Chuyên đề
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNG GHEN, V.I.LÊNIN, HỒ CHÍ MINH
VỀ KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
* * *
I. QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNG GHEN VỀ KINH TẾ XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
1. Hoàn cảnh lịch sử
- Chủ nghĩa tư bản đang phát triển, tình thế cách mạng vô sản chưa đặt ra
trực tiếp nên những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội nói chung và những
vấn đề về thời kỳ quá độ nói riêng chưa phải là mục đích nghiên cứu trực tiếp
của Mác và Ăngghen.
- Những tư tưởng đưa ra mới chỉ ở dạng phác thảo, 3 - 1895 trong lời tựa
cuốn sách: “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” (tập 22 - 1995, tr. 761) dựa trên sự
phát triển có tính chất lôgíc quá trình vận động của chủ nghĩa tư bản chứ chưa
phải phân tích những vấn đề chủ nghĩa xã hội hiện thực.
- Hoàn cảnh lịch sử cụ thể của thời kỳ lịch sử này gắn liền với luận điểm
của Mác - Ăngghen về cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi đồng thời ở các
nước tư bản phát triển nhất.
Nhưng lịch sử lại không diễn ra như vậy (theo luận điểm của Lênin thì
chỉ có thể nổ ra và giành thắng lợi ở một nước hoặc một số nước).
2. Những quan điểm về kinh tế XHCN
a. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa - kết quả tất yếu của sự
phát triển hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, là quá trình lịch sử tự
nhiên.
- Dựa trên thế giới quan duy vật về lịch sử, Mác và Ăngghen khẳng định
mọi sự biến đổi của các chế độ xã hội trong lịch sử đều là quá trình phát triển
lịch sử tự nhiên. Quá trình vận động của xã hội loài người tất yếu tiến tới
phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
- Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, Mác chỉ rõ:
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.1, tr.616
chủ nghĩa ra, sau những cơn đau để kéo dài” và giai đoạn sau là “xã hội cộng sản
chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó” hay là “giai đoạn cao hơn.”2
* Mác và Ăngghen căn cứ vào tiến trình phát triển đã dự báo ban đầu
về đặc trưng của xã hội cộng sản chủ nghĩa:
Một là, lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao.
Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa cộng sản phát triển ở trình độ cao, cao
hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Đó là lực lượng sản xuất của nền sản xuất lớn
về qui mô, hiện đại về khoa học - công nghệ, có môi trường sinh thái bảo đảm
cho sự phát triển ổn định, bền vững. Lực lượng sản xuất phát triển cao là điều
kiện kinh tế vật chất cho sự phát triển tự do của mỗi thành viên trong xã hội.
Hai là, chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ
người bóc lột người bị thủ tiêu.
Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội dựa trên chế độ sở hữu xã hội về tư
liệu sản xuất, là xã hội giải phóng một cách hiện thực những điều kiện vật
chất, cho phép xóa bỏ tình trạng dùng tư liệu sản xuất làm phương tiện để nô
dịch bóc lột lao động.
Người lao động quan hệ hợp tác với nhau và có cơ hội phát triển như nhau. “
(tất cả các thành viên trong xã hội quan hệ với nhau như những người sở hữu
chung các tư liệu sản xuất ) nghĩa là việc xã hội hóa tư liệu sản xuất trên qui mô
toàn bộ nền kinh tế quốc dân” ( Mác - Ăngghen tuyển tập, tập 4, tr.187.)
Mác - Ăngghen chỉ ra rằng, không thể thủ tiêu ngay lập tức chế độ tư hữu
được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào tạo lập được một lực
lượng sản xuất hiện đại, năng suất lao động rất cao thì mới xoá bỏ được chế
độ tư hữu (lấy biện pháp kinh tế là chủ yếu). Điều kiện này chỉ có được trong
giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa. (10 biện pháp được nêu trong
Tuyên ngôn của ĐCS).(tập 4 1995, tr, 470, 471; 627).
quyền vẫn là tự phát vô chính phủ, mà nó có thể kế hoạch được).
