ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Thị Minh Hải
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔ THẢI CHẤT NẠO VÉT
LUỒNG CẢNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Thị Minh Hải
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔ THẢI CHẤT NẠO VÉT
LUỒNG CẢNG TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi
Hà Nội - 2016
3. Cấu trúc của luận văn ..........................................................................................3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ ..................................................................... 4
1.1. Một số khái niệm liên quan ..............................................................................4
1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu....................................................................6
1.2.1. Vị trí địa lý .................................................................................................6
1.2.2. Dân số .........................................................................................................7
1.2.3. Khí hậu .......................................................................................................7
1.2.4. Đặc điểm địa hình.......................................................................................8
1.2.5. Tài nguyên thiên nhiên ...............................................................................9
1.2.6. Chế độ thủy văn, hải văn ..........................................................................10
1.2.7. Đặc điểm địa hình địa chất đáy biển ........................................................12
1.2.8. Các hệ sinh thái đặc biển của Hải Phòng .................................................12
1.3. Tổng quan về hoạt động đổ thải chất liệu nạo vét luồng cảng .......................12
1.3.1. Tổng quan quản lý hoạt động đổ thải trên biển của thế giới ....................12
1.3.2. Tổng quan quản lý hoạt động nạo vét luồng cảng tại Việt Nam ..............28
1.4. Các tác động của hoạt động nạo vét, duy tu các tuyến luồng .........................35
1.4.1. Tác động tích cực .....................................................................................35
1.4.2. Các tác động tiêu cực của công tác nạo vét..............................................36
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU39
2.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................39
2.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................39
i
2.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................39
2.3.1. Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu....................................................39
2.3.2. Phương pháp khảo sát thực tế ..................................................................40
2.3.3. Phương pháp chuyên gia ..........................................................................40
2.3.4. Phương pháp tiếp cận hệ thống ................................................................41
Bảng ký hiệu các chữ viết tắt
EPA
: Environmental Protection Agency (Cơ quan bảo vệ môi trường);
IMO
: International Maritime Organization (Tổ chức hàng hải Quốc tế);
ĐMC
: Đánh giá môi trường chiến lược;
ĐTM
: Đánh giá tác động môi trường;
QLNN : Quản lý nhà nước;
QPPL
: Quy phạm pháp luật;
TNMT : Tài nguyên môi trường.
UBND : Ủy ban nhân dân
iii
Danh mục các bảng biểu
cực tăng trưởng quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cũng như đông
bắc Việt Nam. Tuy nhiên, Hải Phòng đang phải đối mặt với các thách thức về phát
triển kinh tế bền vững, trước hết là sự phát triển chưa bền vững hệ thống cảng của
thành phố liên quan đến sự phát triển “nóng” và thiếu quy hoạch không gian vùng
ven biển hợp lý. Hậu quả là tình trạng xói lở và sa bồi các luồng tàu ra vào cảng Hải
Phòng gia tăng, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế.
Từ cuối thế kỷ XIX, cảng Hải Phòng từng là cảng biển lớn nhất nước ta,
song, kể từ 1987 trở lại đây, luồng tàu vào cảng Hải Phòng đã bị sa bồi mạnh làm
mất đi vị thế hàng đầu của một cảng cửa ngõ tầm cỡ quốc gia và khu vực. Trước
đây, hệ thống luồng lạch vùng cửa sông hình phễu Bạch Ðằng và Cửa Cấm thường
xuyên bảo đảm cho tàu vạn tấn ra vào an toàn mà khối lượng nạo vét luồng chỉ có
hơn 1 triệu m3/năm [14]. Tuy nhiên, hơn chục năm qua lượng đất nạo vét thường
xuyên gấp từ 3 đến 5 lần, mà luồng vẫn cạn (từ 3,5 đến 4 mét) khiến cho tàu vạn tấn
buộc phải chuyển tải hàng từ xa vào cảng. Vì thế, khai mở luồng tàu mới qua Lạch
Huyện là điều tất yếu của việc cải tạo, mở rộng hệ thống cảng Hải Phòng ra phía
biển trong những năm gần đây [13].
