Header Page 1 of 123.
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HẰNG
ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG ANH GIAO TIẾP: NGHIÊN CỨU
ỨNG DỤNG DẠY TIẾNG ANH CHO CÁC LỚP KHÔNG
CHUYÊN NGỮ TẠI ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG
: 62 22 01 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI- năm 2014
Footer Page 1 of 123.
Header Page 2 of 123.
LỜI CAM ĐOAN
đồng nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu của luận án đã đóng góp những ý kiến quý báu
về chuyên môn và cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành luận án này. Xin cảm ơn những
người thân và bạn bè đã dành cho tôi tình cảm và tinh thần tốt nhất trong quá trình học
tập.
Quảng Bình, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Hằng
Footer Page 3 of 123.
ii
Header Page 4 of 123.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... I
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................II
MỤC LỤC.................................................................................................................... III
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................... VIII
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... IX
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................................X
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.............................................................................................1
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH GIAO
TIẾP VÀ VIỆC ỨNG DỤNG DẠY TIẾNG ANH NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ THEO
ĐƯỜNG HƯỚNG GIAO TIẾP....................................................................................2
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ....................................................................2
2.2. Tình hình nghiên cứu ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên đại học
1.2.1.1. Tiến trình chung .....................................................................................30
1.2.1.2. Tiến trình thụ đắc từ vựng và ngữ pháp.................................................32
1.2.2. Các thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai theo đường hướng giao tiếp..............34
1.2.3. Khái niệm ngữ năng giao tiếp và ngữ thi giao tiếp. .....................................36
1.2.3.1. Khái niệm ngữ năng giao tiếp ................................................................36
1.2.3.2. Khái niệm ngữ thi giao tiếp....................................................................39
1.2.4. Thuyết trí nhớ làm việc .................................................................................41
1.2.5. Một số vấn đề cơ bản trong dạy-học ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp ....45
1.2.5.1. Thiết kế mục tiêu và nội dung dạy-học..................................................45
1.2.5.2. Kiểm tra, đánh giá ..................................................................................49
1.2.5.3. Tài liệu và phương tiện dạy-học ............................................................50
1.2.5.4. Phương pháp dạy-học ............................................................................52
1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP HỌC NGOẠI NGỮ THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIAO
TIẾP............................................................................................................................58
1.3.1. Vai trò của giáo viên.....................................................................................58
1.3.2. Vai trò của sinh viên .....................................................................................59
TIỂU KẾT ..................................................................................................................60
Footer Page 5 of 123.
iv
Header Page 6 of 123.
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN DẠY-HỌC VÀ NHU CẦU HỌC TIẾNG ANH VIẾT
CỦA SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ TẠI ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH.......63
2.1. THỰC TIỄN DẠY-HỌC TIẾNG ANH KHÔNG CHUYÊN NGỮ TẠI ĐẠI HỌC
QUẢNG BÌNH ...........................................................................................................63
2.1.1. Đặc điểm của tiếng Anh được giảng dạy cho sinh viên không chuyên ngữ
2.3.1.4. Các nguyên tắc dạy viết tiếng Anh không chuyên ở các trường đại học
Việt Nam .............................................................................................................88
2.3.1.5. Đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp viết ...........................................90
2.3.2. Đề xuất nhóm giải pháp nhằm ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp viết ........92
2.3.2.1. Đề xuất thiết kế chương trình.................................................................92
2.3.2.2. Đề xuất về kiểm tra, đánh giá năng lực viết tiếng Anh giao tiếp...........97
2.3.2.3. Đề xuất sử dụng tài liệu và phương tiện dạy-học ................................100
2.3.2.4. Đề xuất các hoạt động dạy-học tiếng Anh giao tiếp viết .....................101
2.3.2.5. Đề xuất một số chiến lược học.............................................................106
TIỂU KẾT ................................................................................................................107
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM DẠY TIẾNG ANH GIAO TIẾP VIẾT
CHO SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH ............110
3.1. MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG THỰC NGHIỆM .....................................................110
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................110
3.1.2. Nội dung thực nghiệm.................................................................................110
3.2. CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA Ở LỚP THỰC NGHIỆM ............................112
3.2.1. Giảng viên dạy ............................................................................................112
3.2.2. Đối tượng thực nghiệm ...............................................................................112
3.3. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ, KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ THỰC
NGHIỆM ..................................................................................................................113
3.3.1. Nội dung kiểm tra, đánh giá .......................................................................113
3.3.2. Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá...................................................................114
3.4. QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM.........................................................................114
3.4.1. Các bước tiến hành thực nghiệm ................................................................114
3.4.2. Một số nội dung chính trong tiến trình giảng dạy thực nghiệm và thảo luận......116
3.4.2.1. Các nội dung đã được thống nhất và thảo luận với sinh viên trước thực
nghiệm...............................................................................................................116
Footer Page 7 of 123.
