ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ QUỐC BẢO
PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO
NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ QUỐC BẢO
PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO
NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Thúy Nga
Hà nội – 2016
4.2. Phạm vi nghiên cứu
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
5.2 Phương pháp nghiên cứu
6. Kết cầu của luận văn
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm người khuyết tật
1.1.2. Phân loại khuyết tật
1.1.3. Ý nghĩa chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.2. Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.2.1. Khái niệm pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.2.2. Nguyên tắc pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.2.3. Nội dung pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.2.4. Vai trò của pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.3. Kinh nghiệm một số nước về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật và gợi
mở cho Việt Nam
1.3.1. Nhật Bản
1.3.2. Trung Quốc
1.3.3. Hoa Kỳ
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
2.1.1. Thực trạng quy định pháp luật
2.1.2. Những hạn chế trong quy định pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người
khuyết tật
2.1.3. Thương binh và các chính sách về thương binh
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
37
39
39
40
42
43
45
45
45
48
51
53
53
58
61
2.2.4. Xử lý vi phạm trong chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT
NAM
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết
tật ở Việt Nam
3.1.1. Thể chế hóa các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc
sức khỏe cho người khuyết tật
3.1.2. Bảo đảm pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật phù hợp với
công ước quốc tế về người khuyết tật mà Việt Nam tham gia ký
3.1.3. Đẩy mạnh và nâng cao việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bằng
86
88
89
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, bởi vậy mà vấn đề
làm thế nào để có một sức khỏe tốt, không có bệnh tật, đảm bảo sống lâu, sống
khỏe, sống có ích cho xã hội là mong muốn của tất cả mọi người. Vì thế mà nhu
cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu quan trọng và tất yếu của con người, điều đó
càng cần được quan tâm với đối người khuyết tật. Do người khuyết tật là những
người có những khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc tinh thần nên những khiếm
khuyết này gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt
động sinh hoạt hàng ngày khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chăm sóc
cho bản thân mình so với người bình thường. Cần phải tạo điều kiện để họ vượt
qua những khó khăn về tật hay bệnh mới có thể giúp họ hướng tới những cơ hội
khác một cách lâu dài. Chính vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết
tật là vấn đề cần được quan tâm trong xã hội ngày nay.
Chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật mang một truyền thống nhân đạo
to lớn.Người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6 năm
1991) đã khẳng định “Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập,
nghỉ ngơi, chữa bệnh… Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật,
mất sức lao động và mồ côi”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ
rõ “Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân theo phương
châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ
xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người gặp
khó khăn. Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá
12/11/2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), thực chất nhiều năm qua
không có doanh nghiệp nào đạt được con số này. Hay việc tiếp cận kỹ thuật tin
học, phương tiện, công trình giao thông, công trình kiến trúc có lẽ còn lâu mới
đạt được lộ trình mà Luật Người khuyết tật năm 2010 đề ra tại Điều 40.
Để Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước về quyền của
người khuyết tật, Quốc hội khoá XIII đã phê chuẩn Công ước tại kỳ họp thứ 8
(tháng 10/2014). Từ góc độ pháp lý, có thể nhận thấy được một số công việc
quan trọng đã và đang đặt ra với những thuận lợi, khó khăn, thách thức nhất định,
từ đó cũng gợi mở việc tìm kiếm hướng giải quyết phù hợp. Đặc biệt là công tác
5
rà soát, chỉ rõ những điểm còn chưa thống nhất giữa quan điểm, đường lối, chính
sách chung của Đảng, Nhà nước về người khuyết tật với các quy định cụ thể của
pháp luật về người khuyết tật; chỉ rõ những điểm chưa thống nhất giữa các lĩnh
vực pháp luật chuyên ngành với Luật Người khuyết tật, làm cơ sở cho việc tiếp
tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về người khuyết tật. Theo nghiên cứu, có thể
thấy các quy định và tinh thần chung của Công ước hoàn toàn phù hợp với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam trong việc chăm sóc, bảo vệ người
khuyết tật. Một số quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thể hiện sự quan
tâm, trợ giúp người khuyết tật cao hơn so với quy định của Công ước. Tuy vậy,
một số nguyên tắc và quy định nêu trong Công ước lại chưa được khẳng định đầy
đủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam trên quan điểm tiếp cận toàn diện các
quyền con người của người khuyết tật như: quyền bình đẳng, tiếp cận tư pháp,
tiếp cận đời sống chính trị, cộng đồng, văn hoá, giải trí... Công ước có những quy
định cao hơn pháp luật Việt Nam, đặc biệt là về quyền giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, phục hồi chức năng, giải trí, tiếp cận tư pháp, tham gia các hoạt động chính
trị và cộng đồng. Vì vậy, khi đã phê chuẩn Công ước, trách nhiệm của Việt Nam
là cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng bảo đảm, bảo vệ đầy đủ,
toàn diện, thống nhất các quyền của người khuyết tật theo quy định của Công
thực thi bảo đảm quyền bằng pháp luật quốc gia lại có ý nghĩa thực tế vô cùng
quan trọng, nếu không thì quyền của người khuyết tật không thể được hiện thực
hoá.