Vấn đề thị trường:
Mác và Ăngghen cho rằng, trong nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa tương lai,
tính chất hàng hóa đối với người sản xuất sẽ không còn. Mác viết: “Trong một
trật tự xã hội cộng sản chủ nghĩa được xây dựng trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất, những người sản xuất không trao đổi sản phẩm của họ; ở đây lao động
đã nhập vào trong sản phẩm cũng vậy, không còn biểu hiện như là giá trị của
những sản phẩm ấy, không còn biểu hiện như một tính chất thật sự mà những
sản phẩm ấy vốn có, vì từ nay, trái với điều xảy ra trong xã hội tư bản, lao động
của cá nhân trở thành bộ phận khăng khít của lao động của công xã không phải
bằng con đường quanh co, mà bằng con đường trực tiếp” ( Mác - Ăngghen, Phê
phán cương lĩnh Gô ta và Ecphuya, Nxb Sự thật, H.1957, tr. 24).
Theo Ăngghen thì: Một khi xã hội nắm trong tay các tư liệu sản xuất và
sử dụng tư liệu sản xuất đó để sản xuất dưới hình thức trực tiếp xã hội hóa, thì
lao động của mỗi người, dù tính chất đặc thù của lao động có khác nhau đến
đâu chăng nữa, ngay từ đầu và trực tiếp cũng trở thành lao động xã hội. Khi ấy
người ta không cần dùng đường vòng để xác định số lượng lao động xã hội xã
hội nằm trong một sản phẩm. Nguyên lý về tính chất xã hội trực tiếp của lao
động sản xuất đã khiến cho sự thủ tiêu quan hệ giá trị trở thành một tất yếu
kinh tế là đặc trưng của xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của
chính nó.
Năm là, sự phân phối sản phẩm bình đẳng.
Do lực lượng sản xuất có sự phát triển cao độ, xã hội cộng sản chủ nghĩa
sẽ sản xuất ra số lượng sản phẩm dồi dào và tổ chức phân phối một cách khoa
học nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội. Nguyên tắc
chung của sự phân phối sản phẩm trong xã hội cộng sản chủ nghĩa là theo sự
thoả thuận chung, hay nói cách khác là sự phân phối bình đẳng với những hình
thức cụ thể tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nguyên
giống nhau”. 3 Trong thời kỳ quá độ vẫn còn giai cấp và nhà nước, mà đó là
nhà nước chuyên chính vô sản.
Bốn là, lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ và còn sự khác nhau về
lao động, do đó kết quả lao động cũng khác nhau.
Năm là, thực hiện phân phối theo lao động, nghĩa là mức sống của người
lao động không thể vượt quá điều kiện kinh tế mà chế độ kinh tế đạt được, sự
hưởng thụ của cá nhân căn cứ vào lao động của họ đóng góp ở thời kỳ này.
Theo đó, phân phối ở thời kỳ này còn mang dấu vết “pháp quyền tư sản”.
2. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về những vấn đề kinh tế của
thời kỳ quá độ
a. Sự cần thiết khách quan của thời kỳ quá độ.
3
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.23, tr. 175.
Thời kỳ quá độ dài:
Đây là thời kỳ cần thiết để tiến hành những cải biến cách mạng làm biến
đổi căn bản mọi lĩnh vực để chuyển từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản. Sự
cần thiết của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản được
quyết định bởi tính chất đặc thù của sự ra đời và hình thành quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa. Theo Mác: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản
chủ nghĩa là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích
ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy
không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô
sản.” 4 Ăngghen cho rằng, cần phải có hành động chính trị của giai cấp vô sản
và có chuyên chính vô sản, coi đó là bước quá độ chuyển sang thủ tiêu giai
cấp và, cùng với giai cấp thì thủ tiêu Nhà nước”.
