Header Page 1 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
Sáng kiến kinh nghiệm
Vận dụng quan điểm tích hợp vào
bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao
ở nhà trường THPT
Footer Page 1 of 123.
Header Page 2 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI BÀI SOẠN THEO QUAN ĐIỂM TÍCH
HỢP VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ CỦA
NAM CAO THEO XU HƯỚNG TÁCH RỜI CÁC PHÂN MÔN Ở NHÀ
TRƯỜNG THPT HIỆN NAY.
1. ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY HỌC LÀ XU THẾ
CHUNG Ở CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
2. QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP CÓ THỂ VẬN DỤNG VÀO TRONG DẠY HỌC.
2.1 Khái niệm về quan điểm tích hợp.
2.2 Dạy học theo quan điểm tích hợp phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà
trường phổ thông hiện đại.
2.3 Tác phẩm tự sự của Nam Cao tiềm ẩn những khả năng cho phép dạy học
04
04
04
04
05
05
07
08
08
08
08
09
10
11
11
12
13
13
14
15
21
23
24
Header Page 3 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
và cả giáo viên thiếu ý thức gắn kết khâu dạy tác phẩm với các bộ phận khác của
chương trình; giáo viên và học sinh thường xuyên lặp lại kiến thức; và một thực
trạng phổ biến nhất là học sinh tiếp cận với tác phẩm tự sự của Nam Cao một
cách phiến diện không có cái nhìn tổng thể.
Footer Page 3 of 123.
Header Page 4 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
Vì những lí do trên, chúng tôi xin đưa ra sáng kiến kinh nghiệm, đề tài: “Vận
dụng quan điểm tích hợp vào bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao ở nhà trường
THPT” .
II. Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu về quan điểm tích hợp đã có nhiều công trình được công bố. Ở
Việt Nam, GS Nguyễn Khắc Phi dành phần mở đầu để hướng dẫn cụ thể tinh thần
biên soạn chương trình theo quan điểm tích hợp đến giáo viên THCS, THPT tham
khảo (Sách giáo viên Ngữ văn, tập 1, NXB Giáo dục, 2002). Đồng quan điểm
trên, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Thống với bài viết: “Dạy học theo quan điểm tích hợp”
(Đổi mới dạy và học môn Ngữ Văn ở THCS, NXB Giáo dục, 2002) đã khách
quan nhìn nhận những hạn chế, những mặt tích cực của việc vận dụng quan điểm
tích hợp vào dạy học.
Xuất phát từ những thành tựu của những công trình trên, chúng tôi nhận
định việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học tác phẩm tự sự của Nam Cao
ở nhà trường THPT là thật sự cần thiết và bổ ích.
III. Phương pháp nghiên cứu.
1. Nghiên cứu tài liệu (lí luận tích hợp).
2. Thực nghiệm (giảng dạy) – phương pháp chính.
3. Khảo sát thực tế.
Header Page 6 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI BÀI SOẠN THEO QUAN
ĐIỂM TÍCH HỢP VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÁC PHẨM
TỰ SỰ CỦA NAM CAO THEO XU HƯỚNG TÁCH RỜI CÁC PHÂN MÔN
Ở NHÀ TRƯỜNG THPT HIỆN NAY.
1. ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO DẠY HỌC LÀ XU THẾ
CHUNG Ở CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
Những thập kỷ gần đây, thế giới đang chịu sự tác động của những thành tựu
khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin ngày nay đã len lỏi vào mọi khía cạnh của cuộc sống con
người. Nó không những mang lại cho chúng ta những thuận lợi trong sinh hoạt,
công việc mà nó còn làm đảo lộn mọi quan điểm tưởng chừng như không thể thay
đổi. Đúng như các nhà khoa học đã từng nhận định: “Cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật lần trước nhằm giải phóng đôi bàn tay, còn cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật lần này nhằm giair phóng cho bộ não con người” (Phan Trọng Luận – cb –
Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông , tập 1, NXB GD
1996). Đó là mục tiêu đào tạo con người cho thời đại mà nền giáo dục của mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc đặt làm nhiệm vụ.
