Di tích đình Hồi Quan- xã Tương giang-huyện Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
Mở đầu
I lý do chọn đề tài.
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một phương châm cần quán triệt trong
mọi hoạt động văn hoá trên đất nước ta hiện nay.Bản sắc văn hoá dân tộc mang
một nội dung ý nghĩa rộng rãi đó là một tổng thể đặc trưng những diện mạo về
tinh thần và vật chất, về lối sống ,phong tục tập quán , tôn giáo , tín ngưỡng, đạo
đức và tình cảm, văn học và nghệ thuật nó cũng biểu hiện trong các di sản vật
chất hữu thể như kiến trúc đình , chùa, miếu, mạo Hai phần hữu thể và vô thể
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 1
Khoá luận tốt nghiệp
đó gắn bó hữu cơ với nhau , khó có thể tách rời, đã tạo nên cái riêng biệt của dân
tộc ta trong trường kỳ lịch sử và tòn tại mãi đến ngày nay. Hiểu biết, nhận rõ,
giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong công cuộc hội nhập vào cộng đồng thế
giới ngày nay không phải là việc làm của riêng những nhà hoạt động văn hoá mà
là của mỗi người Việt Nam trên mọi lĩnh vực trong đời sống hàng ngày. Hiểu
biết về những ngôi đình đã được xây dựng từ bao đời nay trên đất nước ta cũng
chính là hiểu rõ thêm bản sắc dân tộc Việt Nam ta vậy.
Từ rất xa xưa, các mái đình cổ kính đã góp phần tô điểm cho làng quê
Việt Nam.Cây đa, bến nước, mái đình, mái chùa không tách rời trong tâm trí kỷ
niệm của mỗi người dân xa quê hương, nhớ tới nơi chôn rau cắt rốn, nhớ tới tổ
tiên, ông bà họ hàng làng xóm. Các ngôi đình tiềm Èn dưới dáng vẻ rêu phong
cổ kính Êy là một bảo tàng sống về kiến trúc, điêu khắc trang trí và cả phong tục
cổ truyền, tín ngưỡng , niềm tin của cả dân tộc Việt Nam. Những di tích Êy sẽ
trở lên có ý nghĩa lớn lao hơn nếu ta đi sâu vào nghiên cứu phân tích, bóc tách
lớp văn hoá chứa đựng trong đó để phần nào hiểu rõ hơn về cội nguồn văn hoá
dân tộc, để biết lựa chọn, khai thác cũng như bảo tồn, phát huy những tinh hoa,
cũng như những truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục, lấy đó làm nền tảng
xây dựng nền văn hiến Việt Nam vừa mang dư âm cổ truyền, vừa mang màu sắc

tích.
3.Sử dụng phương pháp điền dã khảo sát trực tiếp di tích để thu thập tài
liệu giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra.
V. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, khoá luận chia làm ba chương:
Chương I- Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích
Chương II- Giá trị kiến trúc- nghệ thuật và lễ hội đình Hồi Quan.
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 3
Khoá luận tốt nghiệp
Chương III-Bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích đình Hồi Quan
Ngoài ra , khoá luận còn có phần phụ lục ảnh minh hoạ
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi gặp không Ýt khó khăn, thứ
nhất là tài liệu viết về di tích hầu như không có, về lễ hội lại càng không, vì đây
chỉ là một hội làng. Song với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của
ban quản lý di tích đình hồi quan, cụ từ coi đình, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo Nguyễn Tiến cùng các thầy cô trong khoa Bảo Tồn- Bảo Tàng
trường Đại Học Văn Hoá Hà Nội, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của
mình.
Là một sinh viên năm thứ tư chưa được tiếp xúc nhiều với thực tế, vẫn
còn nhiều tri thức chưa được bổ sung nên không tránh khỏi thiếu xót. Kính
mong các thầy cô giáo, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu xem xét và tham gia
đóng góp ý kiến để khoá luận hoàn chỉnh và tiến bộ hơn.

