NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH: Thuyết minh về khu danh thắng Sapa Lào Cai - Pdf 41

Môn: NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH
Thuyết minh về khu danh thắng Sapa-Lào Cai

I/ Tổng quát về Sapa:
1.Vị trí
Nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam, thị trấn Sa Pa nằm ở độ cao 1600 mét
so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38 km và 376 km so với Hà Nội.
Là một thị trấn vùng cao, Sa Pa không chỉ nổi tiếng là một khu nghỉ mát thuộc
huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai, mà nơi đây còn ẩn chứa nhiều điều kỳ diệu của tự
nhiên. Phong cảnh thiên nhiên với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng cây,
cùng với những nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi này, tất cả tạo nên bức
tranh hài hòa, quyến rũ và thơ mộng của đất trời vùng Tây Bắc Tổ quốc.
2.Tên gọi
Tên Sa Pa có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại. Trong tiếng Quan Thoại,
phát âm là Sa Pả hay Sa Pá tức "bãi cát", bởi ngày trước, khi có thị trấn Sa Pa thì
nơi đây chỉ có một bãi cát mà cư dân thường họp chợ. Ngoài ra, Sa cũng có thể
là cách nói lệch đi theo phiên âm tiếng Tàu là Sha cũng có nghĩa là Cát.
Từ hai chữ “Sa Pả”, người phương Tây phát âm không dấu, thành SaPa và
họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó thành “Cha Pa” và một thời gian rất dài sau
đó người ta dùng “Cha Pa” như một từ tiếng Việt. Về sau, từ này viết được
thống nhất là SaPa.
Thị trấn SaPa trước đây có một mạch nước đùn lên màu đỏ đục, nên dân
địa phương gọi là “hùng hồ”, tức “suối đỏ”. Từ hai chữ ban đầu, trải qua thời
gian cùng nhiều giả thuyết mà trở thành Sa Pa, cái tên vừa thân quen, vừa tiềm
ẩn biết bao điều kỳ diệu mà mỗi lần đặt chân đến vùng đất này là một lần được
khám phá.

1


Thị trấn Sa Pa như một viên ngọc, ẩn mình trong làn mây rồi bất chợt hiện


Buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giác lành lạnh như trời Thu và ban
đêm, là cái rét của mùa Đông.
Thị trấn Sa Pa là một trong những nơi hiếm hoi ở Việt Nam có tuyết. Nếu
may mắn, bạn sẽ được đắm chìm trong không gian của vùng ôn đới khi những
bông tuyết trắng phủ xuống vùng đất này. Hãy đắm mình trong cái giá lạnh của
vùng cao, thỏa thích ngắm nhìn và vui đùa với những bông tuyết trắng. Là hiện
tượng thời tiết của các nước ôn đới, với Sa Pa đây là điều tuyệt vời mà tạo hóa
đã ban tặng, rất hiếm khi khách du lịch được gặp hiện tượng thời tiết hi hữu này.
II. Dân tộc thiểu số sinh sống ở Sapa.
SaPalà vùng đất xinh đẹp không chỉ vì cảnh quan mà còn bởi sự hội tụ của
nhiều sắc tộc cùng chung sống. Đến nơi đây ngày chợ phiên du khách sẽ không
khỏi thích thú với đủ mọi váy áo rực rỡ của các dân tộc H’Mông Đen, Dao Đỏ,
Tày, Giáy, Xá Phó. Mỗi dân tộc là một sự khác biệt về trang phục, lối sống, tập
tục, phương thức canh tác…, cùng những bản sắc văn hóa riêng biệt, phong phú
và bí ẩn. Và tôi xin được giới thiệu về tộc người H’Mông và người Dao đỏ ở
Sapa:
1.

Người H’Mong ở Sapa

SaPalà vùng đất xinh đẹp không chỉ vì cảnh quan mà còn bởi sự hội tụ của
nhiều sắc tộc cùng chung sống. Đến nơi đây ngày chợ phiên du khách sẽ không
khỏi thích thú với đủ mọi váy áo rực rỡ của các dân tộc H’Mông Đen, Dao Đỏ,
Tày, Giáy, Xá Phó. Mỗi dân tộc là một sự khác biệt về trang phục, lối sống, tập
tục, phương thức canh tác…, cùng những bản sắc văn hóa riêng biệt, phong phú
và bí ẩn. Và tôi xin được giới thiệu về tộc người H’Mông ở Sapa:
Dân tộc H’mông là một dân tộc sinh sống đông nhất ởSaPa, chiếm khoảng
53% dân số. Trước đây họ là tộc người làm lúa nước rất giỏi, sống dọc theo khu
vực sông Dương Tử (Trung Quốc), trong một cuộc xung đột với tộc người Hán,