Xuất phát từ những biến đổi đó, những năm gần đây chúng ta đã làm quen
với những khuynh hướng, tư tưởng như: tích hợp, liên ngành, liên môn, xuyên
môn… với chung một mục đích là chấm dứt tình trạng “chia ô các bộ môn”. Quan
điểm tích hợp hiện nay được xem là sự lựa chọn của các nước trong khu vực và
trên thế giới: Mĩ, Úc, Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan, Inddooneenxxia, nhưng ở
Việt Nam quan điểmnày xem ra vẫn còn mới mẻ. Gần đây chúng ta đã thực hiện
biên soạn lại chương trình từ cấp tiểu học, THCS, THPT. Chương trình “lấy quan
điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức chương trình, biên soạn sách giáo
nhà trường phổ thông hiện đại.
Trước kia, mỗi môn học tồn tại biệt lập, có mục tiêu riêng nhằm trang bị
cho học sinh kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới xung quanh thì ngày nay
chúng ta phải đặt ra mục tiêu thống nhất. Không những sau khi ra trường các em
thích nghi với cuộc sống mà ngay khi còn ở trường, ở lớp các em phải hòa nhập
được ngay với cuộc sống hiện tại. huống chi môn Ngữ văn (bao gồm các bộ phận:
Văn học, Tiếng Việt, Làm Văn) là một môn học nền tảng, có tác dụng quan trọng
tạo nên trình độ văn hóa của con người. Như vậy, dạy và học tốt môn Ngữ Văn
còn là điều kiện để phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân
loại, giáo dục tư tưởng, tình cảm cao đẹp cho người công dân tương lai.
Chương trình phân ban THPT vừa qua, đã khách quan nhìn nhận: “Nguyên
tắc tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải quán triệt trong toàn bộ môn học, đọc
văn đến làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt mọi
yếu tố của hoạt động học tập, tích hợp trong chương trình, tích hợp trong SGK,
tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động
học tập của HS, tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo”. Trong phạm vi của
một sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi chỉ chú trọng vào việc áp dụng nó (quan
điểm tích hợp) vào trong dạy học. Đặc biệt ở phạm vi hẹp hơn là chỉ tích hợp các
bộ phận (Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) vốn có của môn Ngữ Văn vào đề tài của
mình, hi vọng sẽ đem lại những hiệu quả sau:
- Tiết kiệm được thời gian đào tạo; khắc phục tình trạng quá tải về kiến thức.
- Tránh trùng lặp, dư thừa kiến thức trong đào tạo.
- Rèn luyện tư duy tổng hợp cho học sinh.
Footer Page 7 of 123.
Header Page 8 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho
biết trời gió rét, nay mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông thấy tuổi già
của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”
[7 tr 228]. Đây là đoạn trích miêu tả sự thức tỉnh bản chất lương thiện trong con
người của nhân vật Chí Phèo, sau một đêm sống chung với Thị Nở. Cho thấy đâu
phải lúc nào Chí Phèo cũng là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” mà có những lúc
lương tri anh ta thức tỉnh. Đó là nội dung của đoạn trích trên và cũng là một phần
trong tác phẩm.
Footer Page 8 of 123.
Header Page 9 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
Đoạn trích trên là lời đối thoại của ai? Được thể hiện qua hình thức nào?
Đoạn trích nhằm thông báo điều gì?... Trả lời những câu hỏi trên, chúng ta vận
dụng quan điểm tích hợp của (Văn học, Tiếng Việt, Làm văn…). Ngoài ra có thể
liên hệ với các tác giả hiện thực khác như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan,
Ngô Tất Tố để thấy được phong cách đặc trưng của mỗi tác giả; có thể chạm đến
những vấn đề Lịch sử văn học, Lí luận văn học hay Văn hóa dân tộc; giúp học
sinh có cái nhìn khái quát về văn học hiện thực; hiểu hơn về con người, xã hội
1930 – 1945; thấy được sự sáng tạo, phát triển của ngôn từ Tiếng Việt; hay về sự
phát triển của văn học Việt Nam… Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày những biểu
hiện điển hình nhất:
+ Dạy học tác phẩm tự sự của Nam Cao có thể làm rõ hơn đặc điểm phong
cách của những tác giả hiện thực khác (Nguyễn Công Hoan với sự tha hóa của
con người; Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói trong “Tắt đèn”) thì dạy học “Chí
Phèo” của Nam Cao, học sinh còn thấy được: “ tiếng kêu cứu lấy nhân cách, nhân
phẩm, nhân tích của con người đang bị cái đói và miếng cơm làm cho tiêu mòn đi,
thui chột đi, hủy đi” [5 tr.92].
dạy Văn trên lớp cũng là một chỉnh thể nghệ thuật dạy, thể hiện tài năng sư phạm
của người thày. Chỉnh thể nghệ thuật dạy sẽ ngày càng hoàn chỉnh nếu giáo viên
chúng ta biết trau dồi, học hỏi và phát hiện những phương pháp mới tiến bộ. Quan
điểm tích hợp trong giáo dục hiện nay là phù hợp trong dạy học, đặc biệt là môn
Ngữ văn.