Nước ta là một thành viên tham gia vào công ước Liên Hợp Quốc về
quyền của người khuyết tật, việc hoàn thiện thể chế pháp luật về người khuyết tật
nói chung, pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nói riêng là vấn đề hết
sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa việc thực hiện tốt pháp luật
chăm sóc sức khỏe người khuyết tật còn góp phần to lớn vào chính sách an sinh
xã hội của đất nước.
Nhằm giải quyết các vấn đề chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách
có hệ thống, hiệu quả, tôi chọn đề tài “Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho
người khuyết tật ở Việt Nam” với mong muốn góp phần vào việc nâng cao ý
nghĩa cuộc sống xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng.
7
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề thực hiện pháp luật về người khuyết tật liên quan đến nhiều Bộ,
ngành, nhiều cấp chính quyền, nhiều lĩnh vực do vậy trong quá trình tổ chức và
thực hiện pháp luật cũng như thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước,
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã có
một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Cụ thể
Nguyễn Thị Báo (2009), Luận án tiến sỹ Luật học “Pháp luật về quyền
của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp hoàn thiện”
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Quyền của người
khuyết tật là mối quan tâm không chỉ của riêng một quốc gia nào. Tôn trọng và
bảo đảm quyền của người khuyết tật là vấn đề mang ý nghĩa nhân đạo, từ thiện,
đồng thời còn mang ý nghĩa kinh tế, xã hội và pháp lý. Nội dung luận án phân
tích thực trạng pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay trên
những mă ̣t ma ̣nh và yế u kém , các cơ hội và thách thức của việc chăm sóc sức
khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật . Nhâ ̣n thức về vấ n đề chăm sóc sức khỏe
sinh sản của phu ̣ nữ khuyế t tâ ̣t hiê ̣n nay vẫn còn rấ t ha ̣n chế , chính vì vâ ̣y mà phu ̣
nữ khuyế t tâ ̣t đánh giá rấ t thấ p tầ m quan tro ̣ng của viê ̣c chăm sóc sức
khỏe sinh
sản. Ngoài ra luận văn còn đánh giá những trở nga ̣i , khó khăn của phụ nữ khuyết
tâ ̣t trong vấ n đề chăm sóc sức khỏe sinh sản
, bao gồ m những khó khăn khách
quan như điề u kiê ̣n về vâ ̣t chấ t , trang thiế t bi ̣ta ̣i các cơ sở khám , chữa bê ̣nh thiế u
thân thiê ̣n, sự kì thi ̣của cán bô ̣ y tế làm viê ̣c trong mảng chăm sóc sức khỏe sinh
sản và xã hội ; những yế u tố chủ quan từ chin
́ h nhâ ̣n thức và thái đô ̣ của phu ̣ nữ
khuyế t tâ ̣t trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe sinh sản . Bên cạnh đó luận văn đưa ra
các vai trò của công tác xã hội nhằm hỗ trợ phụ nữ khuyết tật trong việc chăm
sóc sức khỏe sinh sản như vai trò kế t nố i nguồ n lực , vai trò tham vấ n , vai trò hỗ
trơ ̣, vai trò biê ̣n hô ̣ và mô ̣t số các vai trò khác . Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chấ t lươ ̣ng các dich
̣ vu ̣ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyế t
tâ ̣t nói riêng và người khuyế t tâ ̣t nói chung
Bên cạnh đó còn có một số bài báo, bài nghiên cứu, dự án, hội thảo có liên
quan như :
Dự án: “Dự án phân tích, đánh giá chính sách pháp luật chăm sóc và bảo
vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”, năm 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội.
“Đánh giá việc thực hiện Bộ luật Lao động đối với lao động là người tàn
tật và pháp lệnh người tàn tật” - Nguyễn Diệu Hồng - Bộ Lao động - Thương
những hạn chế, cần tiếp tục nâng cao, hoàn thiện.
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả điều chỉnh pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật ở Việt Nam
hiện nay.