Dân số: 558.000 người.
Đặc điểm kinh tế:
Sống nơi núi non hiểm trở, thiếu đất đai màu mỡ nhưng với kinh nghiệm
trồng lúa nước từ xa xưa, người H’mông đã san đắp những sườn núi, sườn đồi
thành những thửa ruộng bậc thang độc đáo, mỗi năm có thể trồng được hai vụ
lúa hoặc hai vụ ngô. Du khách có dịp lênSaPavào mùa thu, lúc lúa chín rộ sẽ vô
cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy vô số ruộng bậc thang từ thấp lên cao, vàng óng
quanh co uốn lượn dọc theo sườn núi. Có thể nói đó là một trong những cảnh
quan đẹp nhất vùng núi cao Tây Bắc.
Khoảng vài chục năm trước, người H’Mông có thói quen đốt rừng, phát
hoang để làm ruộng rẫy và sống du canh du cư. Nhưng nay thì thói quen này đã
chấm dứt và được Nhà Nước giao rừng, giao đất để tự quản, sinh sống, rừng Sa
Pa cũng hồi sinh, ruộng nương rộng lớn, trù phú và xanh tốt.
Mặc:
Trang phục của người Hmông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Hmông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực,
thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành. Phụ
nữ Hmông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ
nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả. Phụ
nữ Hmông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Hmông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Hmông Xanh đã có chồng cuốn tóc
lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai
cái sừng.
4


Tộc người H’Mông sinh sống chủ yếu ở Sa Pa là người H’Mông Đen do
quần áo của họ toàn màu đen nhưng trang phục của họ lại khác hẳn người
H’Mông Đen ở nơi khác, vì thế thường được gọi là người H’Mông Sa Pa. Người
đàn ông thường mặc quần màu đen hoặc xanh đen (màu chàm) giống nhau, áo

biến chuyển của mặt trời, thời tiết, không gian và thời gian, trong vũ trụ quan cổ
đại của nhiều cư dân, là vốn văn hóa chung của nhiều dân tộc, nhưng được thể
hiện đậm đà trong trang trí H’mông.
Chắp vải mầu của người H’mông rất dầy, nhiều lớp đè lên nhau, tạo thành
các đường viền lé mầu bao quanh các hình, các đường nét, chứng tỏ một kỹ
thuật thành thạo, có truyền thống riêng khác hẳn các dân tộc anh em. Mầu sắc ưa
dùng trong thêu và chắp vải là đỏ tươi, đỏ thắm, nâu, vàng, trắng, xanh lá cây,
lam. Ngay trên các đồ án hoa văn vẻ sáp ong nhuộm mầu chàm người ta cũng ưa
ghép thêm hình vải mầu đỏ-trắng, xanh-trắng, rực sáng tươi vui. Đó cũng là điều
khác biệt.
Kỹ thuật thêu của người H’mông có hai cách thêu lát và thêu chéo mũi. Hai
cách thêu này làm cho việc tạo nét mềm mại chủ động, phóng khoáng, không bị
gò bó trong kỹ thuật thêu luồn sợi, mầu, dựa theo thớ vải ngang, dọc mà các dân
tộc khác thường làm. Ngoài họa tiết hình hoa tám cạnh, biểu thị sự chuyển động
của mặt trời, trang trí H’mông không nhằm diễn đạt một nội dung nào, nhưng
mang được sắc thái rất riêng biệt có bản sắc thẩm mỹ của dân tộc rất rõ nét.
Lễ hội
Trong những lễ hội truyền thống của người H’Mông thì lễ hội Gầu Tào
diễn ngày 12 tháng giêng là đặc sắc nhất.Lễ hội thường tổ chức tại những thửa
ruộng rộng hay vùng đồi với mong ước cầu thần linh ban cho sự bình an, thịnh
vượng. Trong lễ hội còn có các cuộc thi bắn cung, bắn nỏ, múa khèn, múa võ,
đua ngựa rất vui nhộn.
Đến đấy du khách có thể trực tiếp thấy cách sinh hoạt hằng ngày của họ,
cùng thưởng thức món thắng cố, tiết canh gà, rượu ngô, nhái nấu măng, bánh
ngô và món đậu xị… độc đáo.
Ăn:
6


Người Hmông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với


Mỗi gia đình Hmông đều có bàn thờ ở gian giữa nhà
Học: Chữ Hmông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những
năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
2.

