Thực trạng người cao tuổi và một số giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi ở việt nam - Pdf 43

LỜI NÓI ĐẦU
Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là
trung tâm của sự phát triển. Đảng ta đã khẳng định: "Đi đôi với phát triển,
tăng trưởng kinh tế phải quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Kinh tế
phát triển là cơ sở, nguồn lực đảm bảo cho các chương trình xã hội, giáo
dục, y tế, văn hoá phát triển. Song phát triển xã hội với nền giáo dục, y tế,
văn hoá phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững...".
Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đang có xu hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều
quốc gia. Riêng ở nước ta, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi không chỉ
mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu
sắc thể hiện truyền trống "uống nước nhớ nguồn", "thương người như thể
thương thân" của dân tộc ta. Người cao tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống
hiến lớn lao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta vì vậy
cần phải có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc người cao
tuổi. Người cao tuổi cần được tôn trọng, chăm sóc để tạo mọi điều kiện cho
họ có điều kiện tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích luỹ
được góp phần xây dựng xã hội mới. Một trong những khó khăn mà người
người cao tuổi gặp phải đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sức khoẻ vì vậy
trong chuyên đề này em xin trình bày: "Thực trạng người cao tuổi và một
số giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi ở Việt Nam".
Do thời gian nghiêm cứu có hạn, chuyên đề còn nhiều hạn chế, rất
mong được sự đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để chuyên đề
có thể hoàn thiện hơn.

1


I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

1.Cơ sở lý luận:

+ Chỉ số già hoá: là tỷ lệ giữa số người già so với số trẻ em. Chỉ số
này nói lên mối tương quan giữa hai thế hệ già và trẻ.
Chỉ số già hoá = x 100%
Nếu chỉ số này bằng 100 thì tỷ lệ người già và trẻ em bằng nhau.
Nếu chỉ số này bằng 50 tỷ lệ người già ít hơn trẻ em (bằng một nửa trẻ
em).
Nếu chỉ số này > 100 thì tỷ lệ người già lớn hơn trẻ em.
+ Tốc độ già hoá: là số năm cần thiết để tỷ lệ người già ở một nước
tăng từ 7 - 14% (tức là chuyển từ dân số trẻ sang dân số già).
Khi tốc độ già hoá càng chậm thì các quốc gia càng có điều kiện hoàn
thiện các chính sách bảo hiểm cho người cao tuổi.
Nếu tốc độ già hoá mà diễn ra nhanh thì các quốc gia sẽ không đáp
ứng được nhu cầu của xã hội về phúc lợi xã hội và chăm sóc sức khoẻ.
Vì vậy dự báo chính sách hợp lý nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người cao tuổi.
+ Tuổi trung vị: là tuổi mà tại đó chia đều dân số thành hai phần bằng

4


nhau. Chỉ số này thường được dùng cho những nghiêm cứu về người cao
tuổi. Chỉ số này lớn hơn 30 là dân số già, nếu nhỏ hơn 30 là dân số trẻ.
2.Cơ sở thực tiễn của vấn đề
2.1. Cơ sở thực tiễn
Già là quy luật tự nhiên không thể tránh được tất cả mọi người, nhưng
quá trình già rất khác nhau, có người già sớm, có người già muộn có người
ốm yếu, có người khoẻ mạnh... Chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi
không chỉ kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao chất lượng sống, giúp người cao
tuổi tiếp tục sống khoẻ, sống vui và sống có ích cho xã hội. Chăm sóc sức
khoẻ người cao tuổi vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ "uống nước nhớ nguồn",

Điều này cho thấy cơ cấu dân số nước ta đang có xu hướng già đi, và đây là
một nỗi băn khoăn lớn của xã hội. Có thể có cái nhìn tổng thể về người cao
tuổi ở Việt Nam qua bảng số liệu sau:
Nhóm tuổi