CHƯƠNG I:
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH TỒN TẠI CỦA DI TÍCH

I . VÀI NÉT VỀ ĐỊA DANH VÀ CƯ DÂN NƠI DI TÍCH TỒN TẠI.
1.1.Lịch sử hình thành làng Hồi Quan.
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 4
Khoá luận tốt nghiệp

Thủa các anh hùng dựng nước, Hồi Quan thuộc bộ Vũ Ninh, quê hương
của người anh hùng làng Gióng. Khi bước vào chính sử, lnàg Hồi Quan nằm gần
với Cổ Loa, kinh đô của Thục An Dương Vương về phía đông bắc.
Theo sách Địa lý hành chính kinh bắc của Nguyễn Văn Huyên thì làng
Hồi Quan có tên thường gọi là Hồi Trang ; còn dân gian vùng này vẫn gọi là Hồi
Lan Trang, theo thần phả thì làng còn có tên là Hồi Quân.
Cuối thời Lê , đầu thời Nguyễn, theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế
kỷ XIX, làng ( cũng là xã ) Hồi Quan thuộc tổng Mẫn xá, huyện Yên Phong, phủ
Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Đầu thế kỷ XX, tổng Mẫn xá được chia thành hai tổng
là : Quang Phong và Ân Phú. Hồi Quan thuộc tổng Ân Phú, huyện Yên Phong,
phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1946 – 1954 ), Hồi Quan là một
thôn nằm trong liên xã Nhật Tân, gồm các xã cũ : Tam Tảo, Hồi Quan, Đông
Phù, Vĩnh Phục và Yên Phú, huyện Yên Phong. Sau cải cách ruộng đất ( 1955 –
1957 ), Hồi Quan được nhập vào xã Tương Giang gồm làng Hồi Quan và năm
làng Tiêu ( Tiêu long, Tiêu Thượng, Tiêu Sơn, Tiêu Hương Phúc và Tiêu Tạ
Xá ).
Tháng 4 – 1963, xã Tương Giang được cắt chuyển về huyện Tiên sơn
( nay gồm hai huyện là Từ Sơn và Tiên Du ), tỉnh Hà Bắc, từ đầu năm 1997 đổi
tên là tỉnh Bắc Ninh.
1.2. Đời sống dân cư.
Căn cứ vào các bi ký còn lưu tại chùa và đình thì từ cuối thế kỷ XII, đầu
thế kỷ XVIII, Hồi Quan đã trở thành làng đông đúc, cơ cấu tổ chức ổn định với
bốn giáp; đời sống dân làng tương đối khá giả với nghề trồng lúa và canh cửi’
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 6
Khoá luận tốt nghiệp
nên dân làng đã dựng được chùa (năm Giáp Tuất , niên hiệu Chính Hoà- 1694)
và đình (năm Giáp Ngọ, niên hiệu Vĩnh Thịnh- 1714).
Cho đến sát Cách Mạng Tháng Tám, Hồi Quan là một làng thuộc diện
trung bình về mặt dân số trên vùng đồng bằng Bắc Bộ với xấp xỉ 1000 dân. Đến

