BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ PHẦN QUANG HÌNH HỌC LỚP 11 THPT - Pdf 41

Khóa luận tốt nghiệp

2

Mai Thị Lệ Giang

Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1.Dạy học và sự phát triển trí tuệ của học sinh
1.1.1 Hoạt động dạy học.
a) Hoạt động dạy
Theo tâm lý học, hoạt động dạy học là một hoạt động của người dạy tổ
chức và điều khiển hoạt động của người học nhằm giúp người học lĩnh hội
nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của họ.
Trong hoạt động dạy, chủ thể là thầy, người tổ chức điều khiển hoạt động
của HS; đối tượng tác động của thầy là hoạt động học tập của HS; mục đích
của hoạt động dạy học là sự phát triển trí tuệ, phát triển năng lực của HS; nội
dung hoạt động dạy là hệ thống kiến thức, kĩ năng kĩ xảo và phương pháp hoạt
động nhận thức cần trang bị cho HS; phương pháp giảng dạy của thầy là sự
vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại nhằm tổ
chức cho HS hoạt động nhận thức và phát triển trí tuệ.
b) Hoạt động học
Theo tâm lý học, hoạt động nhận thức là hoạt động đặc thù của con người
được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới,
những hành vi và những hoạt động nhất định, những giá trị.
Trong hoạt động học, chủ thể là HS; đối tượng của hoạt động học là tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo; mục đích học tập là trên cơ sở tiếp thu văn hóa nhân
loại chuyển thành năng lực bản thân, học để hành, để vận dụng kiến thức giải

về số lượng tri thức và cách giành lấy tri thức.
1.1.3 Quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ
Dạy học và phát triển có quan hệ rất chặt chẽ với nhau.
Chúng ta biết rằng, trong quá trình dạy học có nhiều sự biến đổi thường
xuyên vốn kinh nghiệm của HS, biến đổi cả về số lượng và chất lượng của hệ
thống tri thức và phát triển năng lực người. Cùng với sự biến đổi đó, trong quá
trình dạy học, những năng lực trí tuệ của HS cũng được phát triển. Ngoài ra,

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

4

Mai Thị Lệ Giang

trong quá trình dạy học, những mặt khác của năng lực trí tuệ như: óc quan sát,
trí nhớ, óc tưởng tượng của HS cũng được phát triển. Cho nên, có thể nói dạy
học là một trong những con đường cơ bản để giáo dục và phát triển trí tuệ một
cách toàn diện.
Ngược lại, trí tuệ được phát triển lại có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
dạy học. Nhờ sự phát triển của các năng lực trí tuệ, HS nảy sinh các khả năng
mới giúp họ nắm kiến thức tốt hơn.
Phát triển trí tuệ vừa là điều kiện đảm bảo cho HS nắm vững kiến thức,
vừa tạo điều kiện cho HS có khả năng tiếp tục tự học tập, nghiên cứu tìm tòi
giải quyết vấn đề, đáp ứng những đòi hỏi đa dạng của thực tiễn sau khi rời ghế
nhà trường.
Trong dạy học Vật lý, sự phát triển trí tuệ cho HS được thực hiện trong
quá trình chiếm lĩnh và vận dụng tri thức. Sự phát triển này dựa trên sự phát

tuổi đi học. Tính tích cực trong hoạt động học tập, về thực chất, là tính tích
cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận
thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều mà loài người chưa biết
mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người tích lũy được. Tuy nhiên,
trong học tập HS cũng cần phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với
bản thân. HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì nắm được qua hoạt động chủ
động, nổ lực của chính mình.
Vậy có thể nói rằng: Tính tích cực là một tập hợp các hoạt động nhằm
chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp
nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả dạy học.
1.1.4.2 Biểu hiện và mức độ tính tích cực của HS
a) Biểu hiện tính tích cực của HS
Theo G.I.Sukina (1979) có thể nêu ra dấu hiệu của tính tích cực học tập
như sau:
HS khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung
câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình
bày chưa rõ.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

