác
nhau,cách chạm khắc độc đáo khiến cho ngƣời xem quan sát đƣợc rất rõ.
2.2.2. Di vật
Trƣớc đây tại tòa hậu cung, trong các ngày tế lễ có bài trí đồ tế khí nhƣ:
Kiệu
Long ngai
Bài vị
Hƣơng án.
Các di vật này chủ yếu đƣợc làm bằng gỗ. Hiện nay, tại đình phƣợng lịch
chỉ giữ lại bức đại tự( nội dung nhƣ dã trình bày ở phần trên đây). Chính vì các
hoạt động thờ thành hoàng làng không còn diễn ra tại đình nên ngƣời ta cũng ít
để ý và quan tâm tới các di vật trong đó, thậm chí giờ đây khi hỏi về chúng thì
24
không mấy ai biết. Không biết vì lý do gì mà hiện này di vật và lễ hội thờ thành
hoàng làng bị lãng quên thay vào đó là các hoạt động văn hóa khác.
2.3. Lễ hội
Lễ hội diễn ra ở đình là hoạt động văn hóa nhằm tƣởng nhớ công lao của
thần Thành Hoàng Làng đối với dân địa phƣơng, bao gồm hai phần ( nghi lễ và