một con đường thẳng tựa như cột buồm. Phía bên phải “cột buồm” là “cánh
buồm” . “Cánh buồm” là một khu đất rộng chừng 50 ha, ngày nay dân làng gọi
khu đất này là cánh đồng dù ( bà con Hồi Quan cho biết theo cách hiểu của họ
thì Dù cũng có nghĩa là buồm)
Ngoài ra, phía cuối làng còn có khu đất mà dân gian gọi là “Nấm Mả Từ”-
dân làng cho rằng đây chính là bánh lái của con thuyền.
Ngoài việc ở cốt đất lấp đồng Hồi Quan còn chịu tác động của nước lũ
sông Ngũ Huyện Khê, nên thường xuyên bị úng lụt. Điều kiện thiên nhiên Êy đã
quy định diện mạo cơ bản của làng về phương diện kinh tế như phân định của
các nhà dân tộc học là làng chiêm trũng, nghĩa là phần lớn diện tích đồng ruộng
chỉ cấy được một vụ chiêm, còn vụ mùa như lòng chảo nước, chỉ có khoảng trên
dưới 30 mẫu cấy được. Các giống lúa cấy ở đây là Canh nông, Sai đường(lúa tẻ)
và nếp dợ, nếp vằn , nếp lấp, nếp cái hoa vàng(lúa nếp). Đặc điểm của đồng
chiêm đã làm cho việc canh tác ở đây mang tính đặc thù rõ rệt: đi cày, đi bừa
phải cắm vè, đi cấy phải dùng thuyền. Điều kiện đồng ruộng bất lợi, kỹ huật
canh tác lạc hậu làm cho năng suất lúa ở đây rất thấp, nơi cao nhất chỉ khoảng
60-70kg một sào( số diện tích này rất Ýt), còn đa số chỉ từ 30-40kg một sào , nói
theo ngôn ngữ của người làng là “một sào ruộng không được một gánh
thóc”.Như vậy cũng như nhiều làng quê trên vùng châu thổ Bắc Bộ, nghề trồng
lúa ở đây không đảm bảo những yêu cầu cơ bản của đời sống con người. Do vậy
dân làng phải tìm một lối thoát khác, đó là nghề dệt.
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 8
Khoá luận tốt nghiệp
Cho tới nay không một cụ già nào trong làng biết được nghề dệt ở đây có từ
bao giờ và do ai truyền dạy. chỉ biết rằng, đã từ lâu lắm, người làng Hồi Quan
rất thạo nghề canh cửi: trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, hầu như nhà
nào cũng chỉ có một khung dệt, một số gia đình có tới 4-5 khung, phải thuê thợ
ở các nơi khác đến làm một số công đoạn như quay ống, dệt. Sản phẩm chính
của nghề dệt Hồi Quan là vải khổ hẹp(40cm), vải màn, đũi Với nghề dệt, làng
xóm Hồi Quan xưa quanh năm nhộn nhịp, rộn lên tiếng thoi đưa lách cách, chỉ

số hộ có ti vi ( chủ yếu là ti vi màu), gần 300 xe máy các loại. Đường làng được
bê tông hoá hay gạch hoá.

1.3. Truyền thống văn hoá.
Hồi Quan là một làng nằm trong vùng đồng bằng xứ Kinh Bắc, có dòng
Tiêu Tương thơ mộng chảy qua. Sách Đại nam nhất thống chí chép :
“ Sông Tiêu Tương phát nguyên từ cái đầm lớn xã Phù Lưu huyện
Đông Ngàn chảy từ phía Tây sang Đông Bắc chảy qua xã Tiêu Sơn huyện Yên
Phong, chuyển sang địa phận hai huyện Tiên Du và Quế Dương vào sông Thiên
Đức. Nay sông này có đoạn đắp thành đường Quan, có đoạn bồi thành ruộng,
gián hoặc vẫn còn đoạn sâu “ (15 : 79 ). Sông Tiêu Tương đã đi vào dĩ vãng từ
gần trăm năm nay, nhưng đi trên những đoạn sông nay đã thành ruộng , thành
đường của xã Tương Giang, ta nghe như vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng sáo
của chàng Trương Chi, gợi lại câu chuyện về mối tình hận giữa chàng với nàng
Mỵ Nương qua câu ca ai oán :

Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 10
Khoá luận tốt nghiệp
Tiếng sáo Êy và câu ca ai oán Êy còn gợi lên một quá trình các lớp cư
dân Việt cổ tụ cư và khai phá từ rất sớm vùng đất trũng bên bờ sông Tiêu
Tương, trong lưu vực dòng sông Cầu, sông Đuống và sông Ngũ Huyện Khê.
Bên cạnh dòng sông Tiêu Tương còn có một ngọn núi đột khởi giữa vùng đồng
bằng bao quát cả một vùng rộng lớn với tên gọi là Núi Tiêu ( nơi có ngôi chùa
Tiêu cổ kính ). Dưới chân núi Tiêu là các làng Tiêu : Tiêu Long, Tiêu Thượng,
Tiêu Sơn, Tiêu Hương Phúc, và Tiêu Tạ xá, hợp với làng Hồi Quan thành xã
Tương Giang.
Cùng với truyền thuyết về chàng Trương Chi và nàng Mỵ Nương, còn có
truyền thuyết về đức thánh Tam Quang ( được đông các đại học sỹ Nguyễn Bính

để phá long mạch. Chính vì bút thần của Cao Biền chấm xuống đấy mà đã trở
thành giếng làng Hồi vừa trong vừa mát.
Các truyền thuyết Êy đã chứng minh tính chất cổ xưa của làng Hồi Quan :
Được hình thành từ quá trình dựng nước từ thuở các vua Hùng. Điều Êy
cũng đã được khẳng định bằng di tích khảo cổ học ở quanh làng Hồi Quan. Đó
là di chỉ Bãi Tự ở thôn Tiêu long với công xưởng chế tạo đồ đá, có niên đại
tương ứng với di chỉ Tràng Kênh ở Hải Phòng. Tại làng Tam Sơn liền kề với
làng Hồi Quan, trên ngọn núi Vường và nhiều nơi trong làng, vào những năm
1971 – 1974, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy vết tích của hai lư gốm cổ, dấu
vết của khu cư trú và mộ táng thời Hán, có gạch xây mộ hình lưỡi búa, mảnh
gốm có văn thừng in ô vuông, ô trám và đồ bán sứ.
Như vậy, cùng với các làng xã trong vùng, Hồi Quan được hình thành
cùng với quá trình dựng nước đầu tiên của dân tộc.
1.4. Truyền thống cách mạng.
Đình Hồi Quan được xây dựng từ năm Vĩnh Thịnh thập nhất niên ( Êt
mùi ) tức năm 1715. Từ đó đến nay đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 12
Khoá luận tốt nghiệp
trọng. Trải qua bao nhiêu năm tháng, bao lần thiên tai địch hoạ, nhưng nó vẫn
đứng uy nghi trầm mặc trênnền đất cũ làng xưa, Đặc biệt là đình Hồi quan nằm
ở vị trí phía bắc, cách kinh đô Thăng Long không xa và kề sát đường quốc lộ
như vậy, nhưng thời kỳ chế độ phong kiến suy tàn, chiến tranh xảy ra liên tiếp,
song nó vẫn vững vàng tồn tại.
Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, đô hộ nước ta, đặc biệt là trong những
năm kháng chiến chống Pháp, nhiều sự kiện lớn đã diễn ra ở ngôi đình cổ kính
và làng quê thân yêu này.
Năm 1948, tỉnh đội bắc Ninh đã họp bàn những vấn đề quan trọng chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến đi vào giai đoạn gay go quyết liệt. Trong những năm
kháng chiến, đình làng Hồi Quan là cơ sở vững chắc tạo điều kiện cho cuộc đấu
tranh cả về quân sự và chính trị. Đáng ghi nhớ là trận chống càn lớn đã diễn ra

