tài liệu tham khảo lý luận của c mác –ph ăngghen về chuyên chính vô sản trong tác phẩm tuyên ngôn của đảng cộng sản và ý nghĩa của nó đối với cách mạng việt nam - Pdf 41

Lý luận của C.Mác –Ph. Ăngghen về chuyên
chính vô sản trong tác phẩm "Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản" và ý nghĩa của nó
đối với cách mạng Việt Nam


Cách đây gần 170 năm, tháng 2 năm 1848, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” –
do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo – ra đời là một sự kiện trọng đại trong lịch sử.
Với việc công bố tác phẩm được thừa nhận là một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo
lý luận của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, là “ khúc ca tuyệt tác của chủ nghĩa
Mác”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại cho giai cấp vô sản cách mạng toàn thế giới
và chính đảng của nó một Cương lĩnh “ có đầy đủ chi tiết, vừa về mặt lý luận, vừa về
mặt thực tiễn”[1;127]
Với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã hoàn
thành về có bản quá trình chuyển biến từ không tưởng thành khoa học.Từ đó, phong
trào cách mạng vô sản có lý luận tiền phong và cương lĩnh cách mạng soi đường,
chuyển từ tự phát sang tự giác. Đúng như C. Mác và Ph. Ăng-ghen khẳng định
trong Tuyên ngôn: "Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều
là tất yếu như nhau"[1;127]
Trải qua bao biến cố và thăng trầm lịch sử, mặc dù các thế lực thù địch, phản
động, chủ nghĩa cơ hội và xét lại luôn cấu kết với nhau tìm mọi cách chống phá, phủ
nhận, nhưng tính đúng đắn và khoa học của các nguyên lý cơ bản trong “Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản” vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Khi bàn về giá tri của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Lê nin viết: “Cuốn sách nhỏ
ấy, có giá trị bằng hàng bộ sách; tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy
toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản xuất hiện đánh dấu mốc ra đời của chủ nghĩa
cộng sản khoa học. Tuyên ngôn là tiếng chuông thức tỉnh giai cấp vô sản, quần chúng
cần lao bị đọa đầy đau khổ vùng dậy đấu tranh để giành quyền sống, quyền được làm
người, là ngọn đèn pha soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động, là tiếng kèn xung trận của giai cấp vô sản tấn công vào

Ăng ghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”- Tạp chí Phát triển nhân lực (số 12008); Tạ Ngọc Tấn: “Từ tư tưởng giải phóng con người trong Tuyên ngôn của Đảng

3


Cộng sản đến mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” – Tạp chí Cộng
sản số 784(2 – 2008); GS. Nguyến Đức Bình: “Sống mãi tư tưởng vĩ đại của Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” – Tạp chí Lý luận Chính trị (1- 2008); Ths. Trần Thị Kim
Cúc: Góp phần nghiên cứu giá trị và sức sống trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
– Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008…
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CỦA C.MÁC – PH. ĂNGGHEN VỀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN
TRONG TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
1.1 Khái quát về tác giả và tác phẩm
1.1.1 Tiểu sử C. Mác – Ph.Ăngghen
1.1.1.1 Các Mác (5/5/1818 – 14/3/1883)
Các Mác sinh ngày mồng 5 tháng 5 năm 1818 ở Tơ-ri-vơ thuộc nước Phổ. Cha
của Mác là luật sư. Sau khi tốt nghiệp trung học, Mác vào học đại học tổng hợp ở
Bon, rồi sau đó học ở trường đại học tổng hợp Béc-lanh. Mác học luật, lịch sử và triết
học. Tháng 10 năm 1842, Mác trở thành chủ bút của Báo Rê-na-ri của giai cấp tư sản
cấp tiến ở Đức hồi ấy. Trong các bài báo, Mác đã phê phán các chính phủ đương thời
ở Đức, Anh, Pháp và bênh vực quyền lợi của nông dân, phát biểu những tư tưởng triết
học của mình.Thời kỳ này, Mác đang chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa
duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản.
Tháng 6-1843, Mác kết hôn với Gienni Phôn Vextơphalen, người bạn gái hồi nhỏ
của mình. Tháng 10-1843, Mác đến ở Pa-ri, thủ đô nước Pháp, tiếp tục viết báo.
Tháng 9-1844, Mác gặp Ăng-ghen ở Pa-ri. Tình bạn vĩ đại và cuộc đấu tranh chung
của hai người cho sự nghiệp của giai cấp công nhân bắt đầu từ đấy. Mác và Ăng-ghen
tích cực tham gia sinh hoạt với các nhóm cách mạng ở Pa-ri, hai ông đấu tranh quyết
liệt chống mọi thứ học thuyết của chủ nghĩa xã hội tư sản và tiểu tư sản và đã sáng lập