1
Liên quan đến việc phát triển Cảng cửa ngõ Quốc tế Lạch Huyện và duy trì
hoạt động „bình thường‟ cho hệ thống cảng Hải Phòng hiện tại, phải nạo vét luồng
cảng đến khoảng 3 triệu tấn hàng năm. Với một lượng chất nạo vét lớn như vậy,
việc quản lý hoạt động nạo vét và đổ thải chất nạo vét đang là một vấn khó khăn vì
những quy định về lĩnh vực này ở trong nước còn rất ít. Luật Tài nguyên, Môi
trường biển và hải đảo (ban hành ngày 25 tháng 6 năm 2015) mới có quy định
„khung‟ về „Nhận chìm ở biển‟ tại Chương VI, Mục 3, các Điều 57-63. Theo đó
„Chất nạo vét‟ luồng cảng hoặc do thi công cảng biển sinh ra về bản chất là một loại
“Chất nhận chìm”và giao “Chính phủ quy định Danh mục vật, chất được nhận chìm
ở biển”[22].
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ
1.1. Một số khái niệm liên quan
(1)Nhận chìm: Thuật ngữ “nhận chìm” được xác định trong Công ước của
Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), Công
ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. Trong các văn bản quy phạm
pháp luật của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này cụ thể “Nhận chìm ở
biển là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các vật, chất được nhận
chìm ở biển theo quy định của Luật này” [22] nhưng chưa cụ thể.
Vì vậy, Luận văn sử dụng khái niệm “nhận chìm” theo Công ước Luật biển
1982, Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. “Nhận chìm” có
nghĩa là:
i. Bất kỳ sự đổ, thải có ý thức nào xuống biển các chất thải hoặc các chất
khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo khác
ở biển.
ii. Bất kỳ sự đánh chìm nào của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc
các công trình nhân tạo khác ở biển.
Việc nhận chìm không bao gồm:
i. Việc đổ, thải các chất thải hoặc các chất khác được sản sinh trực tiếp hoặc
gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi
hoặc các công trình khác trên biển, cũng như các thiết bị của chúng, ngoại trừ các
chất thải hoặc các chất khác được chuyên chở hoặc chuyển tải trên các tàu thuyền,
phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác bố trí ở biển được dùng để đổ
thải các chất đó, trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hay các công trình
này trên hải đồ, có các biển báo, dấu hiệu hàng hải để nhận dạng) do cơ quan có
thẩm quyền xem xét, đánh giá và cấp phép cho đổ thải tại đó theo những quy định
và điều kiện cụ thể được ghi trong giấy phép [29][30].
Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996 quy định cơ
quan có thẩm quyền cần xem xét, đánh giá, xác định bãi chứa chất thải trên biển
nhằm cho phép đổ thải để nhận chìm vào đó không những đối với chất thải mà còn
đối với tất cả các vật, chất khác được đề xuất xin cấp phép nhận chìm.
5
Bãi chứa chất thải trên biển (điểm nhận chìm trên biển) cũng có thể dùng để
đổ thải một loại chất thải, vật, chất nhất định nào đó hay để đổ thải nhiều loại vật,
chất khác nhau và cấp cho một hay nhiều giấy phép,…
(5)Cảng, cầu cảng: Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng
nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra,
vào hoạt động để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ
khác [15].
(6)Luồng cảng biển: Luồng cảng biển là phần giới hạn vùng nước từ biển
vào cảng được xác định bởi hệ thống báo hiệu hàng hải và các công trình phụ trợ để
bảo đảm cho tàu biển và các phương tiện thuỷ khác ra, vào cảng biển an toàn [15].
Hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét theo quy định cũng là một hoạt động của
nhận chìm ở biển.
1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1. Vị trí địa lý
Hình 1.1. Bản đồ hành chính thành phố Hải Phòng
6
7
lên đến 440C và tháng lạnh nhất (tháng 1,2) nhiệt độ có thể xuống dưới 50C.Độ ẩm
trung bình vào khoảng 80 - 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 1,
12 [ 1 ].