1989

1999

60 - 64

1574

1766

65 - 69

1237

1268

70 - 74

807

1208

75 - 79

564

tạm. Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt, nước sạch... và đặc biệt là các tài sản
có giá trị sinh hoạt văn hoá, đi lại và đời sống hàng ngày khác còn nhiều hạn
chế: 30% người cao tuổi ở nông thôn không có nước sạch và điện sinh hoạt,
56% không có phương tiện dùng cho sinh hoạt, văn hoá tinh thần.
+ Về tình trạng hoạt động kinh tế, thu nhập
Phần lớn người cao tuổi ở nước ta vẫn tham gia vào các hoạt động
nhằm tìm kiếm nguồn thu nhập. Tổng thu nhập từ các nguồn trong năm bình
quân của người cao tuổi nhìn chung còn thấp chỉ khoảng 200.000
đồng/người/tháng. Trong đó thu nhập của người cao tuổi ở thành thị bằng
1,9 lần thu nhập của người cao tuổi ở nông thôn. Với mức thu nhậph trên
người cao tuổi chỉ đủ để đảm bảo mức sinh hoạt tối thiếu của bản thân,
không có điều kiện để tham gia vào các hoạt động văn hoá tinh thần.
+ Về tình trạng sức khoẻ.
Người cao tuổi là những người thường bị các bệnh phổ biến như huyết
áp. các bệnh về thần kinh, hô hấp và các bện về tim mạch. Có tới 42,75%
người cao tuổi bị bệnh nghề nghiệp hoặc bệnh mãn tính. Trong đó khu vực
thành thị là 56,06%, khu vực nông thôn là 35,31%.

7


Điều này đòi hỏi phải có công tác chăm sóc sức khoẻ thường xuyên
cho người cao tuổi nói chung và người cao tuổi ở thành thị nói riêng. Cần
phải có chế độ chăm sóc, điều trị kịp thời bệnh tật cho người cao tuổi nhất là
các bệnh nghề nghiệp và mãn tính.
+ Về sinh hoạt văn hoá của người cao tuổi.
Trong số người cao tuổi ở Việt Nam có 1 tỷ lệ khá lớn người cao tuổi,
đặc biệt là người cao tuổi ở nông thôn không thường xuyên đọc báo, nghe
đài hoặc xem ti vi (trên 50%). Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do nghèo
(trên 65%) do không có điện (trên 24%); do không mua được báo (trên

tuổi còn có một số nguyện vọng khác như được quan tâm, được giao tiếp cởi
mở...
Ở thành thị cũng như nông thôn, ở miền núi cũng như đồng bằng, ở

đâu người cao tuổi cũng mong muốn được Nhà nước, các tổ chức xã hội, và
cộng đồng quan tâm, giúp đỡ để có thể có cuộc sống vui vẻ hơn, hạnh phúc
hơn, no đủ hơn.
Nhu cầu được tham gia vào các hoạt động xã hội ở địa phương là một
trong những nhu cầu xứng đáng của người cao tuổi. Cần mở rộng các hoạt
động xã hội kêu gọi sự tham gia của người cao tuổi để người người cao tuổi
tránh được cảm giác hẫng hụt và mặc cảm cho rằng mình "vô tích sự",
"người thừa" khi về nhà.
III.Nhu cầu dinh dưỡng.
1.Nhu cầu năng lượng
Người cao tuổi hoạt động ít hơn, khối cơ (bắp thịt) của người cao
tuổi cũng
9


giảm đi khoảng 1/3 so với tuổi trẻ. Với một người 70 tuổi, nhu cầu năng
lượng
giảm đi khoảng 30% so với tuổi. Do đó người cao tuổi phải ăn ít hơn lúc còn
trẻ
2.Nhu cầu chất ngọt (gluxit)
Tuổi càng cao càng dễ bị mắc bệnh đái tháo đường
Ăn nhiều đường, uống nhiều nước ngọt, ăn nhiều kẹo bánh ngọt,
đường hấp thu vào máu rất nhanh đến một thời điểm đường huyết cao buộc
tụy tạng phải hoạt động đột xuất tiết ra insulin để điều chỉnh đường huyết.
Nếu diễn ra nhiều lần trong ngày và diễn ra liên tục trong thời gian dài, Ở
người cao tuổi thì sẽ bắt tụy tạng hoạt động quá tải gây ra bệnh đái tháo

Tăng cường sử dụng đậu phụ, sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành,
các loại đậu đỗ và lạc. Các nguồn đạm này ít sinh sunfua, có nhiều chất xơ
giúp thải ra theo phân chất cholesterol.
5.Chuyển hóa nước, vitamin và chất khoáng
Người có tuổi thường giảm nhạy cảm đối với cảm giác khát nước, vì
thế cần có ý thức đề phòng thiếu nước cho người có tuổi trong mùa hè cần
tăng cường lần cho uống nước.Nước đóng vai trò quan trọng trong dinh
dưỡng của NCT. Cơ thể NCT cần phải được cung cấp đủ nước từ 1-1,5 lít
nước ở dạng nước trắng, sữa, nước hoa quả, nước chè. Nên uống nhiều nước
vào buổi sáng, hạn chế vào buổi tối.Nhu cầu vitamin đối với cơ thể cũng vô
cùng quan trọng thường xuyên uống từ 2-3 cốc sữa mỗi ngày để phòng ngừa
phát triển bệnh loãng xương.Bên cạnh đó nhu cầu vitamin đối với cơ thể
cũng vô cùng quan trọng như vitamin có tính chốố́ng lão hóa A,C,E . vitamin
PP ,Vitamin nhóm B.. Các chất khoáng như: kali, magie, kẽm, đồng, sắt và
một số acid hữu cơ, chú trọng bổ sung canxi, vì NCT dễ có nguy cơ loãng
xương.