Thời kỳ quá độ ngắn:
Mác chỉ ra rằng, thời kỳ quá độ là thời kỳ mà về phương diện kinh tế, đạo
và những nhiệm vụ cụ thể gì thì Mác và Ăngghen chưa đề cập đến.
II. QUAN ĐIỂM CỦA, V.I.LÊNIN VỀ KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
1. Hoàn cảnh lịch sử
Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản giai đoạn tự do
cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì cách mạng xã hội chủ
nghĩa đặt ra một cách trực tiếp, quan điểm của Lênin về chủ nghĩa xã hội đã
được hình thành. Đó là sự vận dụng và phát triển học thuyết Mác về chủ nghĩa
cộng sản và về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản để chỉ đạo cuộc cách
mạng tháng 10 Nga thành công và kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
Nga. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai
đoạn mới, Lê nin đã xây dựng lý luận về chủ nghĩa đế quốc, và vạch rõ sự
phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa cực kỳ
không đều. Từ đó, Lê nin đã rút ra kết luận về khả năng thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội trước tiên ở một nước hoặc ở một số nước riêng lẻ và chủ nghĩa
xã hội không thể thắng lợi cùng một lúc trong tất cả các nước. Sự phân tích
của Lê nin về những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa đã dẫn đến nhận thức mới về chủ nghĩa tư bản và thời kỳ quá độ từ
5
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.22, tr. 629-630.
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra những
tiền đề vật chất làm cơ sở hiện thực cho sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
2. Quan điểm của Lê nin về kinh tế xã hội chủ nghĩa
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với các dân tộc, một khi giành
được chính quyền thiết lập chuyên chính vô sản. Vấn đề xác định các nguyên
lý, mục tiêu, biện pháp kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội nhằm xây dựng
có sự lãnh đạo của đảng và sự giúp đỡ của nhà nước.
Biện pháp công nghiệp hóa mà Lênin nêu ra là nhằm xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Tiến hành cách mạng văn hoá- tư tưởng để xóa mù chữ, nâng cao trình độ
dân trí, đào tạo đội ngũ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao cho nền kinh tế.
Cách mạng tư tưởng - văn hóa nhằm xây dựng nền văn hoá mới và con người
mới XHCN.
Lênin khẳng định, xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng những bước đi trung
gian, quá độ gián tiếp thông qua phát triển kinh tế hàng hóa, sử dụng cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần, thực hiện rộng rãi các hình thức kinh tế quá độ của
chủ nghĩa tư bản nhà nước. Đó chính là yêu cầu cơ bản trong chính sách kinh
tế mới do Lênin đề xuất và tổ chức thực hiện.
Sự ra đời của chính sách kinh tế mới xuất phát từ chính sách kinh tế cũ chính sách cộng sản thời chiến tuy đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi
cuộc nội chiến, song không còn phù hợp khi đã có hoà bình do nội dung chính
sách này là xoá bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ, xoá bỏ tự do mua bán lương
thực trên thị trường. Chính sách đã trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển lực
lượng sản xuất, làm mất vai trò động đối với nông dân do chủ trương trưng thu
lương thực thừa của họ mà đa số họ là trung nông.
Nội dung và biện pháp chủ yếu của chính sách kinh tế mới là: Thay thế
chế độ trưng thu trưng mua lương thực thừa bằng thu thuế lương thực; tổ chức
thị trường, mở rộng thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hóa - tiền tệ giữa
nhà nước với nông dân, giữa thành thị với nông thôn, giữa công nghiệp với
nông nghiệp và sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức
kinh tế quá độ, phát triển quan hệ hợp tác với các nước phương Tây.