quân ở các đồn bốt xung quanh có tới hàng trăm tên, chia làm hai mũi thành thế
gọng kìm tấn công vào làng Hồi Quan.
1. Đường cầu cỏ thôn Hương Phúc ( mũi chủ yếu ).
2. Đường đồng Tràng Tiêu Thượng ( mũi phô ).
Mở đầu cho cuộc tấn công này, khoảng 8 giờ sáng, khi những tia nắng
xuân Êm áp vừa chiếu xuống, địch đã dồn dập bắn hàng trăm quả đạn đại bác
105 vào làng để uy hiếp tinh thần quân dân ta, sau đó mới ào ạt xua quân dàn
hàng ngang khoảng 300 đến 400 tên lính Lê dương – chủ yếu là lính Âu Phi tấn
công vào làng.
Ta vẫn bình tĩnh chờ địch đến gần, cách trận địa khoảng 50m mới đồng
loạt nhất tề nổ súng. Bị đánh bất ngờ lại gặp hoả lực mạnh, đường đạn căng nên
địch bị đổ gãy ngã hàng loạt, nhiều tên địch đã chết và bị thương, số sống sót
hoảng sợ quay đầu bỏ chạy tán loạn trên các thửa ruộng mạ chiêm toé nước
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 14
Khoá luận tốt nghiệp
trắng xoá. Ta áp đảo địch bằng các tiếng thét xung phong ầm ĩ làm cho bọn địch
càng thêm hoảng sợ.
Lần thứ nhất địch tấn công vào làng xã đã hoàn toàn bị bẻ gãy. Khi trận
chiến đấu quyết liệt của bộ đội ta cùng phối hợp với lực lượng dân quân du kích
trong thôn thì cũng là lúc dân quân làng Hồi tập trung đông nhất trước cửa đình
mà phía trước đình lại là mũi tấn công chính của kẻ địch.
Trước tình hình phức tạp Êy, sau khi hội ý chớp nhoáng trong ban chỉ huy,
ta nhận định nếu để nhân dân chạy đi phía sau làng thì sẽ bị máy bay địch bắn
vào. Cũng nhờ vây mà những tên địch còn sống, hoảng sợ đang nằm úp mặt, nép
xuống vệ đường lóp ngóp đứng lên rút chạy về phía đường 1.
Sau thất bại lần một, suốt từ 8 giờ sáng đến 2 giờ chiều, địch củng cố lại
lực lượng liên tiếp mở 4 đợt tấn công vào làng nhưng hoàn toàn bị quân ta đánh
bật ra, chúng phải bỏ lại nhiều xác chết.
Trước sức mạnh kiên cường, tinh thần anh dũng của bộ đội ta, qua bốn đợt
tấn công nhưng không vào làng được, địch phải ngừng lại, chúng tập hợp ,bổ

đẹp tên là Tạ Diên Nương, nàng vốn sùng mộ đạo phật, nàng thường đi thăm thú
các vùng danh lam thắng cảnh trong vùng. Một hôm đi tới huyện Yên Phong,
xưa gọi là Phú An, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc ( xưa gọi là Vũ Ninh ), lúc tới
đầu làng Hồi Quan ( lóc Êy gọi là Hồi Lan ), nàng thấy một ngôi chùa tên gọi là
Sùng Ân và xung quanh ngôi chùa có vẻ đẹp lạ thường, nàng đã tự nguyện ở lại
ngôi chùa này để sớm tối đèn nhang, hương khói và sau này bà chính là thân
mẫu của đức thánh Tam Quang ( vị thành hoàng của làng ).
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 16
Khoá luận tốt nghiệp
Ghi nhớ công ơn của bà, dân làng Hồi Quan đã không quên hương khói
cho bà theo lệ làng vào ngày mất của bà, tức ngày mùng một tháng giêng hàng
năm.
Vào cuối thế kỷ XII, dân làng dựng lại chùa, theo bia “ Sùng Ân tân tạo
phật tự bi “ lập ngày tốt tháng hai năm Giáp Tuất, niên hiệu Chính Hoà 15
( 1694 ) thì chùa được xây mới hoàn thành vào tháng ba năm Quý Dậu ( 1693 ).
Người đứng ra hưng công dựng chùa mới là pháp tăng Nguyễn Quang Minh, trụ
trì ở chùa.
Về quy mô kiến trúc, ngôi chùa khá bề thế và cổ kính, bố cục theo kiểu nội
công ngoại quốc, gồm có tam bảo, nhà tiền tế, nhà tổ, nhà khách, trên một diện
tích chừng 500 ha. Bộ vì nóc hiện trạng đơn giản theo kiến trúc Nguyễn. Đề tài
trang trí chùa gồm có các hình rồng, hoa lá, sư tử và tiên phật. Trong chùa có 57
pho tượng tròn, đó là những pho tượng thường thấy trong hệ thống các pho
tượng phật của nhiều chùa khác trong vùng, chẳng hạn như các pho Tam Thế,
Di Đà Tam Tôn, Di Lặc, Thánh Tăng, Trừng ác, Khuyến Thiện chùa có một
quả chuông đồng Sùng Ân Bảo Chung loại lớn với bán kính 60cm, cao 1,2m.
Chuông được đúc vào tháng 12 năm Canh Thân niên hiệu Cảnh Thịnh ( 1800 ).
Điều đáng lưu ý là chữ “Thịnh “ không bị đục. Ngoài ra còn có cây hương đá
lập năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà ( 1697 ).
Về các ngôi mỉếu cổ của làng , theo các già làng kể lại, xưa có cả thảy bốn
ngôi miếu. Các ngôi miếu này trấn giữ ở bốn hướng của làng : Đông, Tây, Nam,