5


1864, ở Luân-đôn thành lập Hội liên hiệp quốc tế những người lao động, tức Quốc tế
thứ nhất. Mác là người cổ vũ và lãnh đạo chủ chốt của Quốc tế thứ nhất. Mác đấu
tranh chống các thứ chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân, chống bọn vô chính
phủ và định ra sách lược cách mạng cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân.
Cuộc đời chiến đấu quyết liệt và không mệt mỏi chống mọi kẻ thù của giai cấp
vô sản, chống lại các thứ trào lưu tư tưởng không vô sản và chống vô sản, sự làm việc
rất khẩn trương mà công tác lý luận đòi hỏi, sự nghèo khổ của cuộc sống lưu vong
cộng với bệnh tật và những đau thương trong gia đình làm cho sức khỏe của Mác
ngày càng suy yếu. Ngày 2 tháng 12 năm 1881, Gienni mất. Đến ngày 14 tháng 3 năm
1883, Mác yên giấc nghìn thu trên chiếc ghế bành, trước bàn làm việc. Trong bức thư
báo tin buồn cho bạn, Ăng-ghen viết: "Thế là cái trí tuệ mạnh mẽ nhất của Đảng ta đã
ngừng suy nghĩ, trái tim mạnh mẽ nhất mà tôi chưa từng thấy đã ngừng đập mất rồi".
Và khi đọc điếu văn trước mộ Mác, Ăng-ghen nói: "Con người ấy mất đi, thật không
sao có thể lường cho hết tổn thất đối với giai cấp vô sản chiến đấu của châu Âu và
châu Mỹ, tổn thất đối với khoa học lịch sử. Không bao lâu, chúng ta sẽ cảm thấy nỗi
trống trải sau cái chết của bậc vĩ nhân ấy".
Ca ngợi tình bạn vĩ đại, mối quan hệ khăng khít, bền lâu giữa Mác với Ăng-ghen,
Lê-nin viết: "Chuyện cổ kể lại những tấm gương rất cảm động về tình bạn. Nhưng
giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình đã do hai nhà bác học và
chiến sĩ ấy sáng tạo ra, những quan hệ cá nhân giữa hai người đã vượt tất cả những
chuyện cổ cảm động nhất của người xưa nói về tình bạn" (Mác - Ăng-ghen, chủ nghĩa
Mác). Từ lúc còn trẻ, hai người đã có sự thống nhất chặt chẽ về tư tưởng và tình cảm,
thường cùng làm việc với nhau mỗi khi ở gần nhau. Sau khi cuộc cách mạng 1848 ở
Đức bị thất bại, Ăng-ghen phải đến làm việc ở Mansextơ, một thành phố công nghiệp
của Anh lấy tiền giúp đỡ gia đình Mác. Còn Mác thì ở Luân-đôn. Trong ngót hai
mươi năm trời xa nhau, mỗi ngày hai người đều viết cho nhau những ý nghĩ của mình


