TÌM HIỂU SU BIẾN ĐỔI, THÍCH NGHI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
NGÀY NAY VÀ SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Chủ nghĩa tư bản (CNTB) với tư cách là một phương thức sản xuất xã
hội, từ khi ra đời đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Giai đoạn
phát triển của nó từ chiến tranh thế giới thứ hai đến nay diễn ra rất phức tạp,
với nhiều biểu hiện mới, mà nổi bật nhất là sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất, sự thay đổi to lớn về quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng.
Trong mấy thập kỷ gần đây cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc
cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa
tăng trưởng khá nhanh, tương đối ổn định, cơ cấu ngành thay đổi, phân công
lao động phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, điều kiện lao động được
cải thiện...Từ những biểu hiện mới này rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
đang được đặt ra đối với các nghiên cứu về CNTB.
Nhận diện CNTB hiện đại, đánh giá đúng những mặt phát triển và tồn
tại, xu thế của nó là một vấn đề khá phức tạp. Nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước đã bàn về vấn đề này nhưng còn có những ý kiến khác nhau. Cùng
một hiện tượng xã hội nhưng phân tích, đánh giá ra sao, rút ra kết luận gì, xét
cho cùng là tùy thuộc ở lập trường giai cấp, phương pháp xem xét của các tác
giả.
Trước sự biến đổi, thích nghi của CNTB hiện đại, có nhiều quan điểm
đánh giá và rút ra kết luận khác nhau. Bên cạnh những quan điểm đúng đắn
dựa trên lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ sự
phát triển những nguyên lý cơ bản trong những điều kiện mới của thời đại,
còn không ít những quan điểm hoặc là sách vở, giáo điều không thấy có gì
mới trong CNTB hiện đại hoặc là cơ hội, xét lại, ca tụng một chiều CNTB và
rút ra những kết luận sai lầm.
Một số học giả cho rằng: Bản chất của CNTB đã thay đổi, CNTB hiện
độ nhất định, nó đã vượt qua sự hạn chế của não người, hệ thống máy móc đã
thực sự có sự biến đổi cách mạng, đã nâng rất cao hiệu suất lao động tư duy
của con người làm cho nhận thức của con người đối với giới tự nhiên ngày
càng rộng và sâu hơn, viễn cảnh phát triển của lực lượng sản xuất càng to lớn
hơn.
Phương thức lao động ở các nước tư bản cũng đã có sự thay đổi mang
tính cách mạng. Lao động trí óc ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự
phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Ngày nay, tại các nước tư bản phát triển,
số công nhân “cổ trắng”, “cổ vàng” làm việc trí óc đã nhiều hơn số công nhân
“cổ xanh” làm việc chân tay. Ở Mỹ, năm 1957 bắt đầu bước ngoặt lịch sử
trong đó công nhân trực tiếp sản xuất không còn giữ vị trí hàng đầu trong lực
lượng lao động nữa. Hiện nay, số công nhân trực tiếp sản xuất ở Mỹ đã giảm
xuống còn 13% lực lượng lao động.
Bước phát triển mới của cách mạng khoa học, công nghệ bộ phận năng
động nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, ở mức độ nhất định đã đưa sản
xuất và đời sống con người vượt qua những hạn chế của nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Việc sử dụng năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm
giảm sự phụ thuộc của con người vào nguồn năng lượng khoáng sản, sự ra đời
của các vật liệu tổng hợp không những giúp con người giảm phụ thuộc vào tài
nguyên thiên nhiên không tái sinh được, mà còn cung cấp cho con người
nguồn vật liệu mới với tính năng ưu việt hơn và tái sinh được. Nhờ phát minh
và sử dụng những vật liệu mới này mà con người đã có thể thu nhỏ máy tính
điện tử xuống hàng vạn lần về thể tích, đồng thời tăng hiệu năng của nó lên
hàng chục vạn lần so với vài ba thập kỷ trước.
