Xác định một số4 đặc điểm sinh thái loài chà vá chân đen (pygathrix nigripes) và đề xuất giải pháp bảo tồn tại vườn quốc gia bù gia mập tỉnh bình phước - Pdf 41

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các kết quả số liệu và một số hình ảnh trong luận văn là trung thực, chưa được
ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả

HOÀNG ANH TUÂN


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong suất quá trình học tập tại Trường Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2, tôi
đã nhận được rất nhiều sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của các quí thầy cô,
các chuyên gia và các bạn bè động nghiệp, cũng như gia đình người thân.
Nhân dịp này cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo tham
gia giảng dạy trong và ngoài trường, Ban giám đốc, Ban Khoa học công nghệ Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2 và toàn thể học viên Cao học LH K21.A2.1 đã giúp
đỡ tôi trong suất quá trình học tập tại Trường.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Đồng Thanh Hải người đã tận
tình hướng dẫn và góp ý cho tôi trong suất quá trình thực hiện luận văn tốt
nghiệp này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Tiến sỹ Hoàng Minh Đức, TS. Nguyễn Chí
Thành, TS. Kiều Mạnh Hưởng và một số chuyên gia động tại Viện sinh thái học
Miền Nam và Trung tâm nghiên cứu rừng &đất nghập nước, một số giáo viên
của Trường đã góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Phước, Sở Nội vụ,
Chi bộ, Ban giám đốc, Phòng Khoa học & Hợp tác quốc tế và các Trạm Kiểm
lâm của Ban quản lý VQG Bù Gia Mập, UBND xã Bù Gia Mập, Đắk Ơ tỉnh
Bình Phước, xã Quảng Trực tỉnh Đắk Nông và một số người dân các xã này đã

BVR
CBD
CI
CITES
Colobinae
CR
CVCĐ
ĐDSH
ĐVHD
EN
EX
EW
GIS
GPS
IB
IIA
IIB
IUCN
KBT
KBTTN
LR
M
N
P
R
T
VCF
VQG
VU
WCS

Rhinopithecus
Trachypithecus
Vietnam Conservation Fund Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng
Việt Nam.
VQG.
(Vulnerable) - Sắp nguy cấp.
Wildlife Conservation Society Hiệp hội bảo tồn động vật
hoang dã.


v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Một số định nghĩa về các hoạt động của Chà vá chân đen. ................. 25
Bảng 2.2. Bảng mã hóa các hoạt động của Chà vá chân đen. ................................. 26
Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả cho điểm, xếp hạng các mối đe dọa tới loài. ........ 29
Bảng 3.1: Hiện trạng các loại đất, loại rừng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập... 36
Bảng 3.2: Thành phần các loài thú khu vực nghiên cứu và khu hệ thú Việt
Nam ..................................................................................................................................... 40
Bảng 4.1: So sánh số lượng cá thể Chà vá chân đen tại khu vực nghiên cứu với
một số VQG khác .......................................................................................................... 47
Bảng 4.2: Vị trí, số lượng cá thể của 3 đàn Chà vá chân đen .................................. 49
Bảng 4.3: Tần suất quan sát Chà vá chân đen theo tháng. ....................................... 58
Bảng 4.4: Tần suất quan sát Chà vá chân đen theo giới tính................................... 59
Bảng 4.5: Tần suất quan sát Chà vá chân đen theo tuổi. ........................................... 59
Bảng 4.6: Tần suất quan sát Chà vá chân đen theo giờ trong ngày. ..................... 60
Bảng 4.7: So sánh quỹ thời gian hoạt động với các loài khỉ ăn lá khác.............. 63




vii

Hình 4.15: Kiểu di chuyển treo mình và tung người của Chà vá chân đen.................. 68
Hình 4.16: Tập tính ngồi nghỉ.. ................................................................................................ 69
Hình 4.17: Tập tính nhìn cảnh giới và báo động ................................................................. 71
Hình 4.18: Tập tính khơi mào giao phối và giao phối ....................................................... 71
Hình 4.19: Săn bắt trái phép Chà vá chân đen tại VQG Bù Gia Mập. .......................... 73
Hình 4.20: Hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ của người dân địa phương.75
Hình 4.21: Sinh cảnh bị chia cắt do mở đường. .................................................................. 76