Footer Page 10 of 123.
Header Page 11 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
CHƯƠNG II
NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN
CHƯƠNG NÓI CHUNG VÀ TÁC PHẨM TỰ SỰ CỦA NAM CAO NÓI
RIÊNG Ở NHÀ TRƯỜNG THPT THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP.
I. Bài học theo quan điểm tích hợp định hướng rõ nội dung và phương
pháp dạy học.
Soạn một bài học tác phẩm văn chương cũng có khi gọi là thiết kế một bài
dạy học tác phẩm văn chương. Đây là công việc tưởng chừng như đơn giản mà
mọi giáo viên đều phải làm trước khi lên lớp. Nhưng thực chất cũng có rất nhiều
vấn đề phức tạp.
Lâu nay, giáo viên chúng ta nghĩ đơn giản là vì công việc này chỉ cần giáo
viên cảm thụ thật sâu sắc tác phẩm, sau đó soạn ra thành những nọi dung và tiến
hành sắp xếp theo trình tự hợp lí là xem như đã hoàn thành xong một giáo án. Đó
là quan niệm của phương pháp dạy học truyền thống mà chúng ta đã lên án.
Điểm mới của thiết kế bài soạn theo quan điểm tích hợp không chỉ thể hiện
yêu cầu phát huy tối đa, tính tích cực sáng tạo mà còn chú ý đến việc định hướng
nội dung tiếp nhận cho chủ thể học sinh. Có nghĩa là nếu thiết kế bài soạn theo
quan điểm dạy học mới nghiêng về mặt phương pháp, cách thức tổ chức, điều
viên có thể tổ chức các hoạt động cho học sinh vừa khám phá nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm văn chương vừa có thể chiếm lĩnh những tri thức khác về ngôn
ngữ học, nâng cao khả năng làm văn, bồi dưỡng tri thức lịch sử văn học, lí luận
văn học. Vì những tri thức này có quan hệ mật thiết với tác phẩm văn chương
đang được học.
Như vậy, tích hợp trong từng thời điểm tạo điều kiện thuận lợi cho người
giáo viên khai thác triệt để mối quan hệ mật thiết giữa văn bản văn học và các vân
đề đang dạy ở phần Tiếng Việt và Làm Văn.
1.2 Tích hợp theo từng vấn đề
Tích hợp theo từng vấn đề (ích hợp dọc integration verticale) mà vấn đề
xuyên suốt, có thể chỉ một vấn đề nhưng có mối quan hệ với nhiều cấp học
Nhưng vấn đề là để thể hiện được nội dung tìm được theo cách tích hợp này
(theo từng vấn đề) vào bài soạn tác phẩm văn chương thì người giáo viên phải
biết cách đề cập đến những kiến thức đã dạy và cả kiến thức sẽ dạy.
Kiến thức đã dạy trong trường hợp những nội dung đang được dạy nếu có
liên hệ với những kiến thức đã học, giáo viên có thể lợi dụng cơ hội này để ôn tập,
củng cố đồng thời qua đó rèn cho học sinh ý thức và kĩ năng vận dụng những
kiến thức đã học để xử lí vấn đề đang đặt ra của bài học mà đáng lẽ ra học sinh
phairlaf người khám phá, phát hiện đầu tiên.
Đối với kiến thức sẽ được dạy trong chương trình, người giáo viên cũng
cần xử lí khéo léo. Vào đầu mỗi tiết dạy, giáo viên chúng ta thường có thói quen
giới thiệu bài mới. Việc giới thiệu bài mới cũng mang lại hiệu quả đáng kể như
tạo tâm thế tốt cho học sinh cảm thụ tác phẩm, kích thích, khơi gợi trí tò mò…
Ví dụ khi dạy đến “Đôi mắt” – Nam Cao, giáo viên biết liên hệ đúng chỗ,
giúp các em hiểu hơn nhận định trong SGK Văn 11: “Sau cách mạng tháng Tám
1945, Nam Cao lao mình vào mọi công tác cách mạng và kháng chiến. Ông tự
nguyện làm người cán bộ tuyên truyền vô danh của cách mạng và có ý thức tự rèn
luyện cải tạo mình trong thực tế kháng chiến”. Điều đó tạo một luồng gió mới cho
những sáng tác của ông sau cách mạng như “Đôi mắt”, “Nhật kí ở rừng” (1948).