6.Thực đơn dành cho người cao tuổi
Thực đơn 1
Sáng:
Bánh canh tôm thịt
Trưa:
Cơm
Thịt kho tiêu
Cải bẹ xanh cá thác
lác
Chiều:
Cơm
Cá thu chiên nước
mắm Đậu bắp luộc

12


7.Năng lượng trong 1 ngày
Thực đơn
Sáng: cháo cá rô
Trưa: cơm
cá thu chiên
canh rau dền mồng tơi
Chiều: cơm
thịt kho trứng
Tính năng lượng
sáng
Protid
Gạo tẻ 100g
Cá rô 200g
Muối 10g
Đường 10g

7,9
38,2
0
0
46,1
613,03Kcal = 189,01
Trưa
Gạo tẻ 50g
Cá thu 50g
rau dền 100g
Mồng tơi 100g

0
0
76,2
312,42
38,1
0
6,2
1,4
45,7
187,4

Chiều
Gạo tẻ 50g
3 rọi 50g
Trứng gà 50g

3,95
0,5
38,1
8,3
10,8
0
7,4
5,8
0,25
19,7
17,1
38,5
393,87 Kcal = 80,6 +
159,03 +

Không hút thuốc lá : thuốc là là yếu tố nguy hại nhất làm tăng nguy
cơ ung thư phổi, gây ảnh hưởng xấu đến mọi bộ phận, đẩy nhanh tốc độ
giảm khối lượng xương và chức năng hô hấp.
10.Những lời khuyên về ăn uống đối với người cao
tuổi
1.Ăn thức ăn đa dạng
Không có một loại thức ăn nào có thể cung cấp đầy đủ chất dinh
dưỡng cho cơ thể, chỉ có ăn nhiều hay ít mà thôi.Vì vậy, thức ăn hàng ngày
của người cao tuổi càng đa dạng càng tốt.Một chế độ dinh dưỡng tốt là mỗi
bữa ăn phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.
2. Ăn nhiều các loại rau tươi
Sẽ bổ sung các vitamin, muối khoáng cần thiết mà cơ thể người cao
tuổi không thể tự tổng hợp được.Tổ chức Y tế Thế giới khuyên nên ăn rau
quả quanh năm với mức 400g/ngày, cung cấp ít nhất 7% năng lượng.
3. Ăn nhiều cá
Có khả năng chống lại nhiều nguy cơ gây bệnh từ hen phế quản đến
ung thư tiền liệt tuyến.Cá giàu chất đạm, nhiều acid béo tốt có tác dụng
chống bệnh tim mạch và ung thư,phòng chống bệnh ở những người hút
thuốc lá và người bị đái tháo đường.Nên ăn cá thường xuyên, ít nhất 2 lần
trong tuần
4. Ăn nhiều chất xơ
Có vai trò trong việc :chống táo bón, giảm cholesterol máu làm


tránh xơ vữa động mạch, đái tháo đường, béo phì…Nên ăn khoảng 20-35g
chất xơ/ngày, tức tiêu thụ tối thiểu 300g rau/ngày và ăn ít nhất 100g quả
chín/ngày.
5. Giảm chất đường, chất bột
Nhu cầu về năng lượng giảm 30% so với tuổi 20. Người cao tuổi
nên ăn các thức ăn chứa tinh bột giàu chất xơ như bánh mì đen, ngũ cốc

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHĂM SÓC SỨC KHOẺ CHO NGƯỜI CAO
TUỔI.

1.

Tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của người cao tuổi
Già là quy luật tự nhiên không thể tránh khỏi khi tuổi đã khá cao, ở


mỗi người sự lão hoá của các bộ phận trong cơ thể có sự khác nhau cả về
thời gian và tốc độ. Già không phải là bệnh lý nhưng là điều kiện cho bệnh
tật phát sinh, phát triển vì tuổi già khả năng tự điều chỉnh, thích nghi, khả
năng hấp thu, khả năng dự trữ dinh dưỡng kém, sự tự vệ với các vi khuẩn
gây bệnh bị giảm sút. Sức khoẻ người cao tuổi ở Việt Nam qua điều tra sơ
bộ như sau:
Tình trạng sức khoẻ