Nhờ chính sách kinh tế mới mà đã khôi phục được nền kinh tế sau chiến
tranh, từ “nước Nga đói” trở thành nước có lương thực dồi dào. Củng cố liên
minh công - nông, củng cố lòng tin nhân dân vào bản chất tốt đẹp của chủ
nghĩa xã hội theo nguyên lý của Lê nin nêu ra. Chính sách kinh tế mới đánh
V.I. Lê nin, Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, M. 1977, tr. 309.
V.I. Lê nin, Toàn tập, t.44, Nxb Tiến bộ, M. 1978, tr. 189.
7
Luận
điểm này của Lênin bao gồm những nội dung chủ yếu là: không thể quá độ
trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp chứ không thể
“quá vội vàng thẳng tuột, không được chuẩn bị”. 8 Những bước quá độ ấy, theo
Lênin là chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủ nghĩa xã hội. Bước quá độ nhỏ từ
chủ nghĩa tư bản nhà nước thể hiện trong nội dung chính sách kinh tế mới
(NEP). Khi thực hiện NEP, chúng ta có sự nhượng bộ tạm thời và cục bộ đối
với chủ nghĩa tư bản nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, từng bước
xã hội hóa sản xuất trên thực tế.
Theo Lênin, một nước lạc hậu có thể quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa khi có những điều kiện
khách quan và điều kiện chủ quan. Điều kiện khách quan là phải có một
nước giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng vô sản, tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Nêu tấm gương và giúp đỡ các nước lạc hậu tiến lên chủ
nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Điều kiện chủ
quan là phải hình thành được các tổ chức đảng cách mạng và cộng sản, phải
giành được chính quyền về tay nhân dân, xây dựng nhà nước của nhân dân
và vì nhân dân. Lênin cho rằng, không thể thiếu hai điều kiện khách quan
và chủ quan của quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa.
b. Chỉ ra đặc trưng kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn.
c. Chỉ ra những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ
Một trong những điều kiện chủ yếu làm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa
thắng lợi là giai cấp công nhân có ý thức về quyền thống trị của mình và sử
dụng quyền đó trong bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
Theo đó, cần phải lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ
kinh tế trong thời kỳ quá độ, đó là:
Một là, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Cơ sở duy nhất và thực sự để làm tăng của cải vật chất, để xây dựng chủ
nghĩa xã hội chỉ có thể là đại công nghiệp. Do đó, phải khôi phục đại công
nghiệp, cơ sở kinh tế vững chắc trong nghành đại công nghiệp cơ khí hoá và
vận dụng nó vào nông nghiệp và vận tải, phải điện khí hoá toàn quốc. Theo
Lênin, “Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công
nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Một nền đại công nghiệp ở
vào trình độ kỹ thuật hiện đại...đó là điện khí hoá cả nước.” 9 Nhiệm vụ công
nghiệp hoá không những tăng thêm tỷ lệ của công nghiệp, nhất là phát triển
ngành sản xuất tư liệu sản xuất mà còn phải bảo đảm sự độc lập về mặt kinh
tế của đất nước. Muốn thế phải dùng những biện pháp nhanh chóng và quan
trọng để nâng cao các lực lượng sản xuất sản xuất của nông dân; phải tăng
cường trao đổi sản phẩm của đại công nghiệp lấy các sản phẩm của nông dân;
phải tích luỹ vốn, phải tiết kiệm về mọi mặt.
Hai là, cải tạo nền kinh tế theo xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện nhiệm vụ này cần phải xác định rành mạch mục đích cuối
cùng của những cải tạo và đề ra những biện pháp cải tạo phù hợp. Theo Lênin:
Mục đích cải tạo “là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội
không chỉ hạn chế ở việc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và tư
liệu sản xuất, không chỉ hạn chế ở việc kiểm kê và giám sát một cách chặt chẽ
việc sản xuất và phân phối sản phẩm”.10 Các biện pháp được sử dụng là:
Lênin viết: “chúng ta sẽ có thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội hay
không, điều đó chính là tuỳ ở những kết quả của chúng ta trong việc kết
hợp Chính quyền Xô viết và chế độ quản lý Xô viết với những tiến bộ mới
nhất của chủ nghĩa tư bản.