Dân tộc Dao Đỏ Sapa

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng)
Tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Giang, Làn Tẻn,
Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu.
Nhóm địa phương: Dao Đỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ lạy, Dao
Đại Bản), Da Quần chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dụ
Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc
Mùn), Dao Tiền (Dao Đeo Tiền, Dao Tiểu Bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao
Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyền, Dao áo dài).
Dân số: người Dao ở Việt Nam có dân số 751.067 người (năm 2009). (1)
Ngôn ngữ: Mông - Dao
Địa bàn cư trú: Dọc biên giới Việt - Trung, Việt - Lào; Một số tỉnh trung
du và ven biển Bắc Bộ. Trong đó, phía Bắc, tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Hà
Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai
Châu, Lạng Sơn, Thái Nguyên, sơn La, hào Bình, Phú Thọ. Phía Nam là các tỉnh
như: Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Nông và miền Đông Nam bộ
như: Đồng Nai, Bình Phước.
Tết:
Hàng năm, cứ đến đầu tháng 12 Âm lịch trở đi, khi mùa màng đã thu
hoạch xong, mỗi gia đình người Dao lại tổ chức ăn Tết “năm cùng”, để báo công
với ông bà tổ tiên thành quả của một năm lao động của gia đình. Bên cạnh đó,
người dao còn có một tết đặc biệt. Đó là tết nhảy (người Dao gọi là Nhiang
chằm Đao) . Song lễ này không tổ chức ở mọi nhà, không phải năm nào cũng tổ

nữ Dao Đỏ. Để tạo thành bộ y phục đẹp người ta kết hợp 5 màu cơ bản, nhưng
chủ yếu là màu đỏ để làm phụ tiết. Họ đã tìm thấy trong thiên nhiên như cỏ, cây,
hoa lá, các loài động vật... để tạo nên những họa tiết trang trí cho bộ trang phục
thêm đẹp và rực rỡ.
9


Theo phong tục của người Dao Đỏ thì trong bộ y phục, quan trọng nhất là
chiếc áo dài có màu chàm hoặc màu đen. Bên trong chiếc áo dài, phụ nữ Dao
còn mặc một chiếc áo “lui ton” giống như cái yếm, mặc bên trong che kín cả
ngực, cổ tròn mở sau gáy. Một trong những thứ tạo nên nét độc đáo cho bộ y
phục không thể không kể đến khăn đội đầu và các đồ trang sức bằng bạc.
Chiếc khăn đội đầu được người Dao Đỏ trang trí hình vết hổ, cây vạn hoa,
hình cách đoạn... Hoa văn ở trên khăn từ ngoài vào có 5 lớp, 5 lớp này được bao
khuôn ổ vuông ở trung tâm "điểm" của khăn. Khi đội lên đầu, các hoa văn họa
tiết của 5 lớp văn sẽ phô ra ngoài, làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc khăn. Tua len
làm bằng sợi len có tua rua bằng sợi tơ đỏ, ở lớp ngoài với nhiều màu, không chỉ
có tác dụng thẩm mỹ mà còn giúp để khi vấn giữ cho khăn chặt hơn. Các họa
tiết trên tua len gồm có hình sôm, hình gấp khúc, hình cây thông...
Tiếp đến là chiếc áo bé. Họa tiết hoa văn trên áo bé, tập trung chủ yếu ở
phần ngực, cổ và lưng áo. Hoa văn được trang trí trên ngực áo bé là cách đính
cúc hoa bạc theo chiều dọc ở giữa áo, áo bé mặc trong, áo dài mặc ngoài, hàng
hoa bạc giữa hai hàng quả bông len đỏ. Hoa văn trang trí trên thân sau áo bé
được thêu theo chiều dọc của áo, gồm các họa tiết hình cây thông - với dân tộc
Dao, hình cây thông chính là hình đuôi chó cách điệu; hình dấu chân hổ - chính
là hình chân chó cách điệu mà người Dao vẫn đang thờ; hình hoa kiệu; hình thập
ngoặc; hình răng cưa... được thêu ở hai bên, cúc hoa bạc đính ở giữa rất đẹp.
Khác với chiếc áo bé, hoa văn trang trí trên áo dài tập trung ở viền nẹp
ngực tà áo và đầu ống tay áo được trang trí các họa tiết hình sôm, hình dấu chân
hổ, hình răng cưa, hình quả trám, hình thập ngoặc... Nẹp ngực mỗi bên đính 7