viii

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………………..1
1. Tính cấp thiết của đề tài: .................................................................................... 1
2. Ý nghĩa của đề tài: .............................................................................................. 4
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu Linh trưởng ở Việt Nam ................................ 5
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1954 ............................................................................. 5
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 .......................................................... 6
1.1.3. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay ............................................................... 7
1.2. Một số vấn đề về phân loại học Linh trưởng ở Việt Nam .............................. 7
1.3. Một số đặc điểm giống chà vá (Pygathrix) ................................................... 11
1.3.1. Phân loại học Giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam: ................................. 11
1.3.2. Đặc điểm hình thái Chà vá (Pygathrix): ....................................................... 11
1.3.3. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của nhóm Chà vá (Pygathrix): ............ 12
1.3.4. Phân bố giống Chà vá: ................................................................................. 13
1.4. Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne – Edwards, 1871) ................ 14
1.4.1. Tên gọi - Tên khoa học: ................................................................................ 14

4.1. Một số đặc điểm sinh thái loài Chà vá chân đen tại VQG Bù Gia Mập. ..... 43
4.1.1. Về hiện trạng phân bố, số lượng quần thể của loài ..................................... .43
4.1.2. Đặc điểm về nơi sống, kích thước vùng sống và sử dụng vùng sống ……….48
4.1.3. Đặc điểm về kích thước, cấu trúc và tổ chức đàn Chà vá chân đen ............. 54
4.1.4. Đặc điểm về tập tính của Chà vá chân đen................................................... 58
4.2. Các mối đe dọa tới loài tại VQG Bù Gia Mập .............................................. 72
4.2.1. Các mối đe dọa trực tiếp tới loài .................................................................. 72
4.2.2. Các mối đe dọa gián tiếp tới loài .................................................................. 74
4.3. Thực trạng và giải pháp bảo tồn loài tại VQG Bù Gia Mập ....................... .78
4.3.1. Thực trạng về công tác bảo tồn loài tại VQG Bù Gia Mập .......................... 78
4.3.2. Giải pháp bảo tồn loài tại VQG Bù Gia Mập ............................................... 79
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………82
1. Kết luận ............................................................................................................. .82
1.1. Về một số đặc điểm sinh thái của loài…………………………………………….82
1.2. Các mối đe dọa tới loài Chà vá chân đen ........................................................ 82
1.3. Thực trạng và giải pháp về công tác bảo tồn loài Chà vá chân đen ............... 82


x

2. Tồn tại ................ ………………………………………………………………………83
3. Kiến nghị ........................................................................................................... 84
PHẦN PHỤ LỤC……………………………………………………………… 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………....104


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài:

Lai cho đến Lâm Đồng (Nadler và cs, 2002) [64].
Tại Việt Nam những nghiên cứu về phân bố và số lượng của loài Chà vá
chân đen còn chưa đầy đủ. Các nghiên cứu được tiến hành gần đây bước đầu đã
cung cấp về số lượng loài tại Việt Nam. Quần thể Chá vá chân đen ở Vườn quốc
gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận có thể là quần thể có số lượng lớn nhất ước tính
từ 500 – 700 cá thể (Hoàng Minh Đức và Lý Ngọc Sâm, 2005) [47], Vườn quốc
gia Nam Cát Tiên quần thể ước tính khoảng 100 cá thể (Phạm Duy Thức và cs,
2005) [68].
Mặc dù Chà vá chân đen được mô tả rất sớm vào năm 1871 nhưng các
thông tin về đặc điểm sinh thái khu phân bố, sinh cảnh ưa thích, tập tính và
thành phần thức ăn,…vẫn còn hạn chế. Hiện nay, tuy đã có một vài nghiên cứu
về loài này ở Việt Nam nhưng đa số tập trung vào điều tra tình trạng phân bố
và bảo tồn (Phạm Duy Thức và cs, 2005) [68]. Gần đây, có thêm nghiên cứu
sâu hơn về sinh thái của loài được thực hiện bởi Hoàng Minh Đức và cộng sự
thực hiện tại Vườn quốc gia Núi Chúa và Phước Bình tỉnh Ninh Thuận. Các
nghiên cứu này đã chỉ ra được môi trường thích hợp đối với loài là rừng thường
xanh hay rừng bán thường xanh (Hoàng Minh Đức và Lý Ngọc Sâm, 2005 [47];
Hoàng Minh Đức và Baxter, 2006a [48]; Hoàng Minh Đức, 2007 [50]).
Tuy nhiên những năm gần đây, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng,
chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đã làm giảm một cách đáng kể diện tích rừng
hiện có của Việt Nam nói chung và khu vực Đông Nam bộ nói riêng, điều này
đã làm mất môi trường sống của nhiều loài động vật hoang dã trong đó có loài