Footer Page 12 of 123.
các phân môn. Dạy phân môn Văn có thể soi sáng cho các tri thức ở phân môn
Tiếng Việt và làm Văn. Cho nên việc lấy văn bản văn học làm mẫu để phân tích,
lí giải các tri thức của các phân môn khác cũng được xem là một hướng giải quyết
vấn đề một cách khoa học tích cực. Thực tế vốn đa dạng và phong phú, việc dạy
văn gắn với thực tế cuộc sống: sưu tầm tài liệu, tham quan, hoạt động thực tế, tập
hợp xử lí thông tin để rút ra quy luật, định nghĩa…phần nào sẽ giúp em khỏi bỡ
ngỡ với những khó khăn trong cuộc sống sau này.
Tham khảo văn mẫu cũng là một hướng dạy học Văn hay, tất nhiên cần giúp
các em biết chọn lọc, cảm thụ vẻ đẹp thẩm mĩ của bài văn, có cảm xúc riêng và
quan điểm tiếp thu khách quan, trung thực…- Dó chính là quá trình học tập của
chủ thể chỉ thật sự có hiệu quả nếu được đặt trong những tình huống có ý nghĩa.
Sử dụng trang thiết bị công nghệ thông tin trong dạy học Văn hiện nay vẫn
gây nhiều tranh cãi.hãy nên coi những trang thiết bị này chỉ là những đồ dùng dạy
Footer Page 13 of 123.
Header Page 14 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
học nhằm hỗ trợ hoạt động dạy - học của Thầy – Trò (tinh thần công nghệ hóa sư
phạm). Đặc biệt hướng dẫn học sinh tra cứu kiến thức, tư liệu trên mạng Internet
nhằm hỗ trợ học tập.
II. Bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao theo quan điểm tích hợp thể
hiện được những mối quan hệ với các bộ phận khác của môn Ngữ văn.
Nam Cao là một nhà văn hiện thực điển hình nhất của nền văn học Việt nam
trước cách mạng Tháng Tám. Trình bày những nét độc đáo trong những sáng tác của
Nam Cao, có lẽ không phải là mục đích chính của chúng tôi. Mục đích của chúng tôi
chỉ muốn chứng minh một điều: Tác phẩm tự sự của Nam Cao là tổng hợp nhiều mối
quan hệ kiến thức của các bộ phận khác nhau trong môn Ngữ Văn. Và bài học tác
phẩm tự sự của Nam Cao cần phải được đặt trong những mối quan hệ đó.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
đáng thương…; Lão Hạc khóc hu hu như đứa trẻ khi trót đánh lừa một con
chó…).
Tương tự, sau Cách mạng tháng Tám, với những tác phẩm như “Đôi mắt”,
“Nhật kí ở rừng” đã mang một âm hưởng mới. Âm hưởng của những ngày đầu
kháng chiến, dự báo cho một tương lai sáng lạn.
Qua đây cho thấy, những sáng tác của Nam Cao luôn bị chi phối bởi hiện
thực xã hội vây quanh và đặc điểm cá nhân của chính nhà văn.
Dạy học tác phẩm tự sự của Nam Cao cần phải có một sự liên hệ với chính
cuộc đời của tác giả, với chính hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ. Có như vậy mới
thấy hết được ý nghĩa của tác phẩm, mới trân trọng những đóng góp của nhà văn.
2. Trong quan hệ với các nhà văn hiện thực khác.
Bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao khi được đặt trong những mối quan
hệ thì việc so sánh tác phẩm tự sự của Nam Cao với những sáng tác của các nhà
văn hiện thực khác là điều cần thiết.