Cơ cấu ngành của lực lượng sản xuất và cơ cấu sản phẩm cũng được đa
dạng hóa và hiện đại hóa với tốc độ chóng mặt, nhờ đi đầu trong cuộc cách
mạng kỹ thuật mới và rút ngắn hơn lúc nào hết thời gian từ nghiên cứu đến
sản xuất. Hiện nay Mỹ đã, đang dẫn đầu thế giới về 31 lĩnh vực kỹ thuật mới,
Nhật Bản-9 lĩnh vực. Nếu trước đây, một thành quả khoa học-công nghệ quan
sản xuất trên thế giới cũng mở rộng nhanh. Trong quá trình tái sản xuất xã
hội, các nước ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào nhau, sự giao
lưu tư bản, trao đổi mậu dịch ngày càng phong phú. Sự phát triển của hệ
thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin vi điện tử và sự phát
triển của giao thông vận tải đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quốc tế,
càng làm tăng quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và đời sống các dân
tộc. Việc đầu tư vốn ra ngoài, sự chuyển giao công nghệ, qúa trình chuyển
dịch, cơ cấu kinh tế và dịch chuyển lao động mang tính quốc tế cao, ngày
càng vượt nhanh khỏi biên giới quốc gia.
Như vậy, CNTB ngày nay đã thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản
xuất và xã hội hóa lao động lên những bước mới. Đó chính là quá trình chuẩn
bị những điều kiện, tiền đề cần thiết cho sự ra đời của một chế độ xã hội mới
cao hơn, thay thế CNTB trong tương lai. Sở dĩ CNTB ngày nay thực hiện
được những bước phát triển mới về lực lượng sản xuất là do có các nguyên
nhân sau:
Một là, do mục tiêu chạy theo lợi nhuận buộc giai cấp tư sản phải tìm
cách ứng dụng nhanh nhất những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện
đại, tận dụng tối đa nhân tố con người.
Hai là, do CNTB sẵn có một cơ sở vật chất-kỹ thuật phát triển cao, tích
lũy từ hàng mấy trăm năm. Đây là điều kiện vật chất giúp cho CNTB có thể
ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ mới để thực hiện sự phát
triển và thích nghi.
Ba là, vào những năm 70 của thế kỷ trước nền kinh tế của CNTB đã
đứng trước giới hạn cuối cùng của sự phát triển theo chiều rộng. Muốn tồn tại
và phát triển, nó không có con đường nào khác là phải chuyển sang phát triển
theo chiều sâu, lấy thành tựu của khoa học mới làm chỗ dựa
Cùng với sự điều chỉnh, thích nghi về lực lưọng sản xuất, làm cho lực
lượng sản xuất phát triển nhanh và trở nên đồ sộ hơn các giai đoạn trước,
cho ăn, mặc, ở...còn có tiền để dành, một bộ phận mua được cổ phần.
Xuất phát từ yêu cầu khách quan của quy luật về sự thích ứng của quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ khát
vọng chạy theo lợi nhuận và nhằm từng bước xoa dịu mâu thuẫn giữa tư bản
và lao động mà CNTB ngày nay đã thực hiện những điều chỉnh, thích nghi về
quan hệ sản xuất, trên tất cả các mặt như vậy chứ tuyệt nhiên không phải là
CNTB ngày nay đã thay đổi bản chất hay có những biến đổi có tính bản chất.
Nếu cho rằng bản chất của CNTB ngày nay đã thay đổi thì trước hết
phải chứng minh được rằng mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
không còn là giá trị thặng dư, không còn là sự thống trị của tư bản độc quyền
nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao. Thực tế cho thấy, CNTB ngày nay
dù có biến đổi, thích nghi như thế nào đI nữa thì cơ sở của nó vẫn là chế độ
chiếm hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, quan hệ giữa tư bản chủ nghĩa
và lao động vẫn là quan hệ giữa bóc lột và bị bóc lột. Tiền không thể tự nó đẻ
ra tiền. Máy móc của nhà tư bản dù có tự động hóa, rô bốt hóa cũng không thể
hoạt động nếu không có sự tác động của lao động: Máy móc, phương tiện kỹ
thuật hiện đại đến đâu cũng chỉ là yếu tố, là điều kiện không thể thiếu để tiến
hành sản xuất nâng cao năng xuất lao động chứ tư bản bản thân nó không thể
tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Họat động lưu không, dịch vụ như thương
nghiệp, ngân hàng không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư mà chỉ phân phối lại
giá trị. Học thuyết giá trị lao động và học thuyết giá trị thặng dư phát hiện vĩ
đại của Mác vẫn giữ nguyên giá trị hiện thực không sao bác bỏ được.