1.2.4. Đặc điểm địa hình
Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519 km2, bao gồm cả huyện đảo
(Cát Hải và Bạch Long Vĩ). Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố chủ yếu ở phía
Bắc, do vậy địa hình phía Bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùng trung du
với những đồng bằng xen đồi; phía Nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu
địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển, có độ cao từ 0,7- 1,7
m so với mực nước biển. Vùng biển có đảo Cát Bà được ví như hòn ngọc của Hải
Phòng, một đảo đẹp và lớn nhất trong quần thể đảo có tới trên 360 đảo lớn, nhỏ
quây quần bên nó và nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long. Đảo chính Cát Bà ở độ
cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý. Cách
Cát Bà hơn 90 km về phía Đông Nam là đảo Bạch Long Vĩ, khá bằng phẳng và
nhiều cát trắng [1].
Đồi núi, đồng bằng:
Địa hình phía Bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng
bằng và ngả thấp dần về phía Nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi
Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá
trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi
khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ
đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo
dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn,
Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu. Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An
Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: Nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết
có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và
+ Ngoài ra còn có nhiều con sông khác khá nhỏ nằm ở khu vực nội thành
quận Hồng Bàng [1].
1.2.5. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất đai: Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km², trong đó diện
tích đất liền là 1208,49 km². Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn ha trong đó
9
đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất lâm nghiệp chiếm
14,45%; còn lại là đất chuyên dụng. Nằm ở ven biển nên chủ yếu là đất phèn, đất
mặn, phù sa, đất đồi feralit màu nâu vàng.
Tài nguyên rừng: Hải Phòng có khu rừng nguyên sinh trên đảo Cát Bà, là nơi
dự trữ sinh quyển Thế giới. Điều đặc biệt là khu rừng này nằm trên đá vôi, một
trạng thái rừng rất độc đáo.
Tài nguyên nước: Là nơi tất cả các nhánh của sông Thái Bình đổ ra biển nên
Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mang lại nguồn lợi rất lớn về nước.
Ngoài ra, tại Tiên Lãng còn có mạch suối khoáng ngầm duy nhất ở đồng bằng sông
Hồng.
Tài nguyên biển: Bờ biển Hải Phòng trải dài trên 125 km, mang lại nguồn lợi
rất lớn về cảng, góp phần phát triển thành cảng cửa ngõ quốc tế của cả miền Bắc và
cả nước. Ngành du lịch ở đây cũng rất phong phú với những bãi tắm sạch đẹp như
Cát Bà, Đồ Sơn cùng với phong cảnh hữu tình tạo nguồn lợi lớn cho du lịch, Cát Bà
còn có các rặng san hô, hệ thống hang động, biển có nhiều loại hải sản có giá trị
kinh tế.
Tài nguyên khoáng sản: Hải Phòng có tài nguyên đá vôi nhiều, và có mỏ đá
vôi ở Thuỷ Nguyên [1].
1.2.6. Chế độ thủy văn, hải văn
a. Hải văn
Mực nước
2,8 - 3,0 m.
Về mùa đông sóng thịnh hành trong vùng có sự phân hoá rõ rệt: vùng biển Hải
Phòng Thái Bình, sóng hướng đông chiếm ưu thế với tần suất vào khoảng 25 - 27%.
Về mùa hè, đặc điểm chế độ sóng có nhiều nét tương đồng trong cả vùng.
sóng có hướng đông nam và nam chiếm ưu thế, với tần suất xấp xỉ 40% ở khu vực
Hòn Dáu. Ngoài ra về mùa hè còn quan sát thấy sóng hướng tây nam nhưng có tần
suất nhỏ ở Hòn Dáu thời kỳ sóng lặng chỉ vào khoảng 12-13%.
Mực nước dâng do bão
Đối với vùng ven bờ biển Hải Phòng, nước dâng không lớn. Tần suất từ 3550% đối với mức dâng từ 0 – 50 cm; 38% đối với mức dâng 50-100 cm. Tần suất
đạt một vài phần trăm đối với mức dâng từ 150-250 cm.
11
Mức nước dâng lớn nhất đã xảy ra ở khu vực này khoảng 220 cm, nhỏ hơn
so với vùng Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh (trên 300 cm).
1.2.7. Đặc điểm địa hình địa chất đáy biển
Khu vực biển Hải Phòng nằm trong phạm vi Vịnh Bắc Bộ. Vì vậy lịch sử
phát triển địa hình đáy biển khu vực Hải Phòng không thể tách khỏi quá trình tiến
hóa của Vịnh Bắc Bộ. Nên đặc điểm địa hình địa chất đáy biển của Hải Phòng được
hình thành chung trong quá trính hình thành địa hình địa chất của Vịnh Bắc Bộ.