6

Mai Thị Lệ Giang


7

Mai Thị Lệ Giang

1.1.4.3 Vai trò của tính tích cực trong sự phát triển trí tuệ của HS.
Ai cũng biết rằng giữa hoạt động và sự phát triển trí tuệ của con người
luôn có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có hoạt động thì trí tuệ không
thể phát triển tốt được, bởi vì trong trí tuệ có bản chất hoạt động và nó được
hình thành trong quá trình hoạt động của mỗi cá nhân.
Trong hoạt động dạy học, HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá
trình dạy học. Do đó, chất lượng dạy học phụ thuộc nhiều vào vai trò chủ thể
của HS trong quá trình dạy học. Vai trò chủ thể được thể hiện ở tính tích cực,
tự giác, chủ động và sáng tạo của HS trong việc tìm kiếm kiến thức và vận
dụng kiến thức một cách sáng tạo vào thực tiễn.
Để có thể nắm tri thức một cách vững chắc và vận dụng nó một cách có
hiệu quả thì không có phương pháp nào tối ưu bằng việc người học học tập
một cách tích cực, độc lập sáng tạo dựa trên sự điều khiển, hướng dẫn, khích
lệ, tạo điều kiện cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề của người GV. Nhờ
tính tích cực trong học tập mà các quá trình tâm lý như tư duy, tưởng tượng,
tri giác, trí nhớ,… được phát triển cao nhất và góp phần làm cho trí tuệ của
học sinh được phát triển.
Ví dụ như khi HS nghiên cứu bài “Sự nổi”, tình huống đặt ra là “Tại sao
kim chìm, tàu thì lại nổi”. Trong quá trình tìm hiểu bài một cách chủ động, HS
phải huy động những kiến thức đã học có liên quan, vận dụng chúng để tìm
hiểu, chiếm lĩnh kiến thức mới này vào trong thực tiễn. Như vậy, trí tuệ của
HS sẽ được phát triển. Và sự phát triển trí tuệ là điều kiện của việc nắm vững
tri thức và kỹ năng, điều kiện của hoạt động học.
Trong quá trình chủ động tìm kiếm tri thức, người học phải tự làm việc
với tài liệu, tự mày mò tìm kiếm tri thức, tự cọ xát với thực tế buộc người học
phải tự động não, tự mình tiến hành tư duy, tưởng tượng, tri giác, trí nhớ, vận

Như vậy, vai trò chủ động, tính tích cực, năng động của HS trong quá
trình học tập có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tuệ.
1.1.4.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức.
Phát huy tính tích cực nhận thức đã được nhiều người quan tâm từ rất
lâu. Những năm gần đây, giáo dục nước ta chủ trương thực hiện dạy học tích
cực một các mạnh mẽ. Để phát huy tính tích cực của HS trong học tập có một
số biện pháp sau:
- Nội dung dạy học phải mới. Cái mới phải kế thừa và phát triển cái cũ.
Kiến thức phải có thực tiễn, gần gũi với đời sống hằng ngày của HS.
Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

9

Mai Thị Lệ Giang

- Phải biết kết hợp và sử dụng các phương pháp dạy học một các hợp lí
và khéo léo, phù hợp với nội dung dạy học, đối tượng học sinh, cơ sở vật chất,
phương tiện dạy học,… sao cho HS học tập một cách hăng say, tích cực tìm
kiếm kiến thức.
- Sử dụng nhiều phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện trực quan,
khai thác triệt để vai trò của công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học
(nếu có điều kiện). Nếu được như vậy sẽ làm cho lớp học sôi nổi, gây hứng
thú học tập cho HS, nâng cao hiệu quả dạy học.
- Kích thích tích cực qua thái độ, cách ứng xử của GV và HS. Trong quá
trình dạy học, thái độ, phong cách của GV có tác động trực tiếp đến quá trình
học tập của HS, như thái độ học tập, tinh thần tìm kiếm kiến thức mới,...
- Tạo nên mâu thuẫn giữa sự hiểu biết và không hiểu biết, xây dựng nên

thuyết hoạt động được Vưgôtxki khởi xướng và A.N.Lêônchiep phát triển.
Theo lí thuyết này, bằng hoạt động và thông qua hoạt động, mỗi người tự tạo
dựng, phát triển ý thức và nhân cách của mình. Vận dụng vào dạy học, quá
trình học tập của HS có bản chất hoạt động, HS bằng hoạt động , thông qua
hoạt động mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ
cũng như quan điểm đạo đức, thái độ.
Có thể hình dung diễn biến chính về hoạt động của GV và HS trong một
tiết học, theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức như sau:
- Ban đầu, GV tổ chức tình huống học tập bằng cách đặt vấn đề và giao
nhiệm vụ cho HS. HS hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, trong quá trình giải quyết
nhiệm vụ, HS sẽ gặp khó khăn và nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết.
Những khó khăn của HS được GV gợi ý để các vấn đề được diễn đạt một cách
chính xác, phù hợp với mục tiêu và các nội dung cụ thể đã xác định.
- Trong quá trình hoạt động nhận thức, GV theo dõi, định hướng, chỉ đạo
sự trao đổi, tranh luận của HS và có những gợi ý cần thiết; HS chủ động tìm
tòi giải quyết các vấn đề đặt ra theo một tiến trình hợp lí.
- Sau cùng, GV chỉ đạo sự trao đổi , tranh luận về kết quả của HS đối
với những nhiệm vụ đã đặt ra, bổ sung, tổng kết khái quát hoá, chuẩn hoá
kiến thức, kiểm tra kết quả, nhận xét, đánh giá và thực hiện các công việc
cần thiết khác.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