Để chuyển sang lối canh tác tập thể, kinh doanh tập thể trên qui mô lớn,
chính phủ công nông không thể dùng bất cứ một biện pháp cưỡng bức nào cả,
và cả luật pháp cấm điều đó. Do đó phải quản lý bằng phương pháp kinh tế và
thuyết phục nhân dân tự nguyện là chủ yếu.
Khi giai cấp công nhân, giai cấp nắm chính quyền Nhà nước trong
tay...thì mới thu hút được đông đảo quần chúng nông dân đi theo mình, một
cách vững chắc và thật sự. Theo đó, phải gắng sức xây dựng một nhà nước xã
hội chủ nghĩa và giúp dân tiếp cận với nguồn vốn sản xuất, ủng hộ .
Vấn đề cán bộ là vấn đề quyết định đối với việc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Theo đó, phải thu hút và đào tạo các kỹ thuật và chuyên gia vào công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Phải xây dựng được những cơ sở của việc tổ chức thi đua xã hội chủ
nghĩa rộng rãi với qui mô to lớn và mặt khác phải dùng những biện pháp
cưỡng bách cần thiết không để xuất hiện trạng thái nhu nhược mềm yếu của
chính quyền vô sản trong đời sống thực tiễn.
III. QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ
12
V.I.Lênin, Toàn tập, tập 31, Nxb ST, Hà Nôị 1969, tr. 639.
NGHĨA VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
1. Quan điểm Hồ Chí Minh về sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa
Sau nhiều năm buôn ba, tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh là nhà yêu
nước Việt nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin qua Lênin và cách
mạng Tháng Mười Nga. Từ đó người đã tìm thấy con đường giải phóng cho
Trong khi khẳng định, tiến tới chế độ cộng sản là mục đích chung của tất
cả những người lao động trên toàn thế giới, thì Hồ Chí Minh còn chỉ ra việc
thực hiện mục đích ấy của mỗi nước phải tuỳ điều kiện cụ thể của mình mà
tiến dần.
Cụ thể đối với nước ta, Người chỉ rõ: ''Tính chất thuộc địa và phong kiến
của xã hội Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước
thứ nhất là đánh đế quốc, đánh phong kiến thực hiện người cày có ruộng…
bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội tức giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng
sản'' (T7, Tr. 209).
Như vậy cách mạng Việt nam sẽ trải qua hai giai đoạn, tức là sau khi làm
xong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì cách mạng Việt Nam sẽ tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Tóm lại: quan điểm nhất quán xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
sự lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam là con đường xã hội chủ
nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Quan điểm đó đã được
thể hiện một cách sinh động và sáng tạo trong suốt quá trình phát triển của
cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ và đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
2. Về bản chất của chủ nghĩa xã hội
Nắm vững học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất phát từ
đặc điểm của xã hội Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông
nghiệp lạc hậu không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh
đã nêu lên những luận điểm sáng tạo về những đặc trưng của chủ nghĩa cộng
sản nói chung và về những đặc trưng phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam nói riêng.
Về đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định:'' Chủ
nghĩa cộng sản là chế độ xã hội không có chế độ tư hữu, không có giai cấp áp
bức bóc lột, là của cải đều của chung, sức sản xuất cao, nhân dân lao động
hoàn toàn giải phóng và rất tự do, sung sướng'' (T7, Tr.243)
3. Những vấn đề kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cũng giống như nhiều vấn đề khác, tư tưởng của Bác về những vấn đề
kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không được trình bày tập trung
thành một tác phẩm chuyên khảo, mà được đề cập rải rác ở nhiều bài nói và
viết trong các hoàn cảnh khác nhau. Tập hợp lại, chúng ta có thể thấy tư tưởng
của Hồ Chí Minh về những vấn đề kinh tế của thời kỳ quá độ toát lên một số
vấn đề sau:
* Về đặc điểm, nhiệm vụ và độ dài của thời kỳ quá độ của nước ta.
Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định việc
phải trải qua thời kỳ quá độ là bước đi tất yếu của con đường tiến lên chủ nghĩa
xã hội. Người viết:'' Con đường của chúng ta ngày nay ở miền Bắc là qua thời
kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội…chỉ có đi theo con đường ấy, miền Bắc
nước ta mới vĩnh viễn thoát khỏi cảnh nghèo đói lạc hậu và xây dựng cơ sở
vững chắc cho sự nghiệp thống nhất tổ quốc'' (T10, Tr. 79). Trên thực tế, ngay
sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng thì chúng ta đã bước vào thời kỳ
quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.
Về đặc điểm của thời kỳ quá độ ở nước ta, Bác chỉ rõ đặc điểm lớn nhất
của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là chúng ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Bác viết: ''Đặc
điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa'' ( T10, Tr. 3).
Xuất phát từ tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và từ đặc
điểm của thời kỳ quá độ ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nêu lên những nhiệm vụ
kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ. Bác viết:'' Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng
một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta.
Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen… có gốc rễ từ ngàn
tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước. Trong đó kinh tế quốc doanh là công, là
nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức
phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó'' ( T7, Tr, 221).
Về cơ cấu ngành, theo Bác việc phát triển kinh tế cần phải chú ý đến sự
phát triển đồng bộ của cả ba ngành: công nghiệp, nông nghiệp và thương
nghiệp. Bác viết: '' Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có
ba mặt quan trọng: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác
quan hệ mật thiết với nhau. công nghiệp và nông nghiệp như hai cái chân của
con người. Hai chân có mạnh thì đi mới vững chắc, nông nghiệp không phát
triển thì công nghiệp cũng không phát triển được. Ngược lại không có công
nghiệp thì nông nghiệp cũng khó khăn. Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ
với nhau rất khăng khít. Thương nghiệp là cái khâu giữa công nghiệp và nông
nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương
nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương
nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng
cố được liên minh công nông''(T8, Tr.174 và T10, Tr.619).
Đồng thời, do đặc điểm nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước
nông nghiệp nên theo Bác trong thời kỳ quá độ, cần phải đặc biệt quan tâm đến
sự phát triển của nông nghiệp để lấy đó làm tiền đề cho công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa. Bác viết:'' Chúng ta phải ra sức tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc
trong công cuộc phát triển nông nghiệp vì: ''có thực mới vực được đạo'', phải làm
cho nhân dân ta ngày càng thêm ấm no. Nông nghiệp phải cung cấp đủ lương
thực và nguyên liệu để phát triển công nghiệp để bảo đảm công nghiệp hoá xã
hội chủ nghĩa. Nông nghiệp tốt, công nghiệp tốt thì xây dựng tốt chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc'' (T10, Tr. 379).
* Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa
xã hội của nước ta là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
tác hoá, tức xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp. Người viết: '' Việt Nam là
một nước nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công
cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào
nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta
thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh thì cần
phải có hợp tác xã.'' (T4, Tr.215).
Bằng lối trình bày mộc mạc, dễ hiểu Hồ Chí Minh không chỉ đã đưa ra khái
niệm rất súc tích về hợp tác xã mà còn phân tích ích lợi của hợp tác xã. Người
viết: ''Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức lại với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó
nhọc ít mà ích lợi nhiều. Vì vậy hợp tác xã là một tổ chức có lợi cho nhà nông,
giúp nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân''. Bác chỉ rõ mục đích
của việc thành lập các hợp tác xã là nhằm'' cải thiện đời sống của nông dân, làm
cho nông dân được ấm no, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dân giàu, nước
mạnh'' (T9, Tr. 537).