Trang phục phụ nữ Dao đặc sắc và cầu kỳ bao nhiêu thì trang phục nam
giới lại đơn giản bấy nhiêu. Đó là những chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước
ngực và thường cài 5 cúc. Quần rất rộng đũng, có thể cử động trong mọi tư thế.
Cả nam, nữ và trẻ con người Dao đều thích đeo trang sức như vòng cổ,
chân, tay. Ngoài việc làm đẹp thì chúng còn mang giá trị nhân văn, tín ngưỡng.
Theo truyền thuyết kể lại, người dân đeo trang sức bằng bạc thì sẽ trừ tà ma,
tránh gió và thậm chí là được thần linh phù hộ.
11


Ngày nay, trang phục của người Dao đã bị mai một do tác động của kinh tế
thị trường và quá trình giao lưu văn hóa. Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống, các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp tích cực, đặc biệt là
tổ chức các cuộc thi “Trang phục dân tộc” để người dân gìn giữ những gì mà cha
ông đã để lại
Tết nhảy
Người Dao Đỏ đón xuân theo tập tục truyền thống tổ tiên từ nhiều đời nay.
Bắt đầu từ ngày 28 Tết, khắp làng trên, xóm dưới, đồng bào dân tộc đã bắt tay
vào mổ lợn béo, gà trống thiến, làm bánh nếp… Đây chính là thời điểm các
thành viên trong dòng họ tụ tập quây quần tại nhà trưởng họ, cùng nhau nâng
chén rượu mừng xuân, cầu chúc cho nhau ngày càng làm ăn phát đạt, cháu con
khoẻ mạnh… và bàn việc tổ chức nghi lễ Tết nhảy.
Người Dao Đỏ chuẩn bị đón Tết khá công phu. Trước hết nam thanh niên
ôn luyện các điệu múa cổ truyền, các thiếu nữ lo nhuộm chàm, thêu áo mới cho
chồng con đi chơi Tết. Tết nhảy sẽ diễn ra ở nhà ông trưởng họ, nên các thành
viên trong họ đều tấp nập giúp trưởng họ chuẩn bị Tết.
Ban đầu, một tốp nam thanh niên "sài cỏ" theo sự hướng dẫn của thầy cả
"chái peng pi" tổ chức 14 điệu nhảy dẫn đường, bắc cầu đưa đón tổ tiên, thần
linh về "ăn" Tết. Để chào bố mẹ, tổ tiên đã khuất, điệu nhảy chỉ được thực hiện
bằng một chân, đầu cúi, ngón tay trỏ giơ cao; Để mời tiên nương, tiểu nữ giáng

Văn hóa ẩm thực
Giống như một số tộc người anh em, người Dao cũng thường xuyên đồ xôi
để ăn trong những ngày Tết và lễ như: lễ vào nhà mới, lễ cưới hoặc trong những
ngày gia đình nhờ anh em giúp cây ruộng, gieo trồng ngô lúa, làm chuồng trại
gia súc. Đặc biệt, trong Tết Thanh minh nhiều nhà còn đồ xôi nhiều màu.
Ngoài các nguồn lương thực chính là gạo và ngô, người Dao cũng có nhiều
món chế biến từ thịt và cá rất đa dạng.
Món xào: Khi thịt gà, thịt lợn, thịt dê, thịt bò người Dao thường đem xào
gừng và nghệ. Đối với thịt lợn, thịt gà khi chế biến món sào đều cho một ít nước
và thường cho thêm gừng. Một số món như thịt bò, thịt trâu còn tươi cũng được
đem xào chín với gừng. Chỉ có lòng gan lợn. thịt chim, thịt chuột đồng, nhộng
13