10
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, Đề tài thực hiện các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
Làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật chăm sóc sức khỏe người
khuyết tật.
Đánh giá thực trạng pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những hạn chế và các nguyên nhân của các hạn chế
đó.
Đề xuất các định hướng, kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho
người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay. Cụ thể là các quy định về chăm sóc sức
khỏe người khuyết tật được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động
2012, Luật Người khuyết tật 2010, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo vệ sức khỏe
nhân dân 1989 và các văn bản hướng dẫn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi
hành pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở Việt Nam.
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật ở
Việt Nam
12
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm người khuyết tật
Khái niệm người khuyết tật là cơ sở công nhận ai là người khuyết tật, từ
đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật, phụ thuộc rất nhiều vào phong tục tập
quán, điều kiện kinh tế xã hội và chính sách pháp luật của mỗi quốc gia. Cho nên
không có khái niệm chung về người khuyết tật cho tất cả các nước.
Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật định nghĩa: “Người
khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay
giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào
cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội
trên cơ sở bình đẳng với người khác” [12, Điều 1]. Với định nghĩa này có thể
thấy công ước đã đưa ra những tiêu chí bị suy giảm cụ thể là thể chất, thần kinh,
trí tuệ hay giác quan để đánh giá một người có phải là người khuyết tật hay
không? Việc liệt kê ra những tiêu chí này sẽ giúp việc đánh giá một người có
phải là người khuyết tật hay không dựa trên sự suy giảm của người đó. Tuy
nhiên, với cách liệt kê như vậy sẽ không có sự đánh giá một cách tổng quát và có
sự chồng chéo. Nhiều ý kiến cho rằng việc suy giảm về giác quan cũng chính là
suy giảm về thể chất, hay suy giảm về trí tuệ hay thần kinh đều là suy giảm về
khả năng nhận thức của người khuyết tật. Do vậy có thể dẫn đến bỏ sót nhiều đối
tượng không được liệt kê vào như trẻ tự kỷ cần được đánh giá là người khuyết tật
nhưng không thuộc bất kỳ dạng suy giảm nào trong các tiêu chí trên. Một điểm
Đạo luật về người khuyết tật năm 1990 của Hoa Kỳ: “Người khuyết tật là
người có sự suy yếu về mặt thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến
một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” [23, 42 U.S.C. § 12101]
Với định nghĩa này tiêu chí đưa ra khá tổng quát và việc xác định người khuyết
tật sẽ phụ thuộc chủ yếu và hội đồng xác định mức độ khuyết tật. Định nghĩa
cũng nêu ra sự ảnh hưởng của sự suy yếu về thể chất hay tinh thần đến cuộc sống
hàng ngày của người khuyết tật. Tuy nhiên, khái niệm này lại không đề cập đến
việc thời gian suy giảm của đối tượng có thể dẫn đến hiểu nhầm với những đối
tượng do tai nạn dẫn đến thương tật nhưng hậu quả không kéo dài.
14
Vương quốc Anh: Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm
khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài
đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.” [25, part I, 1]. Với
định nghĩa này Quốc hội Anh đã đưa ra những tiêu chí rất khái quát về việc đánh
giá một người có phải là khuyết tật hay không cả về mặt hình thức suy giảm lẫn
thời gian suy giảm chức năng, đồng thời cũng chỉ ra hậu quả của việc suy giảm
chức năng dẫn đến đối với người khuyết tật.
Tóm lại, có thể thấy mỗi quốc gia đều có cách định nghĩa khác nhau về
người khuyết tật, nhưng nhìn chung thì cũng có những điểm chung nhất định về
cách nhìn nhận đối với các đối tượng này. Người khuyết tật có thể do bẩm sinh
hoặc do tai nạn, làm cho họ bị khiếm khuyết đi một hoặc nhiều bộ phận cơ thể
hay suy giảm chức năng nào đó và làm cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó
khăn. Do đó, Luật Người khuyết tật của Việt Nam đã đưa ra khái niệm về người
khuyết tật thay thế cho khái niệm người tàn tật dựa trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh
về người tàn tật năm 1998 và thể hiện quan điểm tiếp cận về mặt xã hội theo tinh
thần của Công ước về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã ký kết. [14]
Việc nghiên cứu để đưa ra một định nghĩa chung về người khuyết tật cho
mọi quốc gia là không khả thi do những mô hình của khuyết tật chịu ảnh hưởng
tật toàn cầu là dưới 3%. Ở những nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ cao vẫn chưa nhiều mặc dù con số này
đang có xu hướng tăng. [26]
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn
của người khuyết tật ở Việt nam rất thấp 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc,
biết viết; 19.5% học hết cấp 1; 2.75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay
chứng chỉ nghề và ít hơn 0.1% có trình độ đại học hoặc cao đẳng. Nhìn chung chỉ
có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn và chỉ có 4% người có việc làm ổn
định. Hiện có trên 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo.