3

Chà vá chân đen, tình trạng săn bắn, bẫy bắt diễn ra trên diện rộng, nhu cầu của
thị trường ngày càng gia tăng đã làm cho Chà vá chân đen đang có nguy cơ bị
đe dọa tuyệt chủng cao. Chính vì vậy cần phải có thêm nhiều nghiên cứu về loài
để có cơ sở bảo tồn được loài linh trưởng quý hiếm này tại Việt Nam.

nghiên cứu đầu tiên về loài Chà vá chân đen tại VQG Bù Gia Mập tỉnh Bình
Phước.
- Ý nghĩa về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho cán
bộ kỹ thuật, kiểm lâm của Vườn và các học sinh, sinh viên tới thực tập tại Vườn.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu này còn góp phần vào công tác bảo tồn nguyên vị
loài Chà vá chân đen tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước, đồng thời
xây dựng cơ sở cho việc bảo tồn chuyển vị, nuôi nhốt và cứu hộ loài Chà vá
chân đen tại Việt Nam.


5

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu Linh trưởng ở Việt Nam
Các nghiên cứu về động vật hoang dã, trong đó có các loài linh trưởng, ở
Việt Nam được bắt đầu chủ yếu từ những năm cuối thế kỷ XIX do các nhà khoa
học nước ngoài thực hiện. Kể từ những năm 1960 đến nay, đã có nhiều nghiên
cứu chuyên sâu về các loài linh trưởng được các nhà khoa học Việt Nam thực
hiện cùng với các điều tra và nghiên cứu về đa dạng sinh vật. Sơ lược về lịch sử
nghiên cứu linh trưởng ở Việt Nam có thể được chia thành 3 giai đoạn sau:
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1954
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về thú, trong đó có các loài linh
trưởng, chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học người nước ngoài. Các
nhà nghiên cứu tiêu biểu về các loài thú, trong đó có các loài linh trưởng ở Việt
Nam trong giai đoạn này có thể kể đến: George Finlayson (1828), MineEdwards (1867 – 1874), Morice (1904), Brousniche (1887), Billet (1896 –
1898), Pavie (1879 – 1898), Boutan (1900 – 1906), De Pousargues (1904),
Menegeaux (1905-1906), Delacour (1928 – 1930), H.t Stevens (1923 –
1924), Kelly Rooservelts (1928 – 1929), Bourret (1942, 1944), v.v...
Có thể nói, những kết quả nghiên cứu về linh trưởng ở Việt Nam, trước
năm 1954, phần lớn là một phần kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu

- Đào Văn Tiến (1985), Đã cung cấp những thông tin về phân bố, đặc
điểm một số loài thú ở miền Bắc Việt Nam [12].