được xào khô và cho thêm hành, gừng hoặc lá chanh thái nhỏ và cho một ít
rượu. Trường hợp xào cho nhiều người ăn còn nêm thêm một số hương vị như
thảo quả, quế, gừng, sả...
Món luộc: Để làm món thịt luộc, người Dao thường rửa sạch thịt và cắt
thành miếng to bằng bàn tay. Sau đó bỏ vào nồi hoặc chảo, cho nước vừa đủ rồi
bắc lên bếp lửa đun sôi, dùng đũa lật và chọc vào thịt để kiểm tra, nếu thấy chín
đều thì vớt ra. Nước luộc thịt được đem nấu canh với rau cải, cải bắp hoặc với
rau ngót, mồng tơi. Trước khi ăn, thịt luộc chín được đem thái hoặc chặt thành
miếng nhà xếp vào bát, đĩa hay đổ thịt ra lá dong, lá chuối.
Món hầm: Thịt hầm cũng được người Dao ưa thích. Món thịt hầm thường
phải có thêm những thứ bổ trợ như đu đủ, khoai sọ, măng khô, giá đậu tương, su
hào... Tuỳ theo đặc điểm của món thịt hầm, họ có cho thêm một số gia vị như
rượu, hành, hồ tiêu, củ sả, riềng, gừng...
Món nấu (o khấu): Trong các món ăn của người Dao, nếu so sánh với các
món xào, luộc và hầm thì các món nấu từ thịt cũng không phải là ít. Họ rất thích
ăn thịt lợn nạc nấu hoặc rim, nhất là thịt gà nấu canh gừng. Nhiều khi đậu phụ,

họ.
Theo tập quán, cứ đến bữa ăn chính, tất cả các thành viên trong gia đình
đều phải ngồi vào mâm cùng ăn uống. Về vị trí ngồi, hàng phía trên là nơi ngồi
của đàn ông, còn hàng phía dưới hoặc tiếp giáp bếp là chỗ ngồi của phụ nữ và
trẻ con. Việc chia ra thành nhiều mâm để ăn uống thường chỉ xảy ra khi trong
nhà có khách hoặc các thành viên quá đông, không đủ chỗ ngồi ăn cùng mâm.
Tuy vậy, hiện nay cũng có một số gia đình thích chia ra thành 2 mâm để ăn uống
cho thuận tiện. Khi đó, mâm trong gian bếp có bà, mẹ cùng con dâu và các cháu
nhỏ, còn mâm trong gian khách có ông, bố cùng các con trai và các cháu trai lớn
tuổi.
Trong ăn uống của người Dao, khi mọi người ngồi vào mâmphải chờ cho
đủ cả gia đình mới được cầm bát đũa. Người Dao có thói quen trong bữa ăn mời,
nhường nhịn và gắp thức ăn cho nhau. Bố mẹ gắp cho ông bà và con cái, ông bà
15


gắp cho các cháu nhỏ. Khi thịt gà dù to hay bé đều đành bộ gan cho ông bà, đùi
chân cho những đứa trẻ bé nhất, còn đầu cánh để cho những đứa lớn hơn.
Trong bữa ăn, nếu có khách chủ nhà cũng không quên mời và luôn tay gắp
miếng ăn ngon cho khách. Đúng theo tập quán trước kia, người Dao vừa ăn cơm
vừa uống rượu, khách thường nhấc chén uống rượu mỗi khi chủ nhà nâng chén
mời nhưng không chạm chén. Do vậy, khách cần dựa theo khả năng của mình
mà uống nhiều hay ít mỗi khi nhấc chén uống rượu. Khi uống cạn chén khách cứ
tự nhiên để cho chủ nhà rót rượu xuống. Nếu cảm thấy không muốn uống nữa
thì lấy tay đẩy nhẹ miệng chai lên mỗi khi thấy chủ nhà định rót rượu xuống
chén của mình. Khi ăn cơm xong hoặc đang ăn không được để đũa lên miệng
bắt, bởi vì họ quan niệm rằng chỉ trong những ngày ma chay hoặc xới cơm cúng
vong hồn người chết mới được để đũa như vậy.
Đối với các nghi lễ của người Dao như đám cưới, vào nhà mới, đám ma, có
một số món ăn thường được chế biến theo chuẩn mực đã được tập quán cộng