Sáng tác sáng ngời nhất, viết về đề tài nông dân của Nam Cao là “Chí
Phèo” cần được đặt trong mối quan hệ với các tác phẩm của các nhà văn trước
cách mạng viết về nỗi khổ bị áp bức, bóc lột của người nông dân (chị Dậu “Tắt
đèn” – Ngô Tất Tố, anh Pha “Bước đường cùng” – Nguyễn Công Hoan… bị lừa
gạt đến khốn cùng). Nhưng điển hình nhất, bi kịch bị tha hóa của người nông dân
lương thiện bị đàn áp, chà đạp cả nhân hình, nhân tính tiêu biểu nhất là Chí Phèo.
Hình tượng Chí Phèo là bổ sung cho những gì đầy đủ nhất về nỗi thống khổ đến
cùng cực của người nông dân trong xã hội trước cách mạng tháng Tám.
Nếu trong cảm thụ văn học, biểu hiện của tính chủ quan là một hiện tượng
tất yếu, nó thể hiện trình độ, tài năng, thói quen thẩm mĩ của người cảm thụ thì
cách liên hệ, so sánh với các nhà văn hiện thực khác cũng có thể hiểu là một biểu
hiện của tính chủ quan trong cảm thụ văn chương.
Như vậy bài soạn tác phẩm tự sự của Nam Cao theo quan điểm tích hợp đòi
hỏi giáo viên và học sinh phải huy động cùng một lúc nhiều tác phẩm của tác giả
đang dạy và cả những tác phẩm của những nhà văn hiện thực khác. Dạy “Chí
còn thể hiện sự kết hợp tài tình của tác giả trong cách dùng từ, lối trần thuật, đối
thoại mà đặc biệt là giọng văn, lời kể của tác giả. Đoạn văn trên, lời trần thuật như
trở nên đa giọng, đa nghĩa, mơ hồ. Bởi đó đâu phải là tiếng chửi giản đơn của Chí
Phèo mà ở đó còn có những giọng điệu khác nhau, có thể là của tác giả, có thể của
một người nào đó chứng kiến từ bên ngoài. Vì thế, GS Trần Đình Sử đã tinh tế
khi nhận ra rằng: Đây là “tiếng chửi chìm trong khát khao phá hoại, trả thù, phẫn
uất…Lời trần thuật trở nên đa giọng, đã nghĩa, mơ hồ hoàn toàn” [10 tr. 140].
4. Trong quan hệ với Tiếng Việt.
Bài học tác phẩm tự sự của Nam Cao thích hợp gắn với những nội dung tri
thức Tiếng Việt sau đây:
Tri thức về Phong cách học (Tiếng Việt lớp 9, lớp 11). Lớp 9 học sinh được
trang bị về các biện pháp tu từ…; lớp 11 các em sẽ được hệ thống lại và sẽ được
vận dụng để lí giải đặc điểm thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Vì vậy, khi dạy học
tác phẩm tự sự của Nam Cao ngoài việc ôn luyện lại những kiến thức về các biện
pháp tu từ được tác giả dùng trong tác phẩm, chúng ta còn phải giúp học sinh
phân biệt được phong cách ngôn ngữ văn chương với các phong cách ngôn ngữ
khác (báo chí, hành chính…). Sự phân biệt này là cơ sở để học sinh lí giải đặc
điểm thẩm mĩ của tác phẩm văn chương.
Tri thức về Ngữ nghĩa của câu và của văn bản nghệ thuật (Tiếng Việt 11),
trong đó việc chỉ ra hay phân biệt nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn là nội dung
chính của chương này. Đặc biệt là sự xuất hiện của nghĩa hàm ẩn. Nghĩa hàm ẩn
Footer Page 16 of 123.
Header Page 17 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
không những biểu hiện ở lĩnh vực câu và văn bản. Văn bản của Nam Cao chứa
đựng rất nhiều ngữ liệu minh họa cho nghĩa hàm ẩn. Ví dụ đoạn đối thoại giữa Bá
Kiến và Chí Phèo:
Header Page 18 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
CHƯƠNG III. BÀI SOẠN THỂ NGHIỆM.
CHÍ PHÈO (2 tiết)
- Nam Cao
A. YÊU CẦU:
- Giúp học sinh thấy được nét độc đáo mới mẻ của Nam Cao trong việc thể
hiện số phận bi thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Từ dó
thấy dược sức mạnh tố cáo của tác phẩm.
- Thấy được tấm lòng yêu thương, trân trọng người nông dân, một tư tưởng
nhân đạo sâu sắc của Nam Cao, được thể hiện qua ngòi bút khách quan, lạnh lùng.