- Về phương châm tổ chức hợp tác xã, là cần phải phát triển nhiều hợp
tác xã mà hình thức đầu tiên là thành lập các tổ đổi công.
- Về nguyên tắc xây dựng hợp tác xã, theo Bác việc xây dựng hợp tác xã
mà trước hết là tổ đổi công cần phải thực hiện các nguyên tắc sau:
+ Không được cưỡng ép. Tức là phải để cho nông dân tự nguyện vào HTX.
+ Đều có lợi ''làm sao cho những gia đình tổ đổi công đều có lợi''.
+ Quản lý dân chủ '' Tổ đổi công thì phải có tổ trưởng hoặc ban quản trị,
quản trị phải dân chủ''.
- Về phương pháp tổ chức hợp tác xã, Bác chỉ đạo :
Một là, không được làm mau, làm ẩu, phải đi bước nào vững vàng, chắc
chắn bước ấy, cứ tiến tới dần dần.
Hai là, phải thiết thực. Bác viết:'' đã tổ chức là phải làm việc thiết thực,
chứ không phải tổ chức cho có tên mà không có thực tế''.
Ba là, phải làm từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao. Bác huấn thị: '' phong
công việc quản lý một cách nghiêm chỉnh''. Bác còn chỉ rõ: ''Quản lý một nước
cũng như quản lý doanh nghiệp phải có lãi, cái gì ra cái gì vào, việc gì phải
làm ngay, việc gì chờ, hoãn, huỷ bỏ, món gì đáng tiền, người nào đáng dùng,
tất cả mọi thứ đều phải được tính toán cho cẩn thận'' ( T11, Tr. 110).
- Khi đề cập đến công cụ quản lý kinh tế, mà cụ thể là công tác kế hoạch
hoá. Bác cho rằng, việc xây dựng kế hoạch cần phải chú ý các yêu cầu sau:
+ Một là, kế hoạch phải cân đối, nhìn xa, trông rộng.
Bác viết: ''khi đặt kế hoạch phải nhìn xa, có nhìn xa mới quyết định đúng
thời kỳ nào phải làm công việc quản lý là chính. Phải thấy rộng, có thấy rộng
mới sắp đặt các ngành hoạt động có hiệu quả một cách cân đối''.
+ Hai là, phải bảo đảm nguyên tắc dân chủ.
+ Ba là, phải thiết thực, tính toán các điều kiện cụ thể. Bác viết: ''Kế hoạch
sản xuất không định theo cách quan liêu, mà phải liên hệ chặt chẽ với tình hình
kinh tế, với nguồn của cải, với sự tính toán rõ rệt sức hậu bị của ta, kế hoạch
không nên sụt lại sau, nhưng cũng không nên chạy quá trước sự phát triển của
công nghệ, không nên xa rời nông nghiệp, không nên quên lãng sức tiết kiệm
của ta'' ( T6, Tr. 498).
+ Bốn là, phải có biện pháp cụ thể vững chắc, có tinh thần cố gắng cao.
Trong công tác kế hoạch hoá, từ khâu lập kế hoạch đến khâu tổ chức thực
hiện, khâu nào cũng quan trọng. Nhưng theo Hồ Chí Minh, khâu đề ra các
biện pháp thực hiện là quan trọng nhất. Người viết: ''Đặt ra kế hoạch thật tốt,
thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu. Kế hoạch 10 phần thì biện pháp
cụ thể phải 20 phần. Chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần, có như thế mới
chắc chắn hoàn thành được kế hoạch'' (T10, Tr. 266).
Trong công tác quản lý kinh tế ở tầm vi mô, để quản lý tốt xí nghiệp, Bác
cho rằng cần phải thực hiện tốt ba điều: ''Tất cả cán bộ lãnh đạo phải thật sự
tham gia lao động chân tay. Tất cả công nhân phải tham gia công việc quản lý
các tổ sản xuất, dưới sự lãnh đạo của cán bộ các phân xưởng. Sửa đổi chế độ