người kiến trúc sư Pháp đã chọn lựa rất kỹ địa thế để xây dựng. Việc chọn
hướng của nhà thờ có ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với người Công giáo: Đầu
di tích quay về phía Đông, là hướng mặt trời mọc, hướng đón nguồn sáng Thiên
Chúa. Cuối nhà thờ (khu Tháp chuông) là hướng Tây, nơi sinh thành của Chúa
Kitô.
Hình dạng và kiến trúc của Nhà thờ được xây theo hình thập giá theo kiến
trúc Gotic La Mã. Kiến trúc đó thể hiện ở mái nhà, tháp chuông, vòm cuốn…
đều là hình chóp tạo cho công trình nét bay bổng thanh thoát. Toàn bộ nhà thờ
được xây bằng đá đẽo (tường, nền nhà, tháp chuông, sân nhà thờ, bờ kè xung
quanh) được liên kết với nhau bằng hỗn hợp của cát, vôi và mật mía. Phần tường
của cánh thánh giá bên phải được tạo nhám như nhũ đá chảy xuống làm tăng
thêm vẻ đẹp tự nhiên cho di tích. Mái nhà lợp ngói, trần nhà bằng vôi rơm (nay
làm mới). Đặc biệt trần ở phần gác chuông (gần quả chuông) là hỗn hợp của vôi,
17


rơm, sắt, chưa sửa chữa lần nào.
Với tổng diện tích của khuôn viên nhà thờ hơn 6.000 m2, nhà thờ Sa Pa có
đủ chỗ cho việc bố trí các khu bao gồm: Khu nhà thờ, dẫy nhà xứ, nhà ở của
thầy tu, nhà chăn nuôi, nhà thiên thần, phần sân phía trước, hàng rào, khu Vườn
Thánh. Dãy nhà xứ xây song song với khu nhà thờ gồm 5 gian.
Nhà thiên thần gồm: một tầng hầm, ba gian tầng trên là nơi cứu chữa người
bệnh tật, người lữ hành qua đêm, khu để xác, công trình vệ sinh, bếp ăn…; khu
vườn thánh có hai ngôi mộ, 5 cây Kháo Vàng trên trăm tuổi, trong đó 4 cây mọc
trên đá.
Khu nhà thờ gồm 7 gian rộng hơn 500 m2, phần tháp chuông cao 20 m,
trong tháp có quả chuông cao 1,5 m, đúc năm 1932, nặng 500 kg, tiếng vang
trong vòng bán kính gần 1km. Hiện, trên bề mặt của chuông còn rõ nét ghi đúc,
số người quyên góp tiền đúc chuông…Phần giá đỡ chuông bằng gỗ pơmu vẫn
giữ nguyên sau lần trùng tu.

trời đã đóng chặt lại. Rồng em đành phải mãi mãi ở lại hạ giới và hóa thành núi
đá với tư thế đầu lúc nào cũng ngẩng lên, dõi mắt về trời. Từ đấy ngọn núi nằm
trong dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ được mang tên Hàm Rồng.
Lại có truyện kể rằng, thuở hồng hoang có đôi rồng quấn quýt bên nhau,
chơi đùa nơi trần thế mà không hề biết rằng cơn đại hồng thủy đang ập đến, cho
đến khi bị những con nước khổng lồ, cuồn cuộn nhấn chìm. Chàng rồng vùng
vẫy mạnh mẽ rồi may mắn thoát thân, còn nàng rồng do đuối sức bị cơn đại
hồng thủy nhấn chìm, chỉ biết ngước đầu lên nhìn chàng rồng bay về trời. Theo
thời gian, nàng rồng hóa đá, thân thể trở thành dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, còn
phần đầu trở thành núi Hàm Rồng.
Nhưng cũng có truyền thuyết kể lại rằng: Cách đây đã lâu, khi lãnh địa
mênh mông này mọi sinh vật đều sống hỗn độn trong bùn đất. Vào một thời lập
địa, Ngọc hoàng ban lệnh: Tất cả mọi sinh vật còn sống sót trong bùn lầy hãy tự
lập lấy địa phận của mình. Lệnh vừa ban, các loài sinh vật tranh nhau chỗ ngụ
cư; lúc đó còn lại ba anh em nhà Rồng đang sống trong cái hồ lớn, được tin này
nhìn sang hướng đông đã chiếm hết chỗ. Ba anh em chạy về hướng Tây còn
19