7


Ph.Ăng-ghen sinh ngày 28-11-1820 tại Bác-men, tỉnh Ranh của Vương quốc Phổ
(thuộc nước Đức ngày nay). Tuy xuất thân từ một gia đình tầng lớp trên, thuộc giai
cấp tư sản, nhưng Ph.Ăngghen đã dành tất cả con tim, khối óc, tình cảm và trí tuệ cho
giai cấp vô sản, hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai
cấp công nhân, nhằm mục tiêu, lý tưởng cao đẹp là giải phóng giai cấp công nhân,
giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi ách áp bức, bóc lột.. Từ nhỏ Ph. Ăngghen đã
bộc lộ tính cách độc lập. Những lời dạy nghiêm khắc của cha và những sự đe dọa
trừng phạt không làm ông đi đến chỗ phải phục tùng mù quáng. Cho đến năm 14 tuổi,
Ph.Ăngghen học trường tại thành phố Barmen. Ph. Ăngghen sớm bộc lộ năng khiếu
về ngoại ngữ. Tháng 10/1834 ông chuyến sang học ở trường trung học Elberfelder,
một trường tốt nhất ở Phổ lúc bấy giờ. Năm 1837 theo yêu cầu của bố, ông buộc phải
rời bỏ trường trung học khi chưa tốt nghiệp để bắt đầu công việc buôn bán ở văn
phòng của bố ông. Trong thời gian này ông tự học các ngành sử học, triết học, văn
học, ngôn ngữ và thơ ca.
Tháng 6/1838 Ph. Ăngghen đến làm việc văn phòng thương mại ở thành phố
cảng Barmen. Cuối năm 1839 ông bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Hê – ghen.
Tháng 9/1841 P. Ăngghen đến Berlin và gia nhập binh đoàn pháo binh ở đây ông
được huấn luyện quân sự, mà trong những năm sau ông rất cần đến nó, nhưng ông
vẫn lui tới trường Đại học Tổng hợp Becrlin nghe các bài giảng triết học, tham gia hội
thảo về tôn giáo. Mùa xuân 1842 Ph.Ăngghen bắt đầu cộng tác với tờ Rheinishe
Zuiting(Nhật báo tỉnh Ranh). Trong những bài báo in 1842, trên tờ báo Ph.Ăngghen
đã lên tiếng phản kháng chế độ kiểm duyệt của Chính phủ Vương quốc Phổ, trật tự
phong kiến ở Đức. Ngày 8/10/1842 ông đã mãn hạn phục vụ trong quân đội. Từ
Becrlin ông trở về Barmen, một tháng sau, ông đã sang Anh thực tập buôn bán. Trên
đường sang Anh, Ph.Ăngghen đã thăm trụ sở tờ báo Rheinishe Zuiting ở Kioln và ông
đã gặp C. Mác, tổng biên tập tờ báo. Ông đã ở lại Anh 2 năm. Tháng 2 năm 1845

người theo chủ nghĩa xã hội ở Châu Âu, chuẩn bị cho tập 2 và 3 của Bộ Tư bản mà
C.Mác chưa kịp hoàn thành.

9


Ngày 14/7/1889 ở Pari Quốc tế cộng sản II ra đời là liên minh quốc tế các đảng
công nhân. Dưới sự lãnh đạo của ông, Quốc tế cộng sản II có nhiều đóng góp quan
trọng vào việc phát triển phong trào công nhân thế giới. Năm 1895 khi ông mất những
người theo chủ thuyết chống lại học thuyết Marx như K.Kautsky, E.Bernstein dần
chiếm ưu thế trong Quốc tế II. Do không thống nhất về chiến lược, chia rẽ về tổ chức
nên Quốc tế cộng sản II tan rã khi chiến tranh thế giới I bùng nổ.
Ph. Ăngghen còn viết nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những năm cuối đời : Nguồn
gốc gia đình, Chế độ tư hữu và Nhà nước ( 1884); Biện chứng của tự nhiên
(1884); Lútvít Phoiơbăc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức ( 1886 – 1888);
Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894)...
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Vào đầu thế kỷ XIX cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở nước Anh, được
đẩy mạnh ở Pháp và các nước Tây Âu khác. Lực lượng sản xuất đã phát triển hơn giai
đoạn trước rất nhiều. Đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ XIX quan hệ sản xuất Tư bản
chủ nghĩa ở nhiều nước đã trở thành quan hệ sản xuất thống trị, làm cho mâu thuẫn nội tại
trong phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa tăng lên không ngừng.
C.Mác là người sớm tìm đến với chủ nghĩa duy vật, từ khi đến Pháp năm 1843 trở đi,
ở C.Mác đã hình thành những quan điểm có tính hệ thống về chủ nghĩa xã hội khoa học.
Ông đã sống và tắm mình trong phong trào công nhân những năm 30 và 40 của thế kỉ
XIX. Bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX trở đi, chủ nghĩa tư bản châu Âu đã có những bước tiến
đáng kể sau khi tiến công dinh lũy của chế độ phong kiến. Xã hội tư bản lúc ấy là xã hội tư
bản đang lên ở nước Anh, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành cơ bản. Tiếp đó là ở
Pháp và một số nước khác, cuộc cách mạng công nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến tốc độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ sở kinh tế - xã hội đó làm nảy sinh một cách rõ rệt