11

Mai Thị Lệ Giang




Khóa luận tốt nghiệp

12

Mai Thị Lệ Giang

gồm các giai đoạn chính sau: Từ việc khái quát hoá những sự kiện xuất phát,
đi đến xây dựng mô hình giả định của hiện tượng; từ mô hình dẫn đến việc rút
ra các hệ quả của lí thuyết; rồi từ hệ quả lí thuyết đến kiểm tra bằng thực
nghiệm. Nếu những sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả
thuyết đó được xác nhận là đúng đắn và trở thành chân lí khoa học, nếu những
sự kiện thực nghiệm không phù hợp với những dự đoán lí thuyết thì phải
chỉnh lí hoặc thay đổi lại.
Trong diễn biến của chu trình, những hệ quả lí thuyết ngày một nhiều,
mở rộng phạm vi ứng dụng của các kết luận đã thu được, cho đến khi xuất
hiện những sự kiện thực nghiệm mới không phù hợp với thực nghiệm thì phải
coi lại lí thuyết cũ, chỉnh lí hoặc phải thay đổi và như thế là lại bắt đầu một
chu trình mới, xây dựng những kiến thức mới, thiết kế máy móc mới để kiểm
tra; bằng cách đó làm kiến thức khoa học ngày một phong phú thêm.
Vận dụng chu trình sáng tạo khoa học nêu trên vào quá trình dạy học,
thì việc xây dựng các kiến thức vật lí cụ thể được thực hiện theo tiến trình
như sau:
- Nêu các sự kiện mở đầu (đề xuất vấn đề)
Sự kiện mở đầu được đặt ra với yêu cầu phải xuất phát từ cái đã biết và
nhiệm vụ phải giải quyết, từ đó làm nảy sinh nhu cầu về một cái còn chưa
biết, về một cách giải quyết không có sẵn, nhưng hi vọng có thể tìm tòi, xây
dựng được.
Ngay sau khi nêu các sự kiện mở đầu, GV cần làm bộc lộ những quan

toán học dựa vào những kiến thức đã biết hoàn toàn chiếm ưu thế. GV chỉ cần
định hướng để HS tự rút ra các hệ quả lôgic về cái cần tìm bằng cách sử dụng
những lập luận, suy diễn từ những dự đoán đã nêu. Trong nhiều trường hợp,
HS cần phối hợp tốt giữa PP suy luận và những biến đổi toán học cần thiết.
Trước khi kiểm tra những hệ quả lôgic, GV nên định hướng cho HS trao
đổi, thảo luận và đề xuất các phương án thí nghiệm kiểm tra hệ quả lôgic. GV
cần đề phòng một số phương án thí nghiệm để phòng khi HS không nêu được
phương án thí nghiệm hoặc khi phương án HS nêu ra chưa thật tối ưu.
- Tiến hành thí nghiệm kiểm tra.
Đây là giai đoạn xác định sự đúng đắn hay không của hệ quả lôgic, giai
đoạn này đòi hỏi HS phải có kỹ năng, kỷ xảo trong thực hành thí nghiệm.
GV cần lựa chọn và chuẩn bị những thí nghiệm kiểm tra phù hợp với các