- đó là sự tham gia tích cực, đông đảo của nữ giới trong cuộc chiến đấu trực tiếp
với quân thù. Nhưng ỏ đây, tại đình Hồi Quan, cũng như một số di tích khác ở
làng xã vùng này như đình Cẩm Giang, đền Cẩm Thụ có đặc điểm khác biệt
là các di tích đó lại là nơi thờ phụng, tưởng niệm những danh tướng của Hai Bà
Trưng, là nam giới. Đình Cẩm Giang thờ ông Pháp Hải Đại Vương, đền Cẩm
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 18
Khoá luận tốt nghiệp
Thụ thờ Quảng Khánh Đại Vương , và đình Hồi Quan thê Tam Quang Đại
Vương - được tôn lên làm thành hoàng của làng.
Truyền thuyết về vị thành hoàng của làng, theo bản sự tích chính bản về
đức thánh Tam Quang được dịch từ tiếnh Hán ra tiếng Việt như sau :
( Bản ghi chép sự tích một vị đại vương triều Trưng Nữ Vương- trong sách
Cấn Chi, bé trung đẳng – bản chính của bộ Lễ quốc triều ).
Ngày xưa, vua Hùng khởi vận giang sơn thánh tổ, xây dựng cơ đồ hơn hai
mươi năm. Vua Hùng dựng nước, non xanh ngàn dặm, xây dựng nên cung điện,
kinh đô, một dải non sông xanh biếc.
Mở đạo thánh đế minh vương, cứu nhân độ vật, thống lĩnh mười lăm bộ,
gọi Bách việt là tổ đầu tiên. Về sau đổi thành Hùng Gia. Ngày Êy bách thần
sông núi thường hay xuất thế đầu thai thành người đi giúp nước cứu dân, nhà
nào có phúc sẽ gặp may mắn này.
Lại nói cơ đồ của nhà Hùng truyền tới đời thứ mười tám là hết, ý trời cáo
chung. Trải đến giữa thời Tây Đông Hán, ở vùng Long Biên thuộc nước ta, có
người con gái họ Tạ tên gọi Diên Nương, tuổi tròn mười tám, má phấn môi son,
dáng dấp yểu điệu, mắt long lanh tựa sóng mùa thu, quả là mười phần xinh đẹp.
Thế nhưng, duyên lành chưa định được nơi chốn, nàng tình nguyện ở vậy
và sùng mộ đạo phật.
Rồi nàng đi thăm các nơi danh lam thắng cảnh. Một hôm đi tới huyện
An Phong ( xưa gọi là Phú Ân ), phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc ( xưa gọi là Vũ
Ninh ); lúc đến đầu trang Hồi Quan ( xưa gọi Hồi Lan ), nàng thấy một ngôi
chùa tên gọi Sùng Ân Tự.