Header Page 9 of 123.
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa của từ
ACTFL
Hội đồng dạy ngoại ngữ Mỹ
CEFR
Khung tham chiếu chung châu Âu
ĐC
Đối chứng
ĐH
Đại học
ĐHSP
Đại học sư phạm
ĐHSPGD
Trang
2.1.
Kết quả bài kiểm tra năng lực tiếng Anh đầu vào của SV khoá 52
74
2.2.
Tiêu chí đánh giá năng lực viết trình độ A2
89
2.3.
Đề xuất thang chấm điểm cho một sản phẩm viết
97
2.4.
Mẫu bài tập Tìm ai đó
102
3.1.
Đối tượng lớp dạy thực nghiệm và lớp đối chứng
Trang
18
1.2.
Thành tố ngữ năng giao tiếp trong sử dụng NNGT Bachman
38
1.3.
Thành tố ngữ năng trong khung lý thuyết của Bachman
38
1.4.
Mô hình Trí nhớ làm việc của Baddeley (2000)
43
1.5.
Mô hình các bước thiết kế chương trình học dựa trên đề xuất của
J.D. Brown
2.1.
Kết quả bài kiểm tra năng lực tiếng Anh đầu vào của 21 sinh viên
131
và lớp chứng
3.3.
48
Số % sinh viên lớp thực nghiệm đạt trình độ A2 tiếng Anh giao
tiếp viết
133
135
135
3.5.
Số % sinh viên lớp chứng đạt trình độ A2 tiếng Anh giao tiếp viết
136
3.6.
So sánh tiếng Anh giao tiếp viết đầu vào và đầu ra của sinh viên
136
Footer Page 11 of 123.
Bình làm đề tài luận án.
Footer Page 12 of 123.
1
Header Page 13 of 123.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH GIAO
TIẾP VÀ VIỆC ỨNG DỤNG DẠY TIẾNG ANH NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ
THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIAO TIẾP
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Jack Richards và Rodgers [139, tr.153-158], các nghiên cứu liên quan đến
đặc điểm của tiếng Anh trong giao tiếp và việc ứng dụng dạy tiếng Anh như một ngoại
ngữ theo đường hướng giao tiếp xuất hiện từ những năm 1960, thể hiện qua những thay
đổi cách dạy theo tình huống truyền thống ở Anh. Nhưng cũng giống như phương pháp
nghe-nói không còn được sử dụng nhiều ở Mỹ giữa những năm 1960, các nhà ngôn
ngữ học ứng dụng Anh bắt đầu đặt câu hỏi về tính hiệu quả của việc dạy ngôn ngữ dựa
trên tình huống. Điều này phản ánh một phần những phê phán của nhà ngôn ngữ học
Mỹ Noam Chomsky [64] trong cuốn sách “Các cấu trúc cú pháp” của ông. Trong đó,
ông nói rằng các thuyết cấu trúc ngôn ngữ hiện tại không thể giải thích được các đặc
điểm cơ bản của ngôn ngữ đó là tính sáng tạo và tính duy nhất của các câu riêng lẻ. Vì
vậy, các nhà ngôn ngữ học ứng dụng Anh bắt đầu chú tâm đến hai khía cạnh khác của
ngôn ngữ đó là khía cạnh chức năng và giao tiếp. Họ nhận thấy rằng cần tập trung vào
việc dạy ngôn ngữ để đạt sự thành thạo trong giao tiếp chứ không phải dạy để nắm
vững các cấu trúc ngữ pháp. Nhiều học giả ủng hộ quan điểm này và do vậy đã xuất
hiện những nghiên cứu sâu hơn của các nhà ngôn ngữ học chức năng Anh. Trong đó,
Halliday [13], [dẫn theo 139] là người nổi bật với nhiều công trình như “Cấu trúc ngôn