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

14

Mai Thị Lệ Giang

phương án đã nêu đồng thời phải đảm bảo kết quả thí nghiệm chính xác và
thành công ngay.
Tuỳ vào mức độ dễ hay khó của thí nghiệm và khả năng thực hành của
HS mà GV có thể yêu cầu HS tự tiến hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của
GV hoặc GV và HS cùng tiến hành thí nghiệm.
Sau khi tiến hành thí nghiệm kiểm tra sẽ xuất hiện hai khả năng.
- Khả năng thứ nhất: Kết quả thí nghiệm không phù hợp với hệ quả
lôgic, khi đó cần kiểm tra xem phương án thí nghiệm có phù hợp với mô hình

tự giác và chủ động trong học tập. Muốn vậy trong quá trình dạy học trong
quá trình dạy học cần áp dụng tốt một số biện pháp được trình bày dưới đây.
1.3.2 Một số biện pháp đảm bảo cho học sinh tự lực trong hoạt động nhận
thức có hiệu quả.
Muốn HS hình thành năng lực học tập sáng tạo, phải chuẩn bị cho họ
những điều kiện cần thiết, những điều kiện tốt nhất để họ có thể thực hiện
thành công các hoạt động nhận thức. Để đạt được điều đó, có thể áp dụng các
biện pháp sau:
- Thứ nhất, cần phải tạo ra những mâu thuẫn hợp lí bằng cách vận dụng
linh hoạt các kiểu xây dựng các tình huống có vấn đề. Gợi động cơ, hứng thú
học tập bằng những động tác bên ngoài như khích lệ, khen thưởng…Tuy
nhiên, quan trọng nhất vẫn là sự kích thích bên trong bằng mâu thuẫn nhận
thức, tạo ra thói quen ở họ lòng ham thích hoạt động trí óc có chiều sâu, tự
giác, tích cực.
- Thứ hai, cần tạo được môi trường sư phạm thuận lợi cho HS có cảm
giác thoải mái, thân thiện trong học tập. GV cần phải biết chờ đợi, động viên
giúp đỡ, và tổ chức lớp học sao cho các HS tham gia thảo luận, phát biểu ý
kiến của mình, mạnh dạn nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề chứ không chỉ chờ
sự phán xét của GV. Đặc biệt, bản thân GV cũng cần kiên quyết dành nhiều
thời gian hơn cho HS phát biểu, thảo luận, từng bước tăng dần suy nghĩ và
khả năng làm việc của HS.
- Thứ ba, cần tạo những điều kiện tốt nhất để HS có thể giải quyết thành
công những nhiệm vụ được giao. HS là chủ thể hoạt động nhận thức, nên sự
thành công của HS trong việc giải quyết các vấn đề học tập có tác dụng làm
họ tự tin, hứng thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết những vấn đề ngày càng
khó hơn.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý



nghiệm cho mình và tốc độ thực hiện sẽ nhanh dần và chính xác hơn.
+ Cho HS tiếp cận với các PP nhận thức vật lí đang được sử dụng phổ
biến.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

17

Mai Thị Lệ Giang

Trong học tập vật lí một mặt HS phải quan sát thực tế để cảm nhận được
sự tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của nó nhờ các
giác quan, mặt khác HS phải thực hiện các phép suy luận, biến đổi trong óc để
rút ra được các đặc tính bản chất và những mối quan hệ phổ biến khách quan,
nhờ thế mà rút ra chân lí mới. Trình tự hợp lí của những hoạt động vật chất và
tinh thần đảm bảo cho kết luận cuối cùng rút ra phản ánh đúng thực tế khách
quan gọi là PP nhận thức vật lí. Các PP nhận thức vật lí đều do các nhà bác
học đúc kết được thông qua hoạt động thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng
định. Muốn cho HS làm quen dần với PP đi tìm chân lí mới trong quá trình
học tập, nhất thiết phải dạy cho họ các PP nhận thức phổ biến. Tuy nhiên, việc
vận dụng các PP đó để nghiên cứu một hiện tượng, một tính chất, một định
luật vật lí là một việc không dễ dàng. Chính vì thế, trong nhà trường, cần cố
gắng làm cho HS biết được người ta thực hiện những hành động nào, trải qua
những giai đoạn nào trên con đường đi tìm chân lí; đồng thời tuỳ theo trình độ
của HS và các điều kiện cụ thể của nhà trường mà tổ chức cho HS tham gia
trực tiếp một số giai đoạn của các PP nhận thức đó.
1.4 Khái quát về bài tập có nội dung thực tế.