Hiện nay, ở các nước tư bản phát triển, mức sống của người lao động
đã được cải thiện hơn nhiều so với thời kỳ của Mác, một bộ phận công nhân
có cổ phiếu, cổ phần ở các công ty, xí nghiệp tư bản và nhờ đó, góp phần làm
tăng thu nhập cho họ là có thực. Thế nhưng, nếu chỉ nhìn nhận một chiều về
sự điều chỉnh của các nhà tư bản về lợi ích làm cho mức sống của người công
nhân được nâng lên, đời sống của họ được cải thiện thì sẽ không thấy được
chủ, có chăng nữa cũng chỉ là ông chủ hình thức. Vì đã là chủ sở hữu thì phải
có quyền sử dụng, quyền linh họat, với một tỷ lệ cổ phiếu thấp, người công
nhân không thể có tiếng nói quyết định đối với việc quản lý, phân chia lợi
nhuận của công ty. Đó chẳng qua chỉ là một hình thức huy động vốn và cột
chặt người công nhân vào xí nghiệp tư bản.
Còn cái gọi là “công nhân tham gia quản lý xí nghiệp, tư bản tôn trọng
nhân cách con người” về thực chất chỉ là nhà tư bản nhận thức được vai trò
của yếu tố tâm lý đối với năng suất lao động, tìm cách khai thác tiềm năng, trí
sáng tạo, tính tích cực của công nhân và người quản lý để tăng thêm lợi nhuận
mà thôi.
Trong xã hội có giai cấp, nhà nước bao giờ cũng chỉ là nhà nước của
giai ấp cầm quyền. Không có và không thể có một nhà nước siêu giai cấp,
“nhà nước phúc lợi chung”. Nhà nước của giai cấp tư sản chủ yếu là bảo vệ
lợi ích của giai cấp tư sản, trong tình hình mới đó, nó có thể và cần thiết phải
quan tâm đến điều kiện lao động và sinh hoạt của người dân, nhưng chi phối
sự hoạt động của nó không ai khác ngoài tầng lớp tư bản tài chính và trùm tài
chính.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, trình độ giác ngộ của
giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao. Để xoa dịu phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, bảo đảm cho sự tồn tại của mình, CNTB buộc
phải dành một phần lợi nhuận độc quyền cao để thực hiện một số chính sách
xã hội có tính chất nhân đạo chứ bản chất của CNTB không phải là nhân đạo.
Mặt khác, CNTB nhờ thu được nhiều nguồn lợi nhuận độc quyền cao, có điều
kiện để thực hiện các chính sách xã hội có tính chất nhân đạo. Những điều
chỉnh ấy dễ làm cho ta lầm tưởng rằng CNTB ngày nay đã có sự thay đổi về
bản chất và đang trong quá trình tự lột xác đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nếu sự biến đổi, thích nghi của CNTB không phải là từng bước trao
quyền sở hữu, quyền quản lý từ tay giai cấp tư sản sang tay giai cấp công
đây vốn là xã hội chủ nghĩa, sau khi Đảng Cộng sản ở các nước đó bị mất
quyền lãnh đạo, thì chính quyền rơi vào tay các phần tử cơ hội, phản bội.
Điều chắc chắn là con đường TBCN không phải là con đường hạnh
phúc của nhân dân lao động. Đi con đường đó tất yếu phải chấp nhận các quy
luật của CNTB.
Mỗi nước phát triển theo con đường này có những điều kiện riêng rất
khác nhau, do đó không phải nước nào cũng có thể trở thành quốc gia phát
triển. Chủ nghĩa tư bản đã có lịch sử gần 400; thế nhưng cho đến nay mới chỉ
có 20 nứoc trở thành các nước tư bản phát triển. Vẫn còn hàng trăm nước tư
bản đang ở những trình độ phát triển khác nhau và mỗi nước đều có những
khó khăn riêng. Vài thập kỷ gần đây, có một số nước đi con đường này đạt
được tốc độ phát triển kinh tế cao và trở thành các nước công nghiệp mới như
Hàn Quốc, Đài Loan, Singapho…Sở dĩ các nước này phát triển được là do họ
có những lợi thế và điều kiện đặc bịet mà hàng trăm nước khác không có
được. Các nước này vốn đã gắn chặt quyền lợi với các nước tư bản lớn từ lâu,
trong bối cảnh quốc tế và khu vực những thập kỷ 70 và 80. Họ nhận được sự
viện trợ, đầu tư, tín dụng, chuyển giao công nghệ rất ưu đãi cộng với các điều
kiện thuận lợi khác trong nước như tài nguyên, vị trí địa lý, sự ổn định chính
trị…Những điều kiện đó giúp họ rất nhiều, nhất là đối với quá trình tích lũy
ban đầu. Cũng cần thấy rằng mặc dù có sự phát triển, song ở các nước này các