Người khuyết tật ít có cơ hội tìm kiếm việc làm
Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có khoảng 386 triệu
người trên thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết tật. Tỷ lệ thất nghiệp của
người khuyết tật ở một số quốc gia lên đến 80% bởi thông thường người sử dụng
lao động cho rằng nguời khuyết tật không thể tiếp cận được với công việc.
16
Năm 2004, cuộc điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy có 35% người khuyết tật
trong độ tuổi lao động có việc làm (mặc dù con số này cũng đã khá cao so với
các nước khác), trong khi đó có 75% người không khuyết tật trong độ tuổi lao
động có việc làm. Hai phần ba trong số người khuyết tật thất nghiệp nói rằng họ
muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm.
Nghiên cứu của Đại học Rutgers năm 2003 cho biết một phần ba số người
sử dụng lao động được khảo sát cho rằng người khuyết tật có thể không có hiệu
quả thực hiện công việc theo yêu cầu. Sau nữa lý do phổ biến cho việc không
thuê người khuyết tật là sự sợ hãi phải đầu tư các trang thiết bị tốn kém.
Người khuyết tật gặp khó khăn với hôn nhân
Người khuyết tật khó lập gia đình hơn người bình thường, điều này có
nhiều nguyên nhân. Theo nguyên lý chung con người có xu hướng chọn bạn đời
đã phê duyệt phân loại này vào ngày 22 tháng 5 năm 2001. Các dạng khuyết tật
bao gồm cả khuyết tật về thể chất và tinh thần có thể gây cản trở hoặc làm giảm
hiệu quả của những hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người khuyết tật. Các
dạng khuyết tật theo phân loại này bao gồm:
Khuyết tật thể trạng và vận động: Dạng khuyết tật này ở người khuyết tật
có nhiều mức độ khác nhau như: Khuyết tật chi trên; khuyết tật chi dưới; khả
năng sử dụng tay; khuyết tật khả năng phối hợp giữa các bộ phận của cơ thế.
Khuyết tật vận động có thể do bẩm sinh hoặc do tuổi già, tác dụng phụ của bệnh
đều được liệt vào dạng khuyết tật này.
Khuyết tật tủy sống như: Chấn thương tủy sống đôi khi có thể dẫn đến liệt
suốt đời. Loại khuyết tật này chủ yếu do tai nạn nghiêm trọng gây ra, chấn
thương có thể gây ra trên một phần hoặc toàn bộ tủy sống, khiến chức năng của
tủy sống không thể thực hiện được dẫn đến trạng thái liệt. Một số trường hợp cột
sống bị khuyết tật có thể dẫn đến dị tật.
Chấn thương đầu – khuyết tật não: Dạng khuyết tật này xảy ra do chấn
thương não, dẫn đến việc mất chức năng của một số bộ phận của cơ thể. Cũng có
thể dẫn đến những dạng khuyết tật về thần kinh khác. Dạng khuyết tật này được
chia thành 2 nhóm bao gồm khuyết tật khả năng thu nhận tín hiệu của não khiến
não không nhận được thông tin hoặc không xử lý được thông tin dẫn đến tình
trạng tâm thần. Nhóm thứ 2 là chấn thương não dẫn đến mất chức năng bộ phận
cơ thể đối khi có thể kéo dài vĩnh viên.
18
Khiếm thị: là triệu chứng mất khả năng cảm nhận thị giác một phần hoặc
hoàn toàn (mù). Người khiếm thị là người sau khi được điều trị hoặc điều chỉnh
khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận
thức được sáng tối do giác mạc bị trầy xước, vết trầy xước trên củng mạc, khô
mắt…
Khiếm thính là những trường hợp bị điếc một phần hoặc hoàn toàn.
việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày. (3) Người khuyết tật nhẹ là
người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại 2 trường hợp trên
1.1.3. Ý nghĩa chăm sóc sức khỏe người khuyết tật
Với con người, sức khỏe là vốn quý nhất, có sức khỏe người ta mới có thể
lao động, làm việc, tạo ra của cải vật chất xã hội. Có sức khỏe mới tạo ra những
sản phẩm trí tuệ, chinh phục mọi đỉnh cao của khoa học… Cho nên sống lâu,
sống vui, sống khỏe, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội là mong muốn
cao nhất của tất cả mọi người. Mong muốn đó muốn trở thành hiện thực phải có
chế độ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, tránh mọi bệnh tật. Người khuyết tật như ta đã
biết vì khuyết tật mà sức khỏe của họ bị suy giảm thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe
đối với họ lại càng quan trọng. Có giúp họ vượt qua những khó khăn về tật, bệnh
mới có thể giúp họ hướng tới những hoạt động xã hội, cộng đồng một cách hữu
hiệu, bền vững.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe
toàn dân nói chung và người khuyết tật nói riêng mà mọi quốc gia trên thế giới
đều có chiến lượng chăm sóc sức khỏe toàn dân. Từ việc bảo vệ, chăm sóc sức
khỏe cho người khuyết tật dựa vào người thân trong gia đình hoặc lòng hảo tâm
của các cá nhân, tổ chức tôn giáo (nhà thờ, nhà chùa…) đã được thể chế hóa
bằng pháp luật, bằng trách nhiệm công và cộng đồng. Hầu hết các nước đã có
luật bảo vệ quyền của người khuyết tật, trong đó có nội dung chăm sóc sức khỏe
cho người khuyết tật. Tuy nhiên cho đến nay chưa có văn bản nào đưa ra định
nghĩa thật đầy đủ về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe con người nói chung và
người khuyết tật nói riêng.
Tổ chức Y tế thế giới WHO định nghĩa về sức khỏe “Sức khỏe là trạng
thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm
tình trạng không có bệnh hay thương tật” Với định nghĩa này, người khuyết tật
do bệnh, tật, sức khỏe suy giảm nên khó có thể đạt được sự “thoải mái toàn
20
21
pháp luật. Thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là đưa đường
lối của Đảng vào cuộc sống, khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ
nghĩa. Không thể phủ nhận sự song hành của người khuyết tật trong đời sống xã
hội và điều đó có nghĩa rằng nhà nước cần thiết phải có trách nhiệm đối với việc
bảo đảm quyền tiếp cận mọi mặt của đời sống xã hội. Khi người khuyết tật được
tiếp cận đầy đủ mọi mặt của đời sống xã hội cũng chính là quyền của người
khuyết tật được bảo đảm và họ sẽ được xã hội công nhận và tôn trọng. Từ đó việc
thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật có một ý nghĩa rất to lớn
đối với mọi quốc gia:
Ý nghĩa nhân văn: Chăm sóc sức khỏe người khuyết tật thể hiện một cách
sâu sắc lòng nhân đạo, tương thân tương ái, sự chia sẻ, cảm thông với những
người bất hạnh, yếu thế do những rủi ro nào đó gây ra. Sự giúp đỡ về các điều
kiện vật chất và tinh thần trong quá trình chăm sóc sức khỏe.
Ý nghĩa pháp lý: Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là bảo đảm
quyền được sống, quyền được hưởng thụ thành quả xã hội, mà quyền cao nhất
của người khuyết tật là quyền được chăm sóc sức khỏe. Thực hiện pháp luật
chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật cùng với các pháp luật chuyên ngành
khác còn thể hiện sự công bằng xã hội, thể hiện đúng chức trách của các ngành,
các cấp.
Ý nghĩa kinh tế: Thực hiện chăm sóc sức khỏe giúp người khuyết tật vượt
qua bệnh tật, hòa nhập cộng đồng, tham gia một cách đầy đủ vào các hoạt động
xã hội, xây dựng cuộc sống tự lập, tự tạo hoặc tìm kiếm việc làm mang lại thu
nhập để tự nuôi sống bản thân. Với lực lượng khá đông, nếu được chăm sóc sức
khỏe phù hợp, hiệu quả, người khuyết tật sẽ trở thành nguồn nhân lực đáng kể
cho đất nước.như ta đã biết, người khuyết tật khi tham gia vào bất kỳ sự kiện nào
họ đều là những người say mê, tận tụy và ý chí vươn lên trong công việc.
Ý nghĩa xã hội: Người khuyết tật được chăm sóc đầy đủ cũng thể hiện đạo
Đến nay, cùng với sự thay đổi của cộng đồng quốc tế trong nhận thức và hành
động về vấn đề này, hệ thống pháp luật có những quy định tương thích có hiệu
lực cao để đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật dưới
góc độ quyền con người. Điều này thể hiện một chân lý đơn giản nhưng quan
trọng rằng người nào cũng là con người và họ phải được tôn trọng, bình đẳng
như nhau. Tương ứng với các quyền của từng cá nhân, cần phải có trách nhiệm
23