đoàn lúc này đã chuyển từ Pari sang Luân Đôn và phát triển rất nhiều chi bộ ở cả
Anh, Pháp, Đức… Liên đoàn đã trở thành một tổ chức quốc tế.

11


Trước năm 1847, tuy không tham gia Liên đoàn những người cộng sản nhưng hai
ông tích cực tìm cách làm cho những quan điểm của mình về chủ nghĩa cộng sản
thâm nhập vào tổ chức đó, làm cho nó đi đúng hướng. Đến năm 1845, vì bị coi là một
nhà cách mạng nguy hiểm, C.Mác bị trục xuất sang Brucxen (Bỉ), ở đây ông lại tiếp
tục hoạt động tích cực trong phong trào công nhân. Những hoạt động tích cực của
Mác và Ăngghen trong hoàn cảnh ấy đã góp phần quan trọng vào sự chuyển biến lặng
lẽ diễn ra trong nội bộ Liên đoàn những người Cộng sản. Ban lãnh đạo Liên đoàn
ngày càng thấy rằng, những quan điểm trước đây của họ về chủ nghĩa cộng sản là
không còn phù hợp nữa và hệ thống lý luận mới của Mác và Ăngghen là đúng đắn.
Do vậy mùa xuân năm 1847, G.Môn - một trong những người lãnh đạo của Liên đoàn
đã đến Brucxen gặp C.Mác sau đó đến Pari gặp Ph.Ăngghen để mời hai ông gia nhập
Liên đoàn. Những người lãnh đạo Liên đoàn muốn cải tổ và cho rằng: “cần phải đưa
Liên đoàn thoát khỏi những hình thức và truyền thống hoạt động âm u cũ”. Theo họ,
điểm chủ yếu nhất là phải cải tổ nền tảng lý luận của Mác và Ăng ghen tạo điều kiện
cho hai ông trình bày những quan điểm về chủ nghĩa cộng sản trong một đại hội của
Liên đoàn dưới dạng một bản tuyên ngôn và coi đó như một tuyên ngôn chung của
Liên đoàn.
Những đại hội cải tổ Liên đoàn đã diễn ra theo tinh thần cách mạng của C.Mác
và Ph.Ăngghen. Đại hội lần thứ nhất diễn ra vào mùa hè năm 1847. Cuối tháng 11 đầu
tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai đã diễn ra, Đại hội thảo luận và thông qua
Điều lệ gồm 10 chương, 50 điều. C.Mác và Ph.Ăngghen được đại hội giao cho nhiệm
vụ soạn thảo tuyên ngôn - một văn kiện cương lĩnh. Hai ông đã hoàn thành nhiệm vụ
được giao trong hơn một tháng, gửi đi Luân Đôn để in trước mấy tuần diễn ra cuộc
cách mạng Tháng Hai năm 1848.

Các lời tựa
Các lời tựa của C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến hai nội dung chính:
Một là, hai ông khẳng định “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là Cương lĩnh của
‘Đồng minh những người Cộng sản’ công bố công khai với toàn thế giới những