ngữ và chức năng ngôn ngữ” (1970), “Khảo sát các chức năng ngôn ngữ” (1973),
thuộc lẫn nhau là năng lực ngữ pháp, năng lực diễn ngôn, năng lực văn hoá-xã hội và
năng lực chiến lược. Sau đó, vào 1990 Lyle Bachman đã phát triển bổ sung thêm các
thành tố tạo thành ngữ năng giao tiếp trong sử dụng gồm kiến thức về thế giới, cơ chế
tâm-sinh lý trong một bối cảnh ngữ huống [dẫn theo 57, tr.249]. Ngoài ra, Dell Hymes
còn đề xuất mô hình giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên, phù hợp với ngữ cảnh văn hóaxã hội với 8 thành tố: Ngữ huống, Các thành viên tham gia, Mục đích, Chuỗi hành vi,
Cách diễn đạt, Các phương tiện, Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích, Thể loại. Mô
hình này cùng với thuật ngữ ngữ năng giao tiếp của Dell Hymes đã mở ra một cách
nhìn mới trong việc dạy-học ngoại ngữ và nó đã được phát triển rộng khắp thế giới.
Ngữ năng giao tiếp là những gì chúng ta biết hay kiến thức NNGT của một
người, ngữ năng giao tiếp chỉ được biểu hiện trong thực tiễn thông qua ngữ thi giao
Footer Page 14 of 123.
3
Header Page 15 of 123.
tiếp (communicative performance). Ngữ thi giao tiếp là sản phẩm ngôn ngữ thực tế mà
chúng ta có thể nhìn thấy được thông qua các kênh tri nhận và sản sinh ngôn ngữ như
nghe, nói, đọc, viết. Thông qua ngữ thi, ngữ năng giao tiếp mới được phát triển, duy trì,
và được đánh giá [145], [57], do đó việc xây dựng chuẩn đánh giá các mức trình độ
năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ thể hiện qua khả năng tiếp nhận và sản sinh ngôn
ngữ đích theo từng cấp độ là rất quan trọng trong một hệ thống giáo dục. Từ những
năm 1970 sau khi thuật ngữ ngữ năng giao tiếp ra đời và được xem là mục đích chính
của việc dạy-học ngoại ngữ, đã có một loạt các chương trình, dự án cấp chính phủ Mỹ
với sự tham gia của nhiều thành viên có thẩm quyền trong xã hội. Các chuyên gia của
Mỹ và châu Âu cùng các học giả khác đã nỗ lực xây dựng chuẩn đánh giá chung về sự
thành thạo trong ngoại ngữ theo từng mức trình độ. Hai thành tựu nổi bật thu được từ
dự án Common Yardstick ở Mỹ là những ví dụ minh họa. Thành tựu thứ nhất là thang
thực hiện các ứng dụng nhanh các ý tưởng dạy học này vào viết giáo trình, mở ra các
trung tâm phát triển chương trình. Các chuyên gia dạy ngôn ngữ Anh lúc bấy giờ đã
chấp nhận các nguyên tắc dạy-học mới khá nhanh và thậm chí các chính phủ ở một số
nước Châu Âu xem việc nghiên cứu ứng dụng dạy ngoại ngữ theo đường hướng mới
này là vấn đề mang tính quốc gia và quốc tế cần được quan tâm. Tất cả những điều này
đã dẫn đến sự ra đời của việc dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp (đôi khi còn
được gọi là cách tiếp cận chức năng-ý niệm) hay đơn giản là dạy NNGT.