7

1.1.3. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay
Các điều tra, nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh vật, đặc biệt đối với các
loài linh trưởng, được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả
nước và đạt được rất nhiều kết quả có giá trị. Đội ngũ cán bộ Việt Nam nghiên
cứu về linh trưởng cũng phát triển và lớn mạnh không ngừng. Rất nhiều nghiên
cứu không chỉ bó hẹp do các cán bộ khoa học Việt Nam tiến hành, mà còn có
sự hợp tác quốc tế sâu rộng với các chuyên gia linh trưởng và các tổ chức bảo
tồn quốc tế.
Trong giai đoạn này, có nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về Linh
trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện [3, 7, 10,
19, 20, 22, 37, 39, 53, 60, 61, 62, 64, 70, 71, 79, 88].
Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu, bảo
tồn và phát triển các loài linh trưởng quý hiếm đã và đang được chú trọng. Hàng
loạt các VQG và KBTTN đã được thành lập trên khắp cả nước để bảo tồn đa
dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng quý hiếm. Một số chương trình
nghiên cứu về sinh thái và tập tính của các loài linh trưởng đã và đang được tiến
hành.
Kết quả điều tra, nghiên cứu về khu hệ linh trưởng của các địa phương,
các vùng miền và các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài
linh trưởng ở Việt Nam đã được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước
và quốc tế.
1.2. Một số vấn đề về phân loại học Linh trưởng ở Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là nước có mức độ đang dạng rất cao về các thú
linh trưởng, với 25 loài và phân loài thuộc 3 trong số 5 họ linh trưởng của châu


9

Rhinopithecus (1 loài). Đây là phân họ có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về
phân loại học.
Về giống Trachypithecus, hiện có khá nhiều ý kiến khác nhau về phân
loại học của một số loài và phân loài của giống này. Ví dụ, những ý kiến trước
đây cho rằng loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) ở Việt Nam có
các phân loài: Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi ), Voọc mông trắng
(Trachypithecus francoisi delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi
poliocephalus), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus francoisi hatinhensis) và Voọc
đen tuyền (Trachypithecus francoisi. ebenus ) [5, 10, 12, 22, 25]. Tuy nhiên,
Groves (2001) đã nâng các phân loài này thành các loài khác nhau [40]. Theo
những nghiên cứu gần đây của Roos (2004) và Brandon-Jones và cộng sự
(2004), phân loài Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri) thành
loài Voọc mông trắng ( Trachypithecus delacouri); phân loài Voọc đầu trắng
(Trachypithecus francoisi poliocephalus) đổi thành loài Voọc Cát Bà (T.
poliocephalus poliocephalus), các phân loài còn lại vẫn giữ nguyên là Voọc đen
má trắng (Trachypithecus francoisi francoisi ), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus
francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi ebenus)
[21, 90].
Voọc bạc trước đây được biết với tên khoa học là T. cristatus [5, 6, 10,
12, 22, 25, 40]. Căn cứ theo các kết quả phân tích về di truyền học và phân bố
địa lý, hiện nay, Voọc bạc ở Việt Nam được coi là một phân loài Voọc bạc
(Trachypithecus villosus margarita) [21, 74, 90].
Voọc xám trước đây được biết với tên khoa học là Trachypithecus
phayrei [5, 6, 10, 12,22, 25, 40], sau đó được định tên là Trachypithecus
crepusculus [73, 90]. Theo kết quả nghiên cứu và hệ thống phân loài gần đây




có tỷ lệ cao về yếu tố đặc hữu (chiếm 25,0%) [7, 21, 37].
1.3. Một số đặc điểm giống chà vá (Pygathrix)
1.3.1. Phân loại học Giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam:
Giống Pygathrix ở Việt Nam có 3 loài gồm: Chà vá chân đỏ - Pygathrix
nemaeus (Linnaeus, 1771), Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne Edwards, 1871) và Chà vá chân xám - Pygathrix cinerea (Tilo Nadler, 1997).
Chúng thuộc phân họ Voọc Colobinae, họ Khỉ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng
Primates. Cả 3 loài này đều phân bố trên bán đảo Đông Dương.