- Những nội dung trên kết hợp với những giá trị đặc sắc về nghệ thuật của
tác phẩm là cơ sở giúp học sinh hình thành một số tri thức Làm văn, Tiếng việt, Lí
luận văn học…
B. THIẾT KẾ BÀI HỌC.
Công việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm.
I. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Giáo viên (GV) gọi một học sinh (HS) đọc phần Tiểu dẫn trong SGK.
GV: Vì sao truyện ngắn trước khi mang tên Chí Phèo lại có tên là Cái lò
gạch cũ rồi Đôi lứa xứng đôi? Hãy giải thích ý nghĩa của những tên truyện đó?
HS: Có thể trả lời chưa đầy đủ.
GV định hướng:
- Khi mới sáng tác, tác giả đặt tên cho tác phẩm là: Cái lò gạch cũ. Tên
truyện lấy từ chi tiết mở đầu và khép lại của tác phẩm, gợi lên cho người đọc về
một cuộc sống vừa luẩn quẩn quanh bế tắc vừa nhọc nhằn gian khổ của người
Footer Page 18 of 123.
tác khác của nhà văn Nam Cao về đề tài người nông dân:
GV: Cùng viết về đề tài người nông dân, ngoài Chí Phèo, Nam Cao còn có
những sáng tác nào khác?
HS: Sẽ nghĩ ngay đến Lão Hạc (THCS) và có thể kể thêm một số tác phẩm
như: Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó, Một bữa no…
GV: Em hãy nói đôi nét về nội dung tư tưởng của những tác phẩm đó?
HS: Sẽ nói được về tác phẩm Lão Hạc, những học sinh có đọc thêm sẽ phát
biểu được về những tác phẩm khác.
Footer Page 19 of 123.
Header Page 20 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
GV nhấn mạnh: Nhưng Chí Phèo là hiện thân những gì đau khổ cùng cực
nhất về hình ảnh người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến trước
Cách mạng tháng Tám. Chúng ta hãy cùng nhau phân tích tác phẩm.
(phần này vừa nhắc lại những tác phẩm đã học vừa cho học sinh thấy
được: Nam Cao có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài người nông dân , trong
đó “Chí Phèo” là điển hình nhất).
1. Nhân vật Chí Phèo.
a. Chí Phèo và Bá Kiến.
GV: Dẫn dắt HS bằng những câu hỏi, mà HS có thể tìm trong văn bản tác
phẩm để trả lời như:
- Chí có một lai lịch như thế nào?
- Chí đi làm cho nhà Bá Kiến là người ra sao? Và biến cố nào đã xảy ra
trong cuộc đời của Chí?
- Chí Phèo đi tù về đã có gì thay đổi? Nhiều lần đến nhà Bá Kiến, mục đích
những lần đến nhà Bá Kiến?
HS: Dựa vào tác phẩm HS có thể dễ dàng trả lời những câu hỏi đó.
- Chính Bá Kiến là nhà tù thực dân đã đẩy Chí Phèo – Một người nông dân
thật thà, chất phác vào con đường bị tha hóa hoàn toàn.
- Bá Kiến là đại diện tiêu biểu cho thế lực cường hào, ác bá gây bao cảnh
ngộ tang thương cho người nông dân mà Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức là
những hình ảnh điển hình. Qua đó, tác giả muốn tố cáo bộ mặt thật của xã hội
thực dân nửa phong kiến trước Cách mạng tháng Tám.
b. Chí Phèo và Thị Nở.
GV: Sau một đêm sống chung với Thị Nở, Nam Cao đã miêu tả tâm trạng
của Chí Phèo ra sao?
HS: Có thể tìm và nêu ra đoạn văn bản: (Hắn bâng khuâng… chao ôi là
buồn! Tỉnh dậy hắn thấy già… ốm đau).
GV: Có thể gợi mở cho HS bằng những câu hỏi phụ như: Em có nhận xét
gì về bút pháp của tác giả trong đoạn văn này? Điều kì diệu gì đã xảy ra với
Chí Phèo?
Nhưng GV cần định hướng: Đoạn văn thể hiện tài năng bậc thầy của tác
giả trong cách phân tích tâm lí nhân vật qua hình thức độc thoại nội tâm.