13


nguyên lý của Đảng Cộng sản. Bản Cương lĩnh này gọi là “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản” mà không gọi là “Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa” là để phân biệt tính chất
giai cấp của phong trào cộng sản với các trào lưu xã hội chủ nghĩa đương thời.
Hai là, với tư cách là một cương lĩnh của Đảng Cộng sản, về mặt lý luận “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” trình bày thế giới quan của giai cấp vô sản về đấu tranh
giai cấp, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản; thuyết minh sự diệt vong tất yếu
của chủ nghĩa tư bản, vai trò của giai cấp vô sản; phân định ranh giới giữa chủ nghĩa
xã hội khoa học với các trào lưu xã hội chủ nghĩa khác (chủ nghĩa xã hội không
tưởng).
Về mặt chỉ đạo thực tiễn, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nêu lên những
nhiệm vụ và những biện pháp cụ thể để thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội; những nguyên lý sách lược và thái độ của Đảng Cộng sản đối với
các Đảng Xã hội-Dân chủ. Nhiệm vụ của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là tuyên
bố sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng tất yếu như sự thắng lợi của chủ nghĩa xã
hội, giai cấp vô sản hiện đại là người có sứ mệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen
viết: “Mặc đầu hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong mười lăm năm qua, nhưng cho đến
nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bày trong Tuyên ngôn này vẫn
còn hoàn toàn đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay
Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng
những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy,

của thời đại ấy: do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy tan rã), toàn bộ
lịch sử là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bị bóc lột
và những giai cấp đi bóc lột, giữa những giai cấp bị trị và những giai cấp thống trị,
qua các giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ; nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay
đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột và giai cấp bị áp bức (tức giai cấp vô sản)
không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức giai cấp

15


tư sản) được nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi
ách bóc lột, ách áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp.Tư tưởng chủ chốt ấy
hoàn toàn và tuyệt đối là của C.Mác”[3;13,14[.
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, sau khi chỉ ra sự ra đời
và sức sống của Tuyên ngôn trên thế giới, Ph.Ăngghen giải thích, sở dĩ tên gọi của
Tuyên ngôn là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà không gọi là “Tuyên ngôn xã
hội chủ nghĩa” là để phân biệt đây là tuyên ngôn của giai cấp vô sản giác ngộ chứ
không là khát vọng không tưởng của giai cấp tư sản và tiểu tư sản về xã hội chủ
nghĩa. Ông cũng lại khẳng định, tuy Tuyên ngôn là tác phẩm viết chung, nhưng luận
điểm chủ yếu làm hạt nhân cho sách là của C.Mác.
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1890, Ph.Ăngghen viết: “Vô
sản tất cả các nước doàn kết lại!”. Chỉ có một vài tiếng đáp lại chúng tôi, khi chúng
tôi tung lời kêu gọi ấy với thế giới, cách đây bốn mươi hai năm, ngay trước ngày cuộc
cách mạng đầu tiên nổ ra ở Pa Ri, trong đó giai cấp vô sản đã xuất hiện với những yêu
sách của chính mình. Nhưng ngày 28 tháng 9 năm1864, những người vô sản trong
phần lớn các nước Tây Âu đã liên hợp lại để lập ra Hiệp hội lao động quốc tế, một hội
mà tên tuổi vẻ vang được ghi nhớ mãi mãi. Thật ra bản thân Quốc tế chỉ sống có Chín
năm. Nhưng sự đoàn kết bất diệt do Quốc tế đã xây dựng được giữa những người vô
sản tất cả các nước vẫn tồn tại và càng mạnh hơn bao giờ hết. Bởi vì ngày hôm nay,
khi tôi viết những dòng này, giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ đang điểm lại lực

Chỉ với 26 dòng, lời mở đầu đã thể hiện tính khoa học và tính chiến đấu của
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định
CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN đa được tất ca các thế lực Giáo hoàng, Nga hoàng, bọn
cấp tiến Pháp, bọn cảnh sát Đức.. ở châu Âu thừa nhận là một thế lực, chứ không còn
là một bóng ma đang ám ảnh châu Âu. Do đó đã đến lúc những người cộng sản phải
công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích và ý đồ của mình
để đập lại câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản.
Chương 1: Tư sản và Vô sản