Hầu hết diện tích đáy biển Vịnh Bắc Bộ có hành lang rộng và độ dốc thoải
(2-5o). Độ dốc và độ sâu tăng dần về phía Đông Nam Vịnh Bắc Bộ. Đặc trưng
chung là địa hình thoải dần tạo thành những trũng sâu khép kín dài. Trũng sâu nhất
nằm ở ngoài khơi trên độ sâu 108 m, về phía Bắc - Đông Bắc đảo Cồn Cỏ, cách đảo
này khoảng 120 km. Trũng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, là phần kéo
dài của bồn trũng Sông Hồng từ phía lục địa. Phía Bắc trũng này là một trũng có
quy mô nhỏ hơn với độ sâu cực đại đạt đến 75 m chạy dài theo phương Đông Bắc –
Tây Nam, trùng với phương cấu tạo chung của các cấu trúc ven rìa miền Đông Bắc
Việt Nam.
phối hợp của từng cơ quan trong đánh giá, cấp phép và kiểm soát hoạt động đổ thải do
nhận chìm trên biển. Do các hoạt động vận chuyển vật, chất đi đổ thải trên biển đều do
tàu, phương tiện hoạt động trên biển thực hiện nên tất cả các quốc gia đều giao nhiệm
vụ kiểm soát hoạt động đổ thải do nhận chìm trên biển cho Cơ quan Quản lý hàng hải
hoặc các lực lượng thực thi luật pháp trên biển (lực lượng có chức năng kiểm soát tàu,
phương tiện hoạt động trên biển) chủ trì thực hiện. Đây cũng là lý do mà Liên hiệp
quốc giao cho Tổ chức Hàng hải Quốc tế nhiệm vụ thiết lập Công ước về ngăn ngừa ô
nhiễm biển do nhận chìm chất thải và các chất khác năm 1972 (Công ước Luân Đôn
1972), Nghị định thư 1996 của Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm
chất thải và các chất khác (Nghị định thư Luân Đôn 1996).
Khi nghiên cứu về luật pháp và kinh nghiệm quản lý hoa ̣t đô ̣ng đổ thải do
nhâ ̣n chim
̀ trên biể n c ủa một số quốc gia tiên tiến trên thế giới, việc xem xét thể chế
luật pháp không thể tách rời với việc xác định mô hình quản lý bãi chứa chất thải
trên biển và quản lý hoạt động đổ thải chất thải trên biển. Vì vậy, Việt Nam cần
nghiên cứu, rút kinh nghiệm vì hiện tại cả chế độ luật pháp và mô hình tổ chức bộ
máy quản lý hoa ̣t đô ̣ng đổ thải do nhâ ̣n chìm trên biể n h ầu như chưa hình thành.
13
1.3.1.1. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động
đổ thải chất thải trên biển của Mỹ
Những quy định về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản
lý bãi chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Mỹ được quy
định tại Chương 27 Nhận chìm trên biển, Phần 33 về hàng hải và các vùng nước
hàng hải trong Bộ luật của Mỹ năm 2010 (US Code 2010 Title 33 NAVIGATION
AND NAVIGABLE WATERS CHAPTER 27 OCEAN DUMPING).
Các quy định về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản lý
bãi chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Mỹ phù hợp với
khu bảo tồn.
Cảnh sát biển Mỹ có trách nhiệm giám sát việc nhận chìm trên biển.
Gần như tất cả việc nhận chìm vật liệu nạo vét trên biển, đại dương diễn ra
ngày nay được Quân đoàn kỹ sư của Quân đội Mỹ tiến hành và là đơn vị chịu trách
nhiệm chính cho việc nạo vét. Quân đoàn kỹ sư của Quân đội Mỹ được quyền cấp
giấy phép cho nhận chìm vật liệu nạo vét trên biển. Các vật liệu nạo vét là trầm tích
lấy từ dưới mặt nước trước khi được đổ vào đại dương, cần phải được đánh giá để
đảm bảo rằng chúng không gây hại cho sức khỏe con người hay cho môi trường
biển. Mục tiêu cơ bản của chương trình giấy phép là ðể “ngãn chặn hoặc hạn chế
chặt chẽ việc nhận chìm trên biển bất kỳ vật liệu nào sẽ ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe con người, phúc lợi, hoặc tiện nghi, hoặc môi trường biển, hệ sinh thái, hoặc
tiềm năng kinh tế” [26].