mâu thuẫn, khuyết tật vốn có của CNTB, đặc biệt là các vấn đề xã hội không
thể nào khắc phục được. Đại đa số các nước đi theo con đường TBCN ngày
nay gặp những khó khăn, bất lợi rất lớn, xét cả hoàn cảnh trong nước và quốc
tế. Phần lớn các nước đang phát triển đều có điểm xuất phát rất thấp do nhiều
năm bị bọn thực dân nước ngoài bóc lột, các tàn tích phong kiến còn nặng nề,
kinh tế lạc hậu què quặt, văn hóa, khoa học, giá dục thấp kém và đặc biệt là
rất thiếu vốn để thực hiện công nghiệp hóa. Thêm vào đó, ở nhiều nước, do
tình hình chính trong nước và quốc tế. Phần lớn các nước đang phát triển đều
Trong điều kiện CNTB đã hết vai trò tiến bộ lịch sử, lựa chọn con
đường TBCN là con đường kéo dài sự đau khổ của nhân dân trong quá trình
phát triển đất nước. CNTB không phải là giải pháp để giải phóng nhân dân
lao động và đưa lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Chỉ có CNXH mới
đưa lại sự giải phóng thực sự cho con người, đưa nhân dân lao động làm chủ
xã hội, làm chủ đất nước và đưa lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
2.2. Đi lên CNXH- sự lựa chọn con đường phát triển của cách
mạng Việt Nam
Từ trước đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: Trước sau như một, nhân
dân ta quyết tâm đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là mục tiêu đấu
tranh trước đây và sau này của Đảng ta và nhân dân ta”. Sự lựa chọn con
đường XHCN hoàn toàn không trái với quy luật khách quan của lịch sử và
chúng ta hoàn toàn có khả năng để thực hiện con đường đã chọn đó.
Quá trình lịch sử của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên.
Quá trình đó phụ thuộc vào những quy luật khách quan, độc lập với ý chí của
con người nhưng quá trình đó lại do chính con người tạo ra. Nó sẽ không có
được nếu không có hoạt động tự giác của con người.
Chúng ta lựa chọn con đường tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát
triển TBCN là hoàn toàn phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Nhìn lại
quá trình phát triển của xã hội loài người, một sự thật lịch sử đã diễn ra là
không phải nước nào cũng đều tuần tự phát triển theo các chế độ cộng sản
nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản. Có nước trong quá trình phát triển của
mình đã bỏ qua chế độ nô lệ. Sự phát triển của từng nước lại chịu sự tác động
rất lớn của yếu tố thời đại. Thời đại phong kiến đã kéo nhiều nước còn ở trình
độ bộ tộc, phát triển nhanh thành thành chế độ phong kiến. Thời đại TBCN đã
kéo
nhiều
do đảng ta khởi xướng và lãnh đạo cho phép phát huy tối đa các nguồn lực
trong nước qua đó tạo ra thế và lực mới , đưa dân tộc Việt Nam vững bước
vào thế kỷ XXI với một tư thế mới tư thế của những người làm chủ và biết
làm chủ vận mệnh của mình. Vấn đề hiện nay đối với dân tộc Việt Nam
không phải là tìm đường, thay đổi con đường mà là kiên định và phấn đấu
theo con đường xã hội chủ nghĩa đã được lựa chọn. Vấn đề tìm đường đi cho
dân tộc đã được giải đáp ở những thập kỷ đầu của thế kỷ XX và tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng vừa qua tiếp tục khẳng định: “Đảng
và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường
XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Thiết tưởng điều đó hiện nay không có gì phải bàn cãi. Thế nhưng vẫn
có một số người tự cho mình là “thực sự yêu nước”, “tâm huyết trăn trở với
vận mệnh của đất nước” muốn quay lại cái điều lịch sử đã giải đáp từ lâu. Họ
chú hướng vào CNTBm với cách nhìn phiến diện, một chiều, bày tỏ các quan
điểm lệch lạc, sai trái, hoặc công khai, hoặc che giấu kín đáo. Họ đưa ra
những câu hỏi đại loại là, giá như dân tộc Việt Nam không tiếp thu chủ nghĩa
Mác-Lênin, không đi theo con đường XHCN mà đi theo con đường khác, con
đường TBCN thì đất nước sẽ bớt đi mấy chục năm binh đao, khói lửa, kinh tế
sẽ phát triển hơn. Họ nhìn vào các nước TBCN ở xa, ở gần và bảo chúng ta
hãy học tập, hãy đi theo con đường của các nước ấy.