17


Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nêu lên sự đối lập giữa
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản - hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản; sự diệt
vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cùng với giai cấp tư sản. Hai ông đã làm rõ:
Lịch sử xã hội loài người từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã cho đến nay
là lịch sử đấu tranh giai cấp giữa giai cấp bị áp bức, bóc lột với giai cấp bóc lột, thống
trị. Cuộc đấu tranh ấy diễn ra không ngừng và kết thúc bằng một cuộc cách mạng xã
hội, hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai cấp đấu tranh với nhau. Trong xã hội tư
sản hiện đại, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản hiện đại với giai cấp tư sản dẫn đến
sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã làm rõ vai trò lịch sử của hai giai cấp tư
sản và vô sản hiện đại.
Giai cấp tư sản là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của một loạt các
cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi. Khi mới ra đời giai cấp tư
sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử. Nó đại diện cho sự phát triển của
lực lượng sản xuất đang lên, đánh đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến, thiết lập
nền chuyên chính tư sản thực hiện những tiến bộ xã hội. “Chưa đầy một thế kỷ, giai
cấp tư sản thống trị đã tạo ra được một lực lượng sản xuất nhiều và đồ sộ hơn lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”. Đại diện cho lực lượng sản

của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản là tất yếu. Cuộc đấu
tranh này sẽ dẫn đến bùng nổ cách mạng công khai, giai cấp vô sản thiết lập sự thống
trị của mình bằng cách dùng bạo lực cách mạng lật đổ giai cấp tư sản. “Sự sụp đổ của
giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”[3;65]. Kết luận
này của hai ông trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” không những vững vàng và
khoa học mà còn sâu sắc về chính trị.
Chương 2: Những người vô sản và những người cộng sản.
Trong chương này hai ông tập trung trình bày về tính giai cấp của Đảng Cộng
sản, mối quan hệ giữa Đảng và giai cấp, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng

19


sản khoa học, một số nguyên lý chiến lược và sách lược cách mạng của cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
Tính chất giai cấp của Đảng Cộng sản và quan hệ giữa Đảng với giai cấp: Đảng
là đội quân tiên phong, bộ phận giác ngộ nhất của giai cấp vô sản.
Về mặt lý luận Đảng có ưu thế hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ có
nhận thức sáng suốt về điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản.
Về mặt thực tiễn, Đảng là bộ phận kiên quyết nhất bao giờ cũng cổ vũ phong trào
vô sản tiến lên giành thắng lợi; Đảng là bộ phận không tách rời giai cấp, luôn bảo vệ
lợi ích của giai cấp và đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào vô sản. Phải có
Đảng lãnh đạo giai cấp vô sản mới là tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Nhiệm vụ của
Đảng trước hết là tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của
giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền.
Tóm lại, Đảng là bộ phận gắn liền với giai cấp vô sản, là bộ phận tiên tiến nhất
và kiên quyết cách mạng nhất của giai cấp vô sản, Có sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp
vô sản mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử thế giới của mình.
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học:
Về sở hữu: hai ông cho rằng, tư bản vận động được là nhờ sự hoạt động chung

cạnh tranh tự do trong lĩnh vực tri thức mà thôi. “Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự
đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền, không có gì đáng lấy làm lạ khi
thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với
những tư tưởng cổ truyền”.
Những nguyên lý chiến lược và sách lược cách mạng:
Cách mạng CSCN phải trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1, Phải xây dựng giai
cấp vô sản thành giai cấp thống trị. Sau khi nắm được chính quyền giai cấp vô sản
phải dùng thế lực chính trị của mình tập trung phát triển lực lượng sản xuất đồng thời
với việc phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục... “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
cũng đã nêu ra 10 biện pháp cụ thể mà C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng có thể áp