các em.
Ví dụ: Khi chẻ những khúc củi lớn người ta thường dùng những cái nêm
(là vật thường làm bằng thép có tiết diện hình tam giác) cắm vào khúc củi, sau
đó lấy búa đập mạnh vào nêm. Thực tế cho thấy khi gõ mạnh búa vào nêm thì
củi bị chẽ ra dễ dàng hơn so với cách dùng rìu để bổ trực tiếp. Hãy giải thích
tại sao?
- BTTT sáng tạo là loại câu hỏi mà khi giải, HS phải dựa vào vốn kiến
thức của mình về sự hiểu biết của các quy tắc, định luật, trên cơ sở các phép
suy luận logic tự lực tìm ra những phương án kỹ thuật tốt nhất để giải quyết
yêu cầu đặt ra của câu hỏi.
Ví dụ: Người ta muốn tháo ra ngoài một cái đinh ốc làm bằng thép đã
được vặn rất chặt vào đai ốc làm bằng đồng. Hãy tìm một phương án đơn giản
để việc tháo đinh ốc ra trở nên dễ dàng hơn.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

19

Mai Thị Lệ Giang

1.4.2.2 Các hình thức thể hiện bài tập có nội dung thực tế.
Do đặc điểm BTTT là nội dung của chúng gắn liền với những hiện
tượng, sự vật gần gũi với thực tế đời sống và chú trọng đến những ứng dụng
kĩ thuật đơn giản tương ứng nên phần lớn các câu hỏi thường được thể hiện
bằng lời, một số câu hỏi mà nội dung chứa đựng nhiều thông tin có thể thể
hiện dưới dạng hình vẽ, hình ảnh, hay các đoạn phim video clip ngắn để
minh hoạ.

Đối với loại BTTT tập dượt
1. Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết và các yêu cầu của bài tập
Đọc kĩ nội dung câu hỏi để tìm các thuật ngữ chưa biết, tên gọi của các
bộ phận cấu trúc,… đặc biệt quan tâm đến các thao tác kĩ thuật nêu trong câu
hỏi (bằng cách tự đặt ra và trả lời các câu hỏi phụ như “làm cái gì?”, “làm như
thế nào?”). Xác định ý nghĩa vật lí của các thuật ngữ, tóm tắt đầy đủ các giả
thiết và hiểu rõ yêu cầu của các câu hỏi (cần giải thích cái gì?). Đối với các
bài tập thể hiện bằng hình ảnh, phim minh họa, cần quan sát kĩ và khảo sát
chi tiết các thông tin minh họa, nếu cần thiết phải vẽ hình để diễn đạt những
điều kiện của câu hỏi để so sánh các trường hợp riêng, điều này có ý nghĩa
quan trọng trong việc phát hiện mối liên quan giữa sự vật, hiện tượng nêu
trong câu hỏi với các kiến thức vật lí tương ứng.
2. Phân tích hiện tượng và các thao tác kĩ thuật
Nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của câu hỏi (những hiện tượng gì, sự
kiện gì, các tác động kĩ thuật nào…) để nhận biết chúng có thể liên quan đến
những khái niệm nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật lí. Nếu các thao tác
kĩ thuật diễn ra theo nhiều giai đoạn, cần xác định đâu là những giai đoạn
chính, trong đó động tác kĩ thuật nào là cơ bản. Khảo sát xem mỗi giai đoạn
diễn biến đó bị chi phối bởi các quy tắc nào, định luật nào…trên cơ sở đó
hình dung toàn bộ diễn biến của hiện tượng và các định luật, quy tắc chi phối
nó.
3. Xây dựng lập luận và xác lập bài tập
Giải thích về các thao tác kĩ thuật (cách làm) thực chất là cho biết các
thao tác kĩ thuật đó là sự vận dụng của kiến thức vật lí nào và tại sao làm như
thế có thể đạt hiệu quả cao. Muốn vậy, phải định hướng và thiết lập được mối
quan hệ giữa đặc tính của sự vật và cách làm cụ thể nêu trong câu hỏi với một

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý



và có thể chấp nhận hay không. Trong nhiều trường hợp có thể làm những thí
nghiệm, mô hình đơn giản (có tính tương đồng với sự kiện đã nêu trong bài
tập) để kiểm chứng lời giải thích.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