Thoảng qua, có người lầm tưởng thái độ của họ là thực sự “vì dân, vì
nước” nhưng thực ra không phải như vậy. Họ đã coi thường, phủ nhận những
hy sinh, mất mát của bao thế hệ người Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại
trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX. Trải qua suốt mấy chục năm “binh đao,
khói lửa” ấy, nhân dân Việt nam là “lương tri của thời đại”. Bất kỳ người nào
có cái nhìn khách quan, không có định kiến xấu về xã hội Việt Nam đều thấy
rằng, lịch sử Việt Nam nhất thiết phải đi vào quỹ đạo cách mạng vô sản, độc
lập dân tộc nhất thiết phải gắn liền với CNXH. Ai nấy cũng đều thấy rằng, kẻ
Anhstanh đã từng lên án CNTB luôn phạm phải một tội ác là hủy hoại con
người, biến con người thành nô lệ cho chủ nghĩa vị kỷ trong một cuộc tìm
kiếm sự yên ổn của tâm hồn mình. Điều này vẫn còn đúng trong xã hội tư sản
hiện nay. Vì thế, ông Gioóc Xorốc một nhà tư bản tài chính vào “hàng cá
mập” cũng phải thừa nhận sự bất ổn của CNTB hiện đại trong cuốn sách
“khủng hoảng của CNTB toàn cầu” mới đây. Trên phạm vi thế giới, CNTB
ngày nay là kẻ thống trị, bóclột, nô dịch các nước đang phát triển bằng các
loại thực dân kinh tế, công nghệ thông tin, môi trường trong quá trình toàn
cầu hóa hiện nay và bằng cả các biện pháp bạo lực của chủ nghĩa cường
quyền vô liêm sỉ và trắng trợn nhất như đối với Nam Tư và Irắc vừa qua.
Rõ ràng, CNTB dù có những biến đổi, phát triển mới nhưng bản chất
của nó vẫn là chế độ bóc lột, bất công đầy những nghịch lý và mâu thuẫn. Do
đó, CNTB không thể là con đường mà chúng ta có thể lựa chọn.
Đi lên CNXH là một tất yếu lịch sử của cuộc cách mạng nước ta và
toàn thể dân tộc ta. Những thực thể kinh tế và chính trị hiện tồn trong xã hội
ta hiện nay và nội dung của thời đại ngày nay quy định rằng con đường đi lên
phù hợp nhất đối với dân tộc ta chỉ có thể là khác. Toàn thể dân tộc ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng đã chiến đấu trong gần một thế kỷ qua, với bao công sức
và xương máu của nhiều thế hệ mới đạt được những thành quả cách mạng
như ngày nay, thì cuộc cách mạng đó phải đi tiếp con đường mà Đảng, Bác
Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Đó là sự kiên định lập trường cách mạng và
khoa học, đồng thời cũng là sự khôn ngoan nhất về chính trị. Thay đổi con
đường là một sự phản bội lại lý tưởng cách mạng của dân tộc, dẫn đất nước và
dân tộc vào một cuộc phiêu lưu chính trị chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp.
II-KẾT LUẬN
CNTB ngày nay đã từng có những điều chỉnh, thích nghi cả về lực
lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất và có thể còn tiếp tục điều chỉnh để kéo
dài sự tồn tại của mình, nhưng là sự điều chỉnh thích nghi trong nội tại chế độ
tư bản. Những điều chỉnh, thích nghi ấy có thể xoa dịu được phần nào những
hiệu quả nhất để xây dựng một nước Việt Nam thực sự giàu mạnh, văn minh,
nhân dân Việt Nam thực sự tự do, ấm no, hạnh phúc.
Con đường của Đảng va nhân dân ta đang đi không phải là con đường
thẳng tắp, không phải là không có chông gai. Đồ thị phát triển của con đường
ấy có thể là đoạn gấp khúc, nhưng mũi tên cơ bản của hướng đồ thị là theo
chiều tiến lên. Sự nghiệp xây dựng xã hội mới thực sự khó khăn, phức tạp, lâu
dài, nhưng con đường đi lên CNXH ở nước ta cũng có những thuận lợi cơ bản
và thời cơ lớn. Với thế và lực của đất nước ta hiện nay, với sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta sẽ tận dụng
được thuận lợi, tranh thủ được thời cơ, vượt qua khó khăn, khắc phục nguy
cơ, thực hiện thắng lợi những mục tiêu theo con đường XHCN đã lựa chọn.