Cho đến nay, dạy NNGT đã được phát triển và mở rộng, những người khởi xướng
ở Anh và Mỹ đã nhìn nhận dạy NNGT là cách thức, đường hướng để đi đến mục tiêu.
Việc thiết kế chương trình, biên soạn giáo trình, sử dụng phương tiện day-học, thiết kế
các hoạt động dạy-học được phát triển, nghiên cứu ứng dụng dựa trên nền lý thuyết và
nguyên tắc chung của dạy NNGT đặc biệt là các học thuyết về tiến trình thụ đắc ngôn
ngữ hai hay ngoại ngữ của con người. Các hoạt động và kỹ thuật dạy-học được thiết kế
nhằm tăng cường động cơ, hứng thú cho việc học tập, giúp người học sử dụng ngôn
ngữ trong những ngữ cảnh giao tiếp tự nhiên hoặc các ngữ cảnh giao tiếp có mối liên
hệ với cuộc sống hiện thực.
Tuy nhiên, như đề cập ở trên các đường hướng và nguyên tắc cơ bản trong dạy
NNGT chủ yếu được tập trung nghiên cứu và ứng dụng tại các nước nói tiếng Anh và
các nước trong cộng đồng chung châu Âu nên khi được ứng dụng các nước châu Á thì
gặp nhiều vấn đề khác biệt như ngữ cảnh văn hoá và môi trường giáo dục làm cản trở
Footer Page 16 of 123.
5
Header Page 17 of 123.
việc thực hiện các đường hướng dạy-học này và giảm tính hiệu quả của nó. Vì vậy, để
ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp một cách phù hợp cần có các nghiên cứu nhằm hiểu
Header Page 18 of 123.
7. Học tiếng Anh dường như không có nhiều mối liên hệ với phát triển và nâng
cao kiến thức chuyên môn của người học.
8. Có những cách hiểu khác nhau về chuẩn đánh giá kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng
giao tiếp tiếng Anh đầu ra.
9. Thiếu cơ chế khuyến khích dạy và học chuyên môn bằng tiếng Anh. [34,
tr.107-123]
Trong công trình này, tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng mối
liên hệ giữa việc học tiếng Anh và việc sử dụng chúng để phát triển và nâng cao kiến
thức chuyên môn của người học như một yếu tố tăng cường động cơ học tập. Tác giả
đã cụ thể hoá các nội dung dạy-học tiếng Anh đại học không chuyên ngữ theo hai giai
đoạn trong dải ngôn phổ liên tục. Giai đoạn I đã hoàn thành ở bậc phổ thông 7 năm,
sinh viên sẽ đạt trình độ sơ cấp (elementary level), giai đoạn II, III từ trình độ trung cấp
(intermediate level) đến trên trung cấp (upper-intermediate level) sẽ được dạy ở bậc
Đại học. Mỗi giai đoạn phát triển một số kỹ năng giao tiếp, phù hợp với nhu cầu đào
tạo của SV đại học không chuyên.
Mặc dầu vậy, đề xuất này không dễ thực hiện với một số trường đại học không
chuyên ngữ vì đầu vào hiện tại của sinh viên một số trường có thể chưa đạt mức chuẩn
sàn trình độ sơ cấp (tương đương với A2 theo CEFR) như đề xuất của tác giả. Thực tế,
khảo sát sơ bộ tại một số trường đại học địa phương như trường Đại học Phú Yên,
trường Đại học Hà Tĩnh, trường Đại học Quảng Bình, 100% các giảng viên cho rằng
trình độ NNGT tiếng Anh đầu vào chung của sinh viên chỉ khoảng trên dưới A1. 55%
sinh viên cũng thừa nhận ngữ năng giao tiếp tiếng Anh đầu vào của họ chỉ ở trình độ
A1. Ngoài ra, còn có sự chênh lệch về trình độ giữa các kênh giao tiếp của sinh viên, ví
dụ đọc hiểu thường chiếm ưu thế trong khi khả năng nói và viết của sinh viên lại rất
thấp. Vấn đề sẽ không thể tốt hơn nếu chúng ta áp dụng vào giảng dạy một chương
trình ngoại ngữ cách xa với năng lực NNGT hiện tại của sinh viên.
