Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó - Sinh học 11 - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM HỒNG VÂN

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC
NHỮNG KIẾN THỨC KHÓ – SINH HỌC 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM SINH HỌC HÀ NỘI – 2009 1

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1

11
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản.
11
1.1.1.1. Tích hợp.
11
1.1.1.2. Tích hợp trong dạy học.
12
1.1.2. Mục đích của dạy học tích hợp.
14
1.1.3. Mô hình và phương pháp tích hợp.
16 2
1.1.4. Các quan điểm tích hợp trong dạy học.
17
1.1.5. Vai trò của tích hợp trong dạy học.
19
1.1.6. Ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Sinh học.
22
1.2. Cơ sở thực tiễn.
24
1.2.1. Phân tích chương trình Sinh học 11.
24
1.2.1.1. Mục tiêu chương trình.
24
1.2.1.2. Quan điểm xây dựng chương trình.
27
1.2.1.3. Cấu trúc chương trình.
30

3.1.2. Nội dung thực nghiệm.
153 3
3.1.3. Phương pháp thực nghiệm.
153
3.1.3.1. Chọn trường, lớp thực nghiệm.
153
3.1.3.2. Bố trí thực nghiệm.
154
3.1.3.3. Kiểm tra, đánh giá
155
3.2. Xử lý số liệu.
156
3.2.1. Phương tiện đánh giá.
156
3.2.2. Phân tích kết quả định tính.
156
3.2.3. Phân tích kết quả định lượng.
157
3.3. Kết quả thực nghiệm.
160
3.3.1. Phân tích định tính.
160
3.3.1.1. Phân tích các hoạt động và thái độ của HS trong quá trình dạy học.
160
3.3.1.2. Phân tích chất lượng bài kiểm tra của HS.
161
3.3.2. Phân tích định lượng.

THPT : trung học phổ thông
TN : thực nghiệm 5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong Luật giáo dục, điều 24.2 ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của HS phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động vào tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho HS”. Nghị quyết Trung ương II khóa VIII đã khẳng định
“Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho người học. Từng bước áp dụng các phương
pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện
và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát
triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân, nhất là
thanh niên”.

thông được xây dựng chủ yếu theo cách tiếp cận mục tiêu, chương trình SGK
mới hiện đang quá tải về khối lượng kiến thức và chưa thực sự chú trọng đến
phát triển kỹ năng, cấu trúc chương trình lạc hậu so với thế giới, các môn học có
sự chồng chéo về kiến thức. Xây dựng cấu trúc chương trình phổ thông theo
hướng tích hợp các môn riêng rẽ, chỉ học chuyên sâu từng môn khi đào tạo nghề
là xu hướng tất yếu của giáo dục nước ta trong tương lai. Vì vậy, việc GV vận
dụng quan điểm tích hợp vào dạy học hiện đang là vấn đề cần thiết và cấp thiết.
Nội dung chương trình Sinh học 11 là các đặc trưng của cơ thể sống, mỗi
chương là một dấu hiệu đặc trưng của sự sống mà vật vô cơ không có được, đó là
chuyển hóa vật chất và năng lượng, cảm ứng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản. 7
Các hoạt động xảy ra trong tế bào và cơ thể bao gồm nhiều phản ứng sinh lý và
sinh hóa với cơ chế phức tạp, đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu rộng về các
chuyên ngành liên quan. Vì vậy, việc tích hợp các kiến thức Toán học, Vật lý,
Hóa học vào Sinh học là cần thiết và hiệu quả.
Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài:
“Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó – Sinh học 11”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu về quan
điểm tích hợp trong đó có Xavier Roegiers (1996), với công trình nghiên cứu
“Khoa sư phạm tích hợp hay cần làm thế nào để phát triển năng lực ở các trường
học” [44].
X. Roegiers (1996), trong công trình nghiên cứu của mình, ông đã nhấn
mạnh rằng cần đặt toàn bộ quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối
với HS. Ông nhấn mạnh rằng đồng thời với việc phát triển những mục tiêu đơn
lẻ, cần tích hợp các quá trình học tập này trong một tình huống có ý nghĩa với
HS. Những tình huống có ý nghĩa phải là những tình huống có vấn đề, có nội
dung liên môn, liên quan đến thực tiễn, và khi HS tham gia giải quyết vấn đề đó

rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu của đề tài. Như
vậy các môn học không thực sự được tích hợp.
Quan điểm “liên môn”: đề xuất những tình huống chỉ có thể tiếp cận một
cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học. Ở đây nhấn mạnh sự liên kết của 9
nhiều môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết vấn đề cho trước,
các quá trình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với
nhau liên quan đến vấn đề phải giải quyết.
Quan điểm “xuyên môn”: chủ yếu phát triển các kỹ năng mà HS có thể sử
dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, những kỹ năng này
được gọi là kỹ năng xuyên môn. Có thể lĩnh hội những kỹ năng này trong từng
môn học hoặc nhân dịp có những hoạt động chung cho nhiều môn học.
X. Roegiers cũng cho rằng cần có sự cần thiết vượt lên trên các nội dung
học tập. Các kiến thức học được chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng được huy động
vào các tình huống cụ thể và những kiến thức đó sẽ được HS ghi nhớ lâu hơn.
Học chỉ để nhớ, để biết và giải quyết vấn đề trong bài học thì chưa đủ, HS phải
biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào những tình huống xảy ra
trong thực tiễn, đó là những tình huống phức hợp đòi hỏi người giải quyết phải
có năng lực thực tiễn. Học không chỉ dừng lại ở mức hiểu mà phải ở mức độ biết
áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá những kiến thức đã lĩnh hội. Theo
chiều hướng này quan điểm tích hợp nhằm đáp ứng lại một trong những thách
thức của xã hội chúng ta là đảm bảo cho mỗi HS có khả năng huy động hiệu quả
những kiến thức, năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình
huống xuất hiện và nếu có thể, để đối phó với những khó khăn bất ngờ, tình
huống chưa từng gặp.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu cơ sở
lý luận về tích hợp và các biện pháp nhằm vận dụng tích hợp vào quá trình giảng
dạy thực tiễn:


11
Còn Trần Viết Thụ (1997), trong công trình nghiên cứu “Vận dụng
nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hóa trong SGK lịch sử THPT”,
tác giả đã vận dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị vào quá trình giảng dạy
bộ môn lịch sử theo quan điểm liên môn.
Trong công trình “Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải
phẫu sinh lý người ở lớp 9 THCS”, tác giả Lê Trọng Sơn đã nhấn mạnh giáo dục
dân số là vấn đề quan trọng, việc tích hợp giáo dục dân số vào môn Sinh học 9 là
thích hợp đối với nội dung môn học cũng như độ tuổi của HS.
Khi nghiên cứu về sư phạm tích hợp, đã có nhiều công trình được công bố,
nhiều cuộc hội thảo được tổ chức. Từ năm 1960 đến 1974 đã có 208 chương
trình trong tổng số 392 được điều tra và được coi là đã tích hợp ở nhiều mức độ
khác nhau. Từ năm 1990 trở lại đây, vấn đề tích hợp càng được phổ biến rộng rãi
ở các quốc gia và khu vực, với nhiều mức độ khác nhau.
Như vậy, việc vận dụng những quan điểm tích hợp vào giảng dạy đã và
đang thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục cũng như GV. Những công
trình nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục và GV đã khẳng định việc vận dụng
quan điểm tích hợp vào dạy học là một trong những xu hướng dạy học tất yếu
hiện nay.
Chương trình SGK theo hướng tích hợp đã được xây dựng xuyên suốt từ
cấp Tiểu học đến THPT. Theo các tác giả biên soạn bộ SGK mới cũng khẳng
định “bên cạnh những hướng cải tiến chung của chương trình như giảm tải, tăng
thực hành, gắn với đời sống, cải tiến nổi bật nhất của chương trình là hướng tích hợp”.
Như vậy trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu,
những cuộc hội thảo khoa học về quan điểm tích hợp và định hướng sử dụng tích 12
hợp trong dạy học. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề tích hợp mới chỉ được nghiên