21


dụng ở những nước tư bản phát triển nhất lúc bấy giờ nhằm cải tạo xã hội cũ xây
dựng xã hội mới. Trong đó, sáu biện pháp đầu nói về cách mạng quan hệ sản xuất như
tước đoạt sở hữu ruộng đất, đánh thuế luỹ tiến, xoá bỏ quyền thừa kế, tập trung tín
dụng vào ngân hàng nhà nước, tập trung phương tiện vận tải quan trọng vào tay nhà
nước... Ba biện pháp tiếp theo nói về phát triển lực lượng sản xuất như tăng cường các
xí nghiệp quốc doanh, tiến hành khai hoang cải tạo ruộng đất, thi hành nghĩa vụ lao
động, kết hợp lao động nông nghiệp với lao động công nghiệp, xoá dần khoảng cách
giữa thành thị với nông thôn... Biện pháp thứ mười nói về giáo dục công cộng và kết
hợp giáo dục với sản xuất. Trong mười biện pháp trên, cho đến nay nhiều biện pháp
còn mang đầy đủ tính hiện thực phổ biến của nó đối với con đường lên chủ nghĩa xã
hội ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Giai đoạn 2, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã phác hoạ ra xã hội Cộng sản
trong tương lai. Ở đó không còn giai cấp và không còn đấu tranh giai cấp. Nhà nước
với tư cách là bộ máy thống trị giai cấp cũng không còn nữa. Một thế liên hợp của
người lao động phát triển toàn diện xuất hiện, trong đó “sự phát triển tự do của mỗi
người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Chủ nghĩa xã hội của Cơ đốc giáo là thứ chủ nghĩa xã hội đi sát với chủ nghĩa xã
hội phong kiến, nó là thứ nước thánh mà bọn thầy tu dùng để xức cho nỗi giận hờn
của bọn quý tộc phong kiến và phủ lên chủ nghĩa khổ hạnh một lớp sơn xã hội chủ
nghĩa.
Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản tuy phân tích sâu những mâu thuẫn của nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa, nhưng nó có tính chất không tưởng và có tính chất phản động. Tính
chất phản động tiêu biểu của nó là muốn đem nền sản xuất đại công nghiệp đặt vào
trong chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa phường hội, và về sau trào lưu này chỉ còn là
những lời oán thán hèn nhát.

23


Chủ nghĩa xã hội chân chính Đức chỉ là sự cưỡng hôn giữa tư tưởng xã hội chủ
nghĩa Pháp với Triết học Đức. Nó là loại văn học bẩn thỉu và khó chịu. Một mặt nó là
thứ ngáo ộp mà giai cấp tiểu tư sản hằng mơ ước để dọa lại giai cấp tư sản. Mặt khác
nó là thứ vũ khí trong tay chính phủ chuyên chế Đức để chống lại giai cấp tư sản non
trẻ và đem “cái lối giả nhân giả nghĩa đường mật của nó bổ sung cho roi vọt và súng
đạn mà những chính phủ ấy đã dùng để trấn áp những cuộc khởi nghĩa của công nhân
Đức”[3;89,90]
Hai ông phân tích và phê phán chủ nghĩa xã hội bảo thủ (chủ nghĩa xã hội tư
sản). Hai ông coi tư tưởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp tư sản là bảo thủ, bởi lẽ nó
muốn duy trì chủ nghĩa tư bản chứ không kéo lùi lịch sử như các trào lưu xã hội chủ
nghĩa khác. Loại chủ nghĩa xã hội này do đủ loại các nhà cải lương ngồi xó buồng nặn
ra nhằm chữa bệnh cho xã hội tư bản, hy vọng tẩy trừ được những yếu tố làm cho xã
hội tư bản tan rã. Nội dung chủ nghĩa xã hội bảo thủ có thể tóm lại là “sở dĩ những
người tư sản là những người tư sản, đó là vì lợi ích của giai cấp công nhân”[3;93]. Có
nghĩa chúng thừa nhận sự tồn tại của giai cấp tư sản là vì lợi ích của giai cấp vô sản.
Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng cuối thế kỷ XVIII, đầu
thế kỷ XIX theo đánh giá của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” thì:

quyền ở các nước Pháp, Thuỵ Sỹ, Đức, Ba Lan... lúc bấy giờ. Ở đây đã thể hiện tư
tưởng cách mạng không ngừng, có ý nghĩa chỉ đạo chiến lược đối với phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế và là kim chỉ nam soi sáng con đường tiến lên chủ nghĩa xã
hội ở các nước có trình độ chậm phát triển về kinh tế:
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định: Những người cộng sản chiến đấu
cho những mục đích và những lợi ích trước mắt của giai cấp vô sản, nhưng đồng thời
trong phong trào hiện tại họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào.
Trong khi liên hợp với các Đảng phái để chống lại thế lực phản động đang thống
trị những người cộng sản vẫn giành cho mình quyền phê phán những lời nói suông,
những ảo tưởng và “không giờ phút nào Đảng Cộng sản lại quên gây cho công nhân

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status