Để trả lời cho từng câu hỏi nghiên cứu chúng tôi sẽ thực hiện những nội dung
nghiên cứu tương ứng như sau:
a, Phân tích các nghiên cứu lí luận và thực tiễn về đặc điểm của tiếng Anh trong
ngữ cảnh lý thuyết giao tiếp và đặc điểm lớp học tiếng Anh theo đường hướng giao
Footer Page 19 of 123.
8
Header Page 20 of 123.
tiếp.
b, Khảo sát thực tiễn dạy-học và phân tích nhu cầu học tiếng Anh giao tiếp viết
của sinh viên đại học không chuyên ngữ tại Trường Đại học Quảng Bình từ khoá 49
đến khoá 52.
c, Thực nghiệm dạy tiếng Anh viết theo đường hướng giao tiếp cho sinh viên
khóa 52 và khóa 53 trong hai học phần nhằm tìm ra cách thức phù hợp và hiệu quả khi
ứng dụng dạy NNGT cho sinh viên đại học không chuyên ngữ tại Trường Đại học
Quảng Bình.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là việc dạy tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên
không chuyên ngữ ở Trường Đại học Quảng Bình. Tuy nhiên việc dạy tiếng Anh giao
tiếp có phạm vi rất rộng, gồm cả 4 kênh giao tiếp nghe, nói, đọc, viết trong đó nghe,
đọc là kênh tiếp nhận thông tin, nói, viết là kênh sản sinh hoặc phản hồi thông tin. Trên
thực tế cả 4 kênh giao tiếp này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, tuy nhiên mỗi
kênh giao tiếp đòi hỏi các năng lực sử dụng, chiến lược dạy và học tương đối khác
nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu tiếng Anh giao tiếp viết
và tiến hành khảo sát, thử nghiệm, kiểm chứng ở sinh viên các khóa 49-53 các lớp
không chuyên ngữ, vì kết quả khảo sát đầu vào của sinh viên các khóa 49-52 cho thấy
Anh giao tiếp và việc ứng dụng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ theo đường hướng
giao tiếp, nhưng các lý thuyết về nó có nhiều điểm chưa rõ ràng và nằm rời rạc ở nhiều
nguồn tư liệu khác nhau. Luận án đã phân tích, tổng hợp và liên kết các nguồn tài liệu
tương đối mới lại với nhau để rút ra được các đặc điểm tiếng Anh giao tiếp và hiểu rõ
hơn bản chất của việc dạy tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp.
Về thực tiễn: Nghiên cứu của luận án bước đầu đã cho thấy cách thức phù hợp
để ứng dụng dạy NNGT vào dạy tiếng Anh giao tiếp viết cho sinh viên không chuyên
ngữ tại Trường Đại học Quảng Bình.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba
chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết của luận án, liên
quan đến đặc điểm của tiếng Anh giao tiếp, đường hướng dạy-học tiếng Anh giao tiếp
và đặc điểm của lớp học tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp.
Footer Page 21 of 123.
10
Header Page 22 of 123.