Theo Báo cáo cuối cùng về giấy phép ban hành năm 2008 (Thông tư của
IMO số LC-LP.1/Circ.52 ngày 01/5/2012) thì trong năm 2008, Mỹ cấp 15 giấy phép
để nhận chìm trên biển (có 01 giấy phép đặc biệt).
15
Hình 1.2. Các Bang đã cấp phép chất thải trên biển của Mỹ đến năm 2000
[Nguồn: IMO, 2008]
1.3.1.2. Mô hình quản lý bãi chứa chất thải trên biển và quản lý hoạt động
đổ thải chất thải trên biển của Ireland
Luật pháp về quản lý hoạt động nhận chìm trên biển (bao gồm cả quản lý bãi
chứa chất thải trên biển và chất thải được đổ thải trên biển) của Ireland được quy
định tại Đạo luật về nhận chìm trên biển của Ireland (Dumping At Sea Act, 1981)
để quy định việc nhận chìm chất thải hoặc các chất khác trong vùng nội thủy và
lãnh hải, trên thềm lục địa và vào các khu vực biển khác thuộc thẩm quyền của
Ireland [27].
17
- Có hệ thống cấp giấy phép theo Luật Bảo vệ môi trường Canada;
- Có một hình thức ứng dụng và danh sách hành động hạn chế được quy
định.
Cơ quan Môi trường Canada là cơ quan chủ trì cấp phép trên cơ sở thiết lập
một mạng lưới tư vấn như Ủy ban Tư vấn khu vực (mỗi khu vực ven biển), các
thành viên trong Ủy ban Tư vấn khu vực đại diện cho các cơ quan khác nhau của
liên bang và các tỉnh hoặc vùng lãnh thổ liên quan.
Cơ quan Môi trường Canada cung cấp mô hình về các đặc tính chất thải.
Mẫu đơn xin phép nhận chìm trên biển, đại dương đòi hỏi phải mô tả về vật liệu đề
xuất nhận chìm, lịch sử vị trí (khu vực) nhận chìm vật liệu (nạo vét hoặc đổ thải),
tính chất, đặc điểm hóa học, vật lý, sinh học và thông tin của các vị trí (khu vực)
chìm vật liệu để xác định nguồn ô nhiễm cũng như phương án x ử lý vật liệu đã bị ô
nhiễm trên đất liền. Các hướng dẫn đánh giá vật liệu đề xuất cho nhận chìm (của
Canada) được xác định theo các hướng dẫn đánh giá đối với chất thải của thủy sản,
đối với tàu, công trình, cấu trúc nhân tạo, đối với phế liệu kim loại và vật liệu cồng
kềnh cũng như đối với các vật liệu khác. Canada cũng sử dụng phương pháp thử
nghiệm theo từng cấp độ để xem xét đặc tính chất thải.
Yêu cầu của Canada khi xem xét đặc tính hóa học thường bao gồm các phân
tích về độ chính xác theo các giới hạn cụ thể. Phân tích phải bao gồm ít nhất là hai
kim loại vi lượng mà giới hạn đã được thiết lập theo quy định (thủy ngân và
cadmium), và hai hợp chất hóa học hữu cơ (hydrocarbon tổng poly-hạt nhân thơm,
PAH, và tổng số biphenyl đã polyclo hóa, PCB). Các tài liệu hướng dẫn cũng liệt kê
một số hợp chất hữu cơ và kim loại nặng mà cơ quan quản lý có thể yêu cầu phân
tích.
Việc cấp phép, giám sát việc chuyên chở lên tàu, phương tiện để đưa chất
thải đi nhận chìm trên biển, kiểm soát việc vận chuyển, đổ thải tại các Bãi chứa chất
thải trên biển được giao cho cơ quan quản lý hàng hải, cảng vụ và các lực lượng có