rộng hơn giành được địa phận cho mình. Hai người anh lớn khoẻ nên chạy
nhanh hơn, ở đó chờ người em. Vì yếu nên người em chạy chậm, không nhìn
thấy hai anh, nên đã lạc vào đám đông toàn là sư tử, hổ, báo, gấu… đang giành
nhau địa phận. Nhìn thấy đám sinh vật quái ác kia, người em sợ quá rùng mình,
co người, há mồm để tự vệ. Vừa lúc đó lời ban của Ngọc Hoàng đã hết thời hạn,
thân hình người em út nhà Rồng hoá thành núi đá, có dáng đầu ngẩng cao, mồm
há, nhe răng. Và hai người anh nhà Rồng cũng hoá thành đá, hình dáng đó vẫn
còn cho tới ngày nay.Núi ở độ cao 1.780m so với mặt nước biển.
Ngày nay, ngọn núi kỳ thú này được xây dựng trở thành một khu du lịch sinh
thái hấp dẫn của thị trấn SaPa, bao gồm 3 khu vực chính, đó là vườn hoa hàm
rồng, "vườn đá" Thạch Lâm và cuối cùng là đỉnh hàm rồng, nơi du khách có thể

ở độ cao hơn 1800m, hít thở không khí trong lành, mát lạnh và chiêm ngưỡng
toàn cảnh Sapa

Núi Hàm Rồng với phong cảnh hoang sơ nhưng kỳ vĩ của nó đã cuốn hút
du khách. Con đường lên núi tạo cho họ một ấn tượng rất khó quên với những
bậc thang lên xinh xắn, hai bên là rừng mận, rừng đào đang mơ màng rũ lá. Lên
cao chút nữa là một bãi đất dốc thoai thoải với những thảm cỏ xanh mượt mà gối
đầu vào vách đá, mở ra không gian thoáng đãng, thư giãn sau những bước chân
mỏi nhừ. Trên núi Hàm Rồng, một trong những điều hấp dẫn nhất chính là hoa.
Hoa ở đây có đủ loại với muôn sắc màu: đỗ quyên, hồng, cẩm tú cầu, tràng
pháo… Điều thú vị là mọi người được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hơn 300 loài
lan với những cái tên khác nhau như: lan hài, lan kiếm, hoàng lan… đang đua
nhau nở rộ nơi Vườn lan 1 và Vườn lan 2. Quả là thiên nhiên đã vô cùng ưu đãi
Sapa khi ban tặng cho nơi đây những loài hoa như vậy. Sắc hoa tươi thắm xen
lẫn giữa rừng đá muôn hình vạn dạng, quyện trong cảnh bồng lai mây trời khiến
bất kỳ ai lên đây cũng đều có cảm giác lạc giữa chốn thiên đàng. Nếu có dịp đến
Hàm Rồng vào đúng tiết xuân sẽ còn được chứng kiến đủ các màu hoa rực rỡ
21


của những rừng đào, mận, lê trên núi Hàm Rồng. Không xa cách khu Vườn lan
1 là sân ngắm Phanxipang. Từ đây, các bạn được mở rộng tầm mắt bởi bức
tranh khung cảnh thị trấn Sapa. Xa xa, những con đường ngoằn nghèo dẫn tới
những bản làng cheo leo bên sườn núi. Khi tầm mắt phóng lên cao là dấy núi
Hoàng Liên Sơn với đỉnh núi Phanxipang lúc ẩn lúc hiện trong mây.
3. THÁC BẠC
Sa Pa không chỉ hấp dẫn bởi bầu không khí trong lành mát mẻ với núi
non trùng điệp hút mắt nhìn mà vẻ đẹp kỳ vĩ, huyền ảo của dòng thác Bạc Sa
Pa được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nơi đây cũng khiến cho lòng người
choáng ngộp.