phần nâng cao chất lượng dạy học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích và tổng hợp các quan điểm về dạy học tích hợp làm cơ sở lý luận
cho đề tài, đặc biệt là các quan điểm vận dụng tích hợp trong dạy học Sinh học.
Nghiên cứu tài liệu của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục ở bậc THPT.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phân tích cấu trúc chương trình Sinh học 11, đặc biệt là những phần có nội
dung kiến thức khó.
- Phương pháp điều tra:
Khảo sát việc dạy học Sinh học ở một số trường THPT thông qua dự giờ
rút kinh nghiệm, đánh giá sự vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Sinh
học; Lấy ý kiến GV thông qua phiếu điều tra, đánh giá học sinh thông qua bài
kiểm tra. 14
- Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu được được xử lý bằng thống
kê toán học. Kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả học của người học được phân
tích định tính và định lượng.
8. Cấu trúc luận văn.
Mở đầu
Kết quả nghiên cứu
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp.
Chương II: Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những nội dung khó -
Sinh học 11.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Kết luận và khuyến nghị
Công trình khoa học đã công bố của tác giả
Tài liệu tham khảo

kỹ năng mà người học đã được học từ trước đó theo nguyên tắc đồng trục, vòng
tròn đồng tâm hay xoáy trôn ốc. Những kiến thức và kỹ năng đã được lĩnh hội ở
bài học, lớp học, bậc học sau bao hàm kiến thức và kỹ năng của bài học, lớp học,
bậc học trước nhưng cao hơn và sâu sắc hơn. Chương trình được biên soạn theo 16
hướng tích hợp có vai trò giúp GV và HS sẽ có cái nhìn khái quát, liên hệ kiến
thức giữa các bài học trong một môn học cũng như giữa các môn học với nhau.
1.1.1.2. Tích hợp trong dạy học.
Theo X. Roegiers (1996), tích hợp trong dạy học là một quan niệm về quá
trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS
những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm
phục vụ quá trình học tập tương lai hoặc hòa nhập HS vào cuộc sống lao động.
Như vậy, quan điểm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa [44].
Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó, quan
điểm tích hợp dự định những hoạt động tích hợp trong đó HS học cách sử dụng
phối hợp những kiến thức, những kỹ năng và những động tác đã lĩnh hội một
cách rời rạc. Quan điểm tích hợp sàng lọc những thông tin hữu ích để hình thành
các năng lực và mục tiêu tích hợp.
Trên thế giới, quan điểm tích hợp được áp dụng ở nhiều môn học khác
nhau với các mức độ khác nhau. Ví dụ ở Malaixia, chương trình Tiểu học là
“The Intergrated curriculum for Rrimary school” (chương trình giảng dạy tích
hợp cho trường Tiểu học) đã thể hiện các hướng tích hợp cụ thể là: tích hợp
nhiều kỹ năng trong một môn học, tích hợp nhiều kỹ năng trọng số môn học, hấp
thụ kiến thức nội dung môn học khác qua các môn đang dạy, tích hợp các chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp qua các môn học, tích hợp chương trình chính khóa và
ngoại khóa, tích hợp kiến thức và thực tiễn.
Tích hợp trong dạy học thể hiện qua nhiều cách tiếp cận: lồng ghép
(infusiong): đưa thêm nội dung cần học, nội dung tương tự môn học chính; tích

18
- Nhà trường không chỉ có chức năng ưu tiên là truyền đạt kiến thức và
thông tin, mà còn giúp HS có khả năng tìm thông tin, quản lý thông tin và tổ
chức các kiến thức.
- Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung
cố gắng dạy HS cách sử dụng kiến thức của mình vào những tình huống có ý
nghĩa với HS.
Theo Phạm Văn Lập (1998), Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ
năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những
công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần kiến thức
khác của cùng môn học. Thí dụ, toán học được sử dụng như một công cụ đắc lực
trong nghiên cứu sinh học, tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình
hóa các quá trình sinh học …[24].
1.1.2. Mục đích của dạy học tích hợp.
Mục đích tích hợp trong dạy học là làm cho quá trình học tập có ý nghĩa
bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, tiến hành trong quan hệ với các
tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, những tình huống có ý nghĩa trong cuộc
sống, hòa nhập thế giới học đường với cuộc sống.
Mục đích tích hợp là phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái
cốt yếu là những năng lực cơ bản cần thiết giúp HS vận dụng để xử lý những
tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá
trình học tập tiếp theo.
Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp HS vận dụng kiến thức trong những
tình huống cụ thể. Thay vì chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức thuần túy thì 19
nó chú trọng tập dượt cho HS nhiều kiến thức, kỹ năng vào các tình huống thực
tế, có ích cho cuộc sống.
Ngoài ra, tích hợp trong dạy học là giúp người học xác lập mối quan hệ