khấn rằng: “ Trời sinh ra nhười làm chủ vạn vật trong trời đất, sinh linh có tông
thống, cỏ cây có sinh sôi. Trải qua các đời đế vương trước, thiên tử thánh minh,
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 20
Khoá luận tốt nghiệp
triều đình có đạo, quý dân yêu nước, đức hoá khắp nơi, thiên hạ thanh bình, đất
nước vô sự. Nay có người khác họ là bọn chó dê Tô Định, ngông cuồng bạo
ngược, tàn sát dân lành, khiến cho thần người trời đất đều vô cùng căm phẫn.
Thiếp tôi là cháu gái Vua Hùng xưa, mỗi khi nhắc tới việc các sinh linh
bị sát hại, không khỏi bùi ngùi rơi lệ. Nay đau lòng thương đàn con đó, những
mong lấy nghĩa trừ tàn, nguyện cùng các vị tôn thần linh thiêng hội họp ở đàn tế
này, xinchứng giám và thề nguyền giúp sức cứu thiếp; Trưng nữ này đem quân
đi đánh giặc giúp nước cứu dân, xin hãy cùng thiếp khôi phục lại cơ đồ của tổ
tông, đưa nhân dân tới nơi yên ổn, cưú sinh linh khỏi cảnh lầm than, để không
phụ ý trời, thoả vong linh của vua cha nơi đền miếu, làm yên lòng tổ tiên nơi
suối vàng.”
Khấn xong bà hô âm binh trùng trùng điệp điệp theo đi đánh giặc. Bà lại
truyền hịch tới các đạo châu huyện ở Nam Bang, ở đâu có tướng tài văn võ và
đức độ hơn người, những anh hùng xuất thế có thể đánh tan giặc, hãy mau đem
binh lính phiên thần đi dẹp giặc.
Sau khi nghe lời hịch kêu gọi diệt thù của Bà Trưng, ngài Tam Quang
liền chiêu tập anh hùng hào kiệt khắp vùng, chiêu mộ quân sĩ được hàng vạn
người. Lại mổ lợn , giết trâu, lập đàn cúng tế trời đất, thần linh, rồi khao thưởng
quân sĩ của bản trang. các vị phụ lãi và nhân dân trang Hồi Quan hết sức sợ hãi.
Khi nghe ngài Tam Quang nói :” mẹ ta trước kia có nói ta vốn là thần linh
ở đây, dân trang các người phải thờ cúng ta các ngày sinh và hoá; mai đây, ta đi
đánh giặc lập công, diệt trừ bọn giặc cướp nước, ta chẳng phải như quân giặc
cướp nước kia, các ngươi chớ cã lo sợ; nghe ngài nói xong thì nhân dân phụ lão
trang Hồi Quan đều vô cùng vui mừng, làm lễ xin được theo làm thần tử của
người. Người ưng thuận cho hai mươi lăm người dân trang khoẻ mạnh làm gia
thần thủ túc.