Đoạn văn khẳng định phẩm chất tốt đẹp của người nông dân, cho dù họ ở trong hoàn
cảnh bị tha hóa hoàn toàn. Ngoài ra, người đọc còn thấy được ở tác giả một thái độ
trân trọng, một tiếng kêu thống thiết hãy cứu lấy những người nông dân lương thiện.
Họ đang lặn ngụp, ngoi ngóp và tàn lụi dần trong xã hội đầy rẫy áp bức.
GV: Trong 5 ngày sống chung với thị Nở, Chí Phèo đã được Thị Nở chăm
sóc ra sao?
HS: Thị ân cần chăm sóc, đặc biệt hình ảnh bát cháo hành - một chi tiết
sáng giá thể hiện sức sáng tạo của tác giả.
GV: Theo em nguyên nhân nào khiến Chí Phèo thức tỉnh?
HS: Do sự quan tâm chăm sóc của Thị Nở, xuất phát từ tình thương yêu
đồng loại.
Footer Page 21 of 123.
(Nhìn chung HS có thể xây dựng cho riêng mình một cách thức phân
tích nhân vật trong tác phẩm tự sự. GV có thể hướng dẫn thêm cho HS về
cách thức đánh giá nhận định về nhân vật được phân tích).
2. Hướng dẫn HS tìm hiểu những nét độc đáo về nghệ thuật.
GV: Nêu ra đoạn văn mở đầu tác phẩm: “Hắn vừa đi vừa chửi…” và hỏi
HS: Theo em, đoạn văn trên là lời của ai?
HS: Phần lớn sẽ trả lời là lời của tác giả Nam Cao.
GV bổ sung: Đoạn văn còn thể hiện lời của người dân làng Vũ Đại: “chắc
nó trừ mình ra”; lời của nhân vật Chí Phèo: “Tức thật!...” và lời của tác giả. Từ
đó GV đi đến khái quát: Lời trần thuật trong tác phẩm tự sự hết sức linh
Footer Page 22 of 123.
Header Page 23 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
hoạt, có khi là chính tác giả tự bộc lộ, có khi qua lời của nhân vật trong tác
phẩm, và cũng có khi là lời của người đứng ngoài cuộc. Tất cả được đan xen
lẫn nhau nhưng người đọc vẫn thấy đượcthái độ tác giả. Đây là một trong
những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm tự sự.
Tương tự, GV có thể gọi HS nhận xét về kết cấu nội dung tác phẩm, về
cách khắc họa tính cách nhân vật Chí phèo?
Từ đó rút ra những nhận xét về nhân vật trong tác phẩm tự sự, về
không gian và thời gian trong tác phẩm tự sự.
Hoặc:
GV: Em có suy nghĩ gì về chi tiết cuối truyện? ( “Đột nhiên thị thấy thoáng
hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua…”).
HS: Kết hợp với những hiểu biết về tác giả, về những nhân vật cùng cảnh
ngộ như: Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo. HS có thể đi đến suy nghĩ: Hiện tượng
Chí Phèo có thể xảy ra một lần nữa. Một Chí Phèo con lại có thể ra đời và tấn bi
những năm trước (dạy học biệt lập từng phân môn). Cụ thể như sau:
Năm học: 2008 – 2009:
Lớp
A2
A4
A6
A9
B1
Giỏi
2%
0%
5%
6%
0%
Năm học 2009 – 2010:
Lớp
A2
A4
A6
Footer Page 24 of 123.
Giỏi
10%
5%
20%
Khá
20%
0%
5%
0%
Header Page 25 of 123.
Nguyễn Thị Ngà - THPT Nguyễn Trung Ngạn
A9
25%
60%
B1
5%
40%
15%
50%
0%
5%
*. Những kiến nghị đề xuất:
- Điểm mới lớn nhất cũng là mục đích thiết kế bài soạn mới là không những
tổ chức các thao tác, để học sinh tự thân vận động, chiếm lĩnh nội dung tác phẩm
văn học, mà qua đó người thiết kế còn phải gắn các nội dung tác phẩm khi học
sinh đã phát hiện ra, vào làm rõ thêm các tri thức của Tiếng Việt, Làm văn, Lí
luận văn học…Muốn đạt được điều đó, bài soạn luôn lấy văn bản tác phẩm làm
ngữ liệu chính để minh họa, làm rõ những kiến thức có liên quan đến sự thành
công của tác phẩm.
- Giúp học sinh rèn kỹ năng tư duy tổng hợp: tác giả, tác phẩm văn học…;