Phương pháp: tìm những môn học với những mục tiêu bổ sung cho nhau
và khai thác tính bổ sung đó.
Mô hình 2: Tích hợp môn học theo đề tài tích hợp.
Mục đích: xác định những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau
đồng thời vẫn duy trì những quá trình học tập riêng lẻ.
Ứng dụng: - Cách 1: những ứng dụng chung cho nhiều môn học được
thực hiện ở cuối mỗi năm học hay cuối những bậc học. Theo cách này, các môn
học vẫn được duy trì riêng lẻ, nhưng sau một năm học, bậc học HS sẽ được đánh
giá theo khả năng thực hiện một bài tập tích hợp.
- Cách 2: Việc tích hợp được thực hiện đều đặn trong năm học.
Bản chất của sư phạm tích hợp là tạo điều kiện cho HS phát triển một cách
toàn diện, phát triển các năng lực, kỹ năng sống song song các kiến thức đơn
thuần. Mỗi bài học có một hệ thống mục tiêu cụ thể. Khi các kỹ năng cơ bản
được vận dụng vào các tình huống tích hợp, sẽ hình thành ở người học các năng
lực. Các năng lực được hình thành trong tất cả các môn học trong cả năm học tạo
nên mục tiêu tích hợp. HS cần vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào
những tình huống có ý nghĩa, vào thực tiễn cuộc sống. 21
1.1.4. Các quan điểm tích hợp trong dạy học.
Theo d’hainaut (1977), có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học:
- Quan điểm đơn môn: có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống
của mỗi môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ.
- Tích hợp đa môn: những tình huống được nghiên cứu theo những quan
điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau.
- Tích hợp liên môn: trong dạy học, những tình huống chỉ có thể được tiếp
cận hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học. Đó là sự liên kết các môn học,
làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước, các quá
trình học tập sẽ không bị rời rạc mà liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần giải quyết.

- Phối hợp quá trình học tập các môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp.
Cách này được áp dụng cho các môn học khác nhau về bản chất, mục tiêu hoặc
cho những môn học có đóng góp bổ sung nhau, thường dựa vào một số môn học
cơ bản như Văn, Toán. Khi đó các môn học tích hợp do một GV giảng dạy. Cách
này phổ biến ở bậc tiểu, các tình huống cần giải quyết ở mức độ đơn giản. Ví dụ
bài tập đọc tích hợp kiến thức lịch sử, khoa học; bài toán tích hợp kiến thức dân
số, môi trường.
Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống
tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo môn học
tích hợp. Ví dụ ở bậc tiểu học là môn tự nhiên và môn xã hội tích hợp các kiến 23
thức về con người và sức khỏe, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội,
động vật và thực vật, bầu trời và mặt đất.
Càng lên các cấp học cao hơn thì hệ thống các khái niệm trong các môn
học ngày càng phức tạp, bản chất và logic phát triển của mỗi môn học càng chặt
chẽ, vì vậy mỗi môn học do một GV đảm nhiệm.
1.1.5. Vai trò của tích hợp trong dạy học.
Dạy học từng môn riêng rẽ giúp HS hình thành kiến thức khoa học một
cách hệ thống, dạy học tích hợp giúp HS liên hệ kiến thức trong nhà trường và
thực tiễn cuộc sống.
Dạy học tích hợp giúp HS trở thành người lao động tích cực, người công
dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong
thực tiễn cuộc sống.
Khuynh hướng dạy học theo hướng tích hợp cho phép rút ngắn được thời
gian dạy học, đồng thời tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tin của
chương trình và nội dung SGK phổ thông. Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa
các bộ môn trong nhà trường phổ thông, nhất là tình trạng biệt lập giữa chương
trình và SGK ở các cấp học, đặc biệt ở một số chương trình đồng tâm.

liên hệ và mở rộng kiến thức; giúp HS dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức; giảm
cường độ học tập cho HS…
Vận dụng tích hợp trong dạy học tạo điều kiện cho HS phát triển tốt các
kỹ năng. Khi vận dụng tích hợp vào dạy học, các quá trình học tập không tách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status