1979

1989

1995

1998

Tốt

1,75%

3,71%

Địa dư

Miền núi

Miền biển

Đồng bằng

Thành thị

Tốt

4,4

2,6

3,6

27/,0

Trung bình

69,6

65,4

66,1

61,1



bó hẹp trong phạm vu y tế, mà còn hao trùm cả các vấn đề xã hội khác. Vấn
đề chăm sóc sức khoẻ của người cao tuổi được thực hiện bao gồm cả vấn
đề kinh tế xã hội, từ phòng bệnh đến chữa bệnh.
2.1. Nhóm giải pháp bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi trên lĩnh vực
sản xuất.
Phần lớn người cao tuổi ở nước ta vẫn đang tham gia vào các hoạt
động kinh tế để tìm kiếm thu nhập vì vậy mà tình trạng sức khoẻ của họ bị
giảm sút rất nhanh vì vậy cần phải tiến hành một số giải pháp sau để bảo vệ
sức khoẻ của người cao tuổi.
- Xúc tiến các hình thức lao động phù hợp với nhu cầu, năng lực,
tình trạng sức khoẻ hiện thời của người cao tuổi.
- Nghiêm cấm các hành bi phân biệt với những người lao động là
người cao tuổi, các hành vi lạm dụng người cao tuổi đuổi việc người cao
tuổi khi người cao tuổi gặp ốm đau...
- Tạo ra nhiều hoạt động kinh tế đặc biệt là các hoạt động kinh tế phù
hợp với khả năng, trình độ, tình hình sức khoẻ hiện tại của người cao tuổi.
- Loại trừ mọi sự ràng buộc đối với những lao động là người cao
tuổi. Khi họ không thể hoàn thành số thời gian lao động, sản phẩm phải sản
xuất...
- Khuyến khích các hình thức bảo hiểm mềm dẻo hơn các hình thức


bảo hiểm bắt buộc để người cao tuổi có thể tự nguyện tham gia và được
bảo vệ về quyền lợi.
- Tạo điều kiện về đất đai, tư liệu sản xuất để người cao tuổi có thể
tham gia vào các hoạt động sản xuất và với kinh nghiệm sống của mình
góp phần xây dựng kinh tế đất nước.
- Hỗ trợ, mở rộng các chính sách phù hợp khuyến khích các cơ sở
dạy nghề của người cao tuổi để người cao tuổi có cơ hội truyền đạt các

điều kiện được chăm sóc sức khoẻ, chữa trị bệnh tật.
2.4. Nhóm giải pháp chăm sóc sức khoẻ trên lĩnh vực văn hoá, thể
dục thể thao.
- Phát triển và tăng cường vệc học tập của người cao tuổi, có những
hình thức đào tạo cho người cao tuổi, xoá bỏ mọi hình thức phân biệt, tạo
điều kiện để người cao tuổi tiếp cận với hệ thống giáo dục.
- Xúc tiến việc giáo dục những vấn đề liên quan đến tuổi già đặc biệt
là quá trình lão hoá công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ.
- Tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi tham gia vào các hoạt
động văn hoá thể dục thể thao, tham gia vào các tổ chức xã hội và tham gia
để đưa ra được quyết định liên quan trực tiếp đến bản thân mình.
- Nghiên cứu, phát triển các loại hình thể dục thể thao phù hợp với
thể lực, đặc điểm sức khoẻ của người cao tuổi.
3.

Trách nhiệm của gia đình và xã hội đối với người cao tuổi.
3.1. Trách nhiệm của gia đình
- Con cháu phải tạo môi trường sống thuận lợi để chăm sóc cả về vật


chất lẫn tinh thần cho người cao tuổi cần phải tôn trọng người cao tuổi,
thương yêu và chăm sóc người cao tuổi.
- Trách nhiệm của ông bà, cha mẹ là dạy dỗ chăm sóc con cái, tạo
môi trường thuận lợi nhất cho quá trình phát triển của trẻ.
- Nhà nước cần phải có những chính sách khuyến khích các tổ chức,
cá nhân nghiên cứu và phát triển các dịch vụ gia đình và giảm nhẹ lao động
gia đình để các thành viên trong gia đình có điều kiện quan tâm chăm sóc
lẫn nhau.
3.2. Trách nhiệm của Nhà nước.
- Hỗ trợ phát triển hội người cao tuổi và hội vì người cao tuổi.

người cao tuổi. Một tuổi già vui vẻ và có ích trước hết phải là một tuổi già
có sức khoẻ.


Võ Văn Thắng

13000062

Nguyễn Ngọc Sang 13002452
Lê Nhật Phong

13002652

Phạm Hải Phương

13002222





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status