Chương 2: Thực tiễn dạy-học và nhu cầu học viết tiếng Anh của sinh viên
không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình. Nội dung chương này mô tả một khảo sát
sơ lược về thực trạng dạy-học tiếng Anh không chuyên ngữ tại Trường Đại học Quảng
Bình. Qua đó tác giả luận án có cơ sở dữ liệu cơ bản để quy chiếu với các đường
hướng và nguyên tắc dạy NNGT nhằm nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp ứng
dụng dạy NNGT viết phù hợp với đối tượng và môi trường đào tạo.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm về dạy tiếng Anh giao tiếp viết cho sinh viên
không chuyên ngữ Đại học Quảng Bình. Chương này mô tả tiến trình ứng dụng thực
hoặc bằng các phương tiện khác như trao đổi thư từ. Nhưng như Sheila Steiberg [150]
đã đề cập “tất cả các giao tiếp đều liên quan đến việc gửi đi và nhận lại các tín hiệu”
mang nghĩa vì chúng ta không thể chuyển thông tin, ý kiến hoặc suy nghĩ từ trong đầu
người này sang đầu người khác nên chúng ta phải sử dụng các tín hiệu hoặc các biểu
tượng còn gọi là mã (codes) để tạo ra các thông điệp mang nghĩa. Như vậy, có thể hiểu
một cách ngắn gọn rằng giao tiếp là quá trình sử dụng các mã để trao đổi nghĩa.
Từ các công trình nghiên cứu của Sheila Steiberg [150] có tựa đề ‘Dẫn luận về
khoa học giao tiếp’ (An Introduction to Communication Studies); Wood [172], [171]
Footer Page 23 of 123.
12
Header Page 24 of 123.
với ‘Giao tiếp trong cuộc sống chúng ta’ (Communication in Our lives), ‘Giao tiếp liên
nhân: những cuộc tương tác diễn ra hằng ngày’ (Interpersonal communication:
everyday encounters); Richard West và Lynn Turner [166] với ‘Kiến thức giao tiếp
liên nhân: những sự lựa chọn trong một thời đại biến động’ (Understanding
Interpersonal Communication: making choices in changing times); Jose Ashford, Craig
Winston Lecroy, Kathy Lortie [40] với ‘Hành vi con người trong môi trường xã hôi:
một ngữ cảnh đa chiều’ (Human Behavior in the Social Environment: A
Multidimensional Perspective), Deena Levine và Mara Adelman [69, tr.10] trong ấn
phẩm ‘Ẩn sau ngôn ngữ: giao tiếp liên văn hóa’ (Beyon language: cross-cultural
communication) chúng ta có thể định nghĩa một số khái niệm tiền đề quan trọng khác
như sau:
- Nhập mã (encoding): là tiến trình sử dụng các tín hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để
chuyển các ý tưởng trong đầu chúng ta thành những thông điệp.
- Giải mã (decoding): là tiến trình chúng ta nhận thông điệp từ người khác và giải nghĩa
là khung tham chiếu (frame of reference) nghĩa vì vậy trường trải nghiệm ảnh hưởng
đến cách chúng ta tạo mã và giải mã.
- Văn hóa (culture): là nền tảng chung (ví dụ như của một quốc gia, một dân tộc, một
tôn giáo) có được từ việc sử dụng một ngôn ngữ, văn hóa thể hiện qua phong cách giao
tiếp, các thói quen-tập tục, các niềm tin, thái độ và các giá trị.
- Nhiễu (Noise): Bất kì tác nhân kích thích nào tham gia vào tiến trình truyền và nhận
thông điệp làm cho nghĩa của nó không được hiểu rõ tạo nên rào cản giữa những người
tham gia giao tiếp.
- Nhiễu bên ngoài (external noise): là các tác nhân kích thích đến từ môi trường bên
ngoài làm mất sự tập trung của những người tham gia giao tiếp như mùi hôi, một chiếc
ghế khó ngồi, nhiễu khí quyển lên giây điện thoại.
- Nhiễu bên trong (internal noise): là những tư tưởng, tình cảm bên trong con người tạo
nên nhiễu khi giao tiếp. Các định kiến cá nhân và tâm trạng cũng như độ tập trung của
người này đối với người kia, tất cả đều có thể là nguồn nhiễu ảnh hưởng đến cách con
người diễn giải thông điệp. Ví dụ, một sinh viên đang ngồi học ở lớp nhưng không
nghe giảng vì đang mải nghĩ về buổi khiêu vũ mà cậu ta sẽ tham dự tối nay, điều này
làm cho cậu ta không hiểu đúng nội dung bài giảng mà cậu ta đang học. Khi một người
Footer Page 25 of 123.
14