chinh phục đỉnh núi Fanxifan bắt đầu, và cũng nơi đây, du khách sẽ có phần nào
trong mình những hành trình chinh phục nóc nhà Đông Dương.
4. THUNG LŨNG MƯỜNG HOA
Thung lũng Mường Hoa thuộc xã Hầu Thào, cách thị trấn Sa Pa khoảng
8km về phía Đông Nam. Từ thị trấn Sa Pa vượt qua một con đèo men theo dãy
núi cao, chúng ta sẽ đến với thung lũng Mường Hoa. Điều đặc biệt ở thung lũng
này là bãi đá cổ có khắc nhiều hình khác nhau, nằm xen kẽ giữa cỏ cây và ruộng
bậc thang của đồng bào dân tộc. Hàng trăm tảng đá sa thạch có khắc những hình
vẽ, những kí tự kì lạ đến nay vẫn chưa xác định được nguồn gốc và ý nghĩa.
Ngày nay, khu chạm khắc cổ này đã được xếp hạng di tích quốc gia, là di sản
độc đáo của người Việt cổ
Dòng suối Hoa, chảy dọc thung lũng Mường Hoa, kéo dài qua suốt các
xã Lao Chải, Tả Van, Hầu Thào… Chính tại nơi này, rải dọc qua các dãy núi là
một khu chạm khắc đá kỳ lạ. Trải dài trên chiều dài hơn 4km, rộng 2 km, với ít
nhất 159 hòn đá, chứa nhiều hình họa bí ẩn, bãi đá từng là điểm tập trung nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học Việt Nam, Nga, Pháp Australia…
Thung lũng Mường Hoa là điểm dừng chân của nhiều tour du lịch Sa Pa
mỗi ngày
Cả quần thể bãi đá cổ có những hòn đá với hình khắc đẹp, tập trung ở Bản
Pho. Với những hòn đá lớn, trên bề mặt có khắc những hình khác nhau. Đặc biệt
là các dạng hình người ở nhiều tư thế: hình người dang tay, đầu tròn tỏa ánh hào
23


quang; có hình người nắm tay nhau; có hình người lộn ngược; có hình những
người cặp đôi với bộ phận sinh dục nối liền nhau như biểu hiện của tín ngường
thờ sinh thực khí trên các hình vẽ của trống đồng Đông Sơn. Khảo sát kỹ, ở đây
có tới 11 mô-típ hình người kỳ lạ. Hầu hết các nhà khoa học đều đánh giá đây là
một di sản lớn của loài người. Chúng không chỉ mang các giá trị về mặt mỹ
thuật mà nó còn có ý nghĩa về mặt tâm linh, như một bức thông điệp bí ẩn mà tổ

nằm lẫn trong cây lá, nằm sát ngay bên đường hay giữa ruộng lúa nước... Nếu
chỉ xét về mật độ tập trung các tảng đá thì bãi đá khắc Tả Van xứng đáng xếp
hàng đầu. 159 tảng đá còn rõ nét khắc hình họa, nét chữ viết ở dạng sơ khai và
tiến tới hoàn chỉnh, được ví như 159 tấm bia đá cổ xưa nhất Việt Nam.
Với những hòn đá lớn, nhỏ trên bề mặt có khắc những hình khác nhau.
Nhìn tổng thể, các hình chạm khắc có thể quy về vài nhóm chính: hình tròn khắc
vạch tương đối giống cấu trúc hoa văn thời kỳ văn hóa Hoa Lộc có thể dùng để
tượng trưng cho mặt trời, hình nam nữ giao phối, nhấn mạnh vào bộ phận sinh
dục, các đường vạch song song tựa như những quẻ Kinh dịch, ngắn hoặc có thể
kéo dài ôm lấy viên đá dường như thể hiện những cánh đồng, hoặc thửa ruộng
bậc thang, các hình vuông, chữ nhật đục chìm là nhà cửa hoặc tượng trưng cho
khu dân cư sinh sống... Đại bộ phận đều mang đậm dấu ấn của tư duy tạo hình
giản đơn và khúc triết, xuất phát từ những con người nguyên sơ có đời sống gắn
bó sâu sắc với tự nhiên. Ngoài ra, còn thấy nhiều hình vẽ, biểu tượng khác nhau
được khắc trên những tảng đá đó như: các hình vẽ như hình vuông, hình chữ
nhật, các nét vạch đơn, vạch đôi, những đường song song và những đường cắt
ngang, những hình người, hình chim thú, cảnh sinh hoạt...
Dựa vào giả thuyết về nguồn gốc hình thành bãi đá trên, ta có thể tạm phân
chia nội dung nội dung các bức chạm khắc thành hai loại ý nghĩa.
Loại một có nội dung mang ý nghĩa tôn giáo hoặc dùng trong những hoạt
động có tính tôn giáo, thể hiện những ý thức sơ khai đầu tiên về tự nhiên và con
người. Đó là những bức chạm đơn giản trên những viên đá kích thước nhỏ và
vừa, mỗi bức là một hoặc vài hình chạm đặt cạnh nhau. Như tổ hợp các đường
vạch song song; tổ hợp vạch song song và hình tròn; hình người, các đường
song song và hình tròn. Tương ứng với đó có thể hiểu là theo từng nội dung là
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status