Chà vá chân đen (1)
(Pygathrix nigripes)

Chà vá chân xám (2) (Pygathrix
cinerea)

Chà vá chân đỏ (3)
(Pygathrix nemaeus)

Hình 1.1. Các loài Chà vá giống Pygathrix
Ảnh: (1) Hoàng Anh Tuân; Ảnh (2) Chương trình bảo tồn Chà vá chân xám ở VQG Kon
Ka Kinh và Ảnh (3) Tilo Nadler

1.3.2. Đặc điểm hình thái Chà vá (Pygathrix):
Là một loài khỉ lớn so với các loài khỉ khác thường ăn lá cây, kích thước
cơ thể dài từ 53 – 63cm, trọng lượng trung bình từ 5,3 – 11,5kg với nhiều màu
sắc [18], [59]. Chi sau dài hơn chi trước một chút. Đầu không có mào nhọn trên
đỉnh. Mặt có ít hoặc trụi lông. Râu dài màu trắng được thông suốt hướng về


12

(2009) nghiên cứu ở Chà vá chân xám xác đinh đươc 166 loài thực vật là thức
ăn trong đó lá non được ăn nhiều nhất chiếm 49,6%, quả chín 21,9%, quả chưa
chín 19,1%, lá trưởng thành 9,3%, Các loại thức ăn khác 0,1%. Kích thước của
đàn Chà vá khác nhau tùy thuộc vào môi trường sống và từng thời điểm. Lippold
(1995) đã quan sát một đàn Chà vá có 51 cá thể tại Kon Chư Răng; Hoàng Minh
Đức (2007) quan sát đàn Chà vá chân đen với 45 cá thể ở VQG Núi Chúa, Ninh
Thuận; Hà Thăng Long (2009) quan sát đàn Chà vá chân xám với 88 cá thể tại
VQG Kon Ka Kinh, Gia Lai. Chà vá có cấu trúc xã hội đặc trưng là một con
đực đầu đàn và mỗi thành viên khác đều có vị trí nhất định trong đàn. Cấu trúc
gồm nhiều đàn nhỏ có thể tập hợp thành đàn lớn. Tuy nhiên cấu trúc đàn lớn
lỏng lẻo và có hiện tượng tách nhập đàn thường xuyên. Đàn nhỏ thường gồm 1
con đực, vài con cái và con con. Tỷ lệ đực cái thường từ 1:1,5 - 1:2 trong nhóm
nhỏ từ 3 - 10 cá thể và 1:2,5 - 1:3 trong nhóm từ 15 - 35 cá thể [37],[50].
1.3.4. Phân bố giống Chà vá:
Giống chà vá chỉ phân bố ở khu vực Đông Dương: Chà vá chân đen phân
bố ở Việt Nam với Camphuchia; Chà vá chân đỏ phân bố ở Việt nam với Lào;
Chà vá chân xám chỉ phân bố ở Việt Nam [6], [29], [41], [48], [49], [70].
Việt Nam là nước duy nhất có 3 loài chà vá sinh sống nhưng khu phân
bố thay đổi dần từ Bắc đến Nam. Chà vá chân đỏ phân bố từ 19030‟ N đến
16000‟ N gồm 4 tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam.
Chà vá chân xám phân bố từ 15o50‟ N đến 14030‟ N ở huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam đến khu bảo tồn Kon Cha Rang, tỉnh Gia Lai. Chà vá chân đen
phân bố từ 14030‟ N đến 11000‟ N ở khu vực Tây Nguyên qua Lâm Đồng đến
Bình Phước, Bình Dương [14].


14

1.4. Chà vá chân đen - Pygathrix nigripes (Milne – Edwards, 1871)
1.4.1. Tên gọi - Tên khoa học:

Tây Nguyên, quần thể Chà vá chân đen được xác nhận trong VQG Chư Yang
Sin, tỉnh Đắk Lắk, Vườn quốc gia Yok Đôn tỉnh Đắk Lắc, VQG Bì Doup - Núi
Bà tỉnh Lâm Đồng [50]. Quần thể Chá vá chân đen được ghi nhận ở Vườn quốc
gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận có thể là quần thể có số lượng lớn nhất với ước
tính từ 500 – 700 cá thể và quần thể ước tính khoảng 100 cá thể đã được ghi
nhận ở Vườn quốc gia Nam Cát Tiên [47], [69].
1.4.4. Đặc điểm sinh học, sinh thái của Chà vá chân đen:
Theo Lippold (1998) cho rằng Chà vá chân đen và các loài Chà vá khác
sống hoàn toàn trên cây, di chuyển trên các ngọn và cành cây. Một số báo cáo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status