22

Mai Thị Lệ Giang

Đối với loại BTTT sáng tạo, mục tiêu cuối cùng đòi hỏi phải lựa chọn và
tìm ra những phương án kĩ thuật tốt nhất (trong điều kiện cho phép) để giải
quyết yêu cầu đặt ra của bài tập, ta có thể áp dụng lần lượt các bước tiến hành
như sau:
1. Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết và yêu cầu của bài tập
Đọc kĩ câu hỏi để hiểu rõ sự vật, hiện tượng hay sự kiện nêu trong bài
tập có thể liên quan đến những lĩnh vực nào của vật lí để từ đó có sự “khoanh
vùng” hợp lí. Cần chú ý đến các điều kiện cho trước để thu hẹp phạm vi ứng
dụng các kiến thức vật lí tương ứng. Nhìn chung việc nắm vững giả thiết và
yêu cầu của câu hỏi quy về việc phải trả lời được các câu hỏi như: Cần phải
làm gì? Làm bằng cái gì?
2. Phân tích sự kiện và xây dựng các phương án thực hiện
Xuất phát từ những dữ kiện ban đầu (sự kiện gì, các mục đích cuối cùng
cần đạt được là gì), cần liên tưởng đến các quy tắc hay định luật tương ứng, từ
đó vạch ra một số phương án khả dĩ có thể thực hiện được. Nói chung, đích
cuối cùng của bước này là trả lời được các vấn đề đặt ra của bài tập: có bao
nhiêu cách làm? làm như thế nào?

1.4.3 Thực trạng về vấn đề sử dụng bài tập có nội dung thực tế trong dạy
học vật lý ở các trường trung học phổ thông hiện nay.
1.4.3.1 Thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế đời
sống của học sinh trung học phổ thông hiện nay:
Chương trình vật lí THPT hiện nay bao gồm nhiều phần khác nhau như
cơ học, nhiệt học, quang học, điện học… Mỗi phần lại bao gồm nhiều đơn vị
kiến thức khác nhau tương ứng với các cách tiếp cận kiến khác nhau. Với một
khối lượng kiến thức lớn như vậy, lẽ ra việc vận dụng kiến thức vào đời sống,
việc vận dụng những kiến thức vào đời sống, việc giải thích các hiện tượng
xảy ra hằng ngày xung quanh các em không phải là vấn đề khó khăn. Nhưng
điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi.
Thông qua kết quả khảo sát thực tế bằng PP đàm thoại với một số GV và
HS của một số trường THPT trên địa bàn Thừa Thiên Huế, Quảng Bình tôi
nhận thấy thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lí vào đời sống thực tế
của HS THPT hiện nay còn rất nhiều hạn chế. Những biểu hiện phổ biến là:

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

24

Mai Thị Lệ Giang

- Hạn chế hiểu biết về các dụng cụ, phương tiện kĩ thuật đơn giản sử
dụng trong dạy học.
- Hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức vào các vấn đề kĩ thuật
đơn giản.
- Hạn chế về các thao tác thực hành, thí nghiệm.

Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý


Khóa luận tốt nghiệp

25

Mai Thị Lệ Giang

Chương 2:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ
TRONG DẠY HỌC PHẦN QUANG HỌC Ở TRƯỜNG THPT.
XÂY DỰNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ PHẦN
“QUANG HÌNH HỌC.”
2.1 Bài tập có nội dung thực tế về “Hiện tượng khúc xạ ánh sáng”.
2.1.1 Phân tích nội dung kiến thức:
-Phân tích:
Hiện tượng khúc xạ ánh sáng là hiện tượng thường gặp trong đời sống.
Do vậy, trong bài này cần giảng dạy cho HS để HS có thể giải thích được các
hiện tượng xảy ra trong cuộc sống.
Nội dung kiến thức.
- Hiện tượng khúc xạ ánh sáng: là hiện tượng lệch phương (gãy) của các
tia sáng khi truyền xiên góc qua mặt phân cách giữa hai môi trường trong suốt
khác nhau.
-Định luật khúc xạ ánh sáng:
+ Tia khúc xạ nằm trong mặt phẳng tới (tạo bởi tia tới và pháp tuyến) và
ở bên kia pháp tuyến so với tia tới.
+ Với hai môi trường trong suốt nhất định, tỉ số giữa sin góc tới (sin i)
và sin góc khúc xạ (sin r) luôn không đổi:


giải thích tại sao?
Nhận xét: Đây là dạng BTTT loại tập dượt.
Phân tích bài tập: sau khi đọc kỹ đầu bài, ta rút ra
một số thông tin như sau:

(Hình 2.1)

- Sự kiện nêu ra trong bài tập là: nhúng chiếc thìa vào ly nước.
- Thao tác tiến hành: sau khi nhúng chiếc thìa vào ly nước, quan sát chiếc
thìa đó và đưa ra nhận xét.
- Vấn đề cần giải quyết: ta thấy chiếc thìa đó như bị gãy ở mặt nước. Hãy
giải thích tại sao.
Chuyên ngành phương pháp giảng dạy Vật lý



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status