Khoá luận tốt nghiệp
Hôm sau đó, ông trở về nhiệm sở An Phong. Không ngờ bị quân Hán
đuổi theo. Ông nói với mọi người rằng :” Quân giặc Hán mạnh, khó mà địch
nổi ” và bèn sai quân ra đóng chặt cửa ải không cho chúng vào. Tướng quân
nhà Hán vô cùng căm giận, cho quân tiến thẳng vào.
Đêm hôm ấy,chúng tiến đến đất Trong- Vi, ông phá vòng vây, cưỡi
ngựa lên núi, rồi biến mất ( đêm Êy là vào ngày 15 tháng 11 ).
Sau khi ông qua đời, nhân dân làng Hồi Quan làm lễ cúng tế, rước thần
hiệu và xây đền thờ ông.
Sau này tới thời vua Lê Đại Hành, vào năm Thiên Phúc ( 980 ) có làm
lễ khảo khoá các vị thần đã linh ứng giúp nước để tặng thưởng thêm. Và nhà vua
đã phong cho ngài Tam Quang là :” Thần thành hoàng linh phù “ của vùng này.
Sắc phong ghi nguyên chữ “ Bản cảnh thành hoàng linh phù chi thần “.
- Phong ngài là đại vương Tam Quang.
- Trong khi làm lễ, các loại sắc phục nhất thiết bị cấm là màu hồng,
màu tím ( cho phép trang Hồi Quan được làm hộ nhi – tức được miễn sưu dịch
cho nhà nước vì đã có công thờ cúng thần - để thờ cúng ngài ).
Từ đó về sau, ngài lại càng tỏ rõ sự linh ứng của mình, nên các đế vương
đời sau đều tặng thêm mỹ tự cho ngài.
Đời vua Trần Thái Tông, khi giặc Nguyên kéo quân sang xâm lược nước
ta, kinh thành bị vây hãm, Trần Quốc Tuấn nhận lệnh đi cầu đảo ở đền thờ ngài
thì được ngài hiển ứng, âm phù theo đi đánh giặc, dẹp được tương quân Ô Mã
Nhi.
Sau đó vua Thái Tông khen thưởng cho ngài mỹ tự là :” Uy dũng, Hộ
quốc, Tế thế, An dân, Phù vận, Dương vũ, Bản cảnh, Hiển từ, Tích chỉ, Ngưng
hưu “.
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 23
Khoá luận tốt nghiệp
Đến đời vua Lê Thái Tổ khởi binh dẹp giặc Minh, chém đầu Liễu
Thăng, đất nước thái bình, vua Thái Tổ lại tặng cho ngài sắc chỉ là :” Phổ tế,

cũ đã bị hư hỏng.
Những quả cau và lá trầu bằng vàng Êy về sau được làm mô hình bằng
giấy bạc để thờ, nay vẫn còn ở đình Hồi Quan. Từ đấy dân hai làng kết nghĩa
anh em, ngày mùng bảy tháng hai hàng năm, khi làng Hồi Quan mở hội, dân
làng Diềm vẫn ra theo lễ. Nhớ công lao của Bà Thường, dân làng tôn bà là “ Tá
phụ hoàng hậu “, lập bài vị trong cung, cạnh bài vị thành hoàng. Phần mộ của bà
được dân làng mai táng ngay trước cửa tam quan chùa làng. Đây là hiện tượng
Ýt thấy trong việc thờ cúng ở làng xã.
2. Đình Hồi Quan qua các thời kỳ lịch sử.
Di tích được hình thành và tồn tại là do chính bàn tay cũng như tâm thức
của con người, sự hình thành và tồn tại của di tích song song với sự phát triển
của lịch sử làng xã. Theo GS Hà Văn Tấn :” mặc dù còn thiếu chứng cứ, ta tin
rằng Đình – ngôi nhà chung của làng xã đã xuất hiện từ lâu đời, nếu không phải
thời tiền sử thì cũng thời sơ sử của dân tộc, tất nhiên là thời đó, chưa được gọi là
đình, mội từ vay mượn của Trung Hoa. Tuy nhiên, để xác định rõ thời điểm khởi
dựng của một di tích hoàn toàn không phải việc dễ dàng”
Ngày nay, trên đất nước ta, có biết bao nhiêu nững công trình văn hoá,
hàng vạn những di sản về lịch sử đánh giặc giữ nước – về kiến trúc, điêu khắc,
nghệ thuật, về danh lam thắng cảnh đã và đang được nhà nước và nhân dân ta
bảo vệ, giữ gìn nhằm phát huy những truyền thống cao đẹp đó để khuấy động,
khơi dậy tình yêu quê hương “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ trẻ mai
Ngô Thị Thanh Tâm: BT 20B 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status