VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG
DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG MÔN TỰ
NHIÊN XÃ HỘI Ở TIỂU HỌC
- Các nguyên tắc xây dựng nội dung dạy học tích hợp
- Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính khoa học và tiếp cận
những thành tựu khoa học kĩ thuật, đồng thời vừa sức với
học sinh
Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển không
ngừng từng ngày, từng giờ. Việc xây dựng các bài học/ chủ
đề tích hợp đòi hỏi phải đảm bảo tính khoa học, tiếp cận được
những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật, theo kịp xu thế
phát triển của xã hội nhưng cũng cần đảm bảo tính vừa sức,
phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh cũng như kế
hoạch dạy học.
Để làm được điều này, các bài học/ chủ đề tích hợp cần
phải tinh giản những kiến thức hàn lâm, tăng cường kiến thức
thực tiễn, tạo cơ hội cho học sinh được tìm tòi, khám phát tri
thức, hình thành kĩ năng, thái độ.
- Nguyên tắc 2: Tăng tính hành dụng, tính thực tiễn,
quan tâm tới những vấn đề mang tính xã hội của địa
phương
Mọi thành tựu khoa học cũng đều bắt nguồn từ thực tiễn
cuộc sống và cũng để phục vụ cho chính cuộc sống của con
người. Chính vì thế nội dung các bài học/ chủ đề tích hợp cần
tăng cường tính ứng dụng, tính thực tiễn nhằm tạo cơ hội
cũng như rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng tri thức
vào việc tìm hiểu, giải quyết những vấn đề trong cuộc sống.
cạnh. Mức độ liên quan về mục tiêu hay nội dung các bài học
ít nhiều sẽ quyết định mức độ tích hợp nhiều hay ít giữa các
bài học đó.
c) Lựa chọn một bài học trong một môn học nhất định
làm "xương sống" cho bài tích hợp
Khi xây dựng bài học tích hợp, cần chọn một bài học cụ
thể ở một môn học nhất định để làm trung tâm. Các ý tưởng
thiết kế bài học tích hợp được phát triển từ nội dung chính của
bài học này.
Trong một số trường hợp, ý tưởng chính của bài học tích
hợp không nằm hoàn toàn trong một môn học mà mang đậm
tính chất của một vấn đề mang tính xã hội hay một vấn đề
khác không có nhiều liên hệ tới một môn học cụ thể. Khi thiết
kế kiểu bài học tích hợp loại này, giáo viên thường tìm ý
tưởng từ chính các sự kiện hay hiện tượng trong thế giới hiện
thực xung quanh học sinh. Tuy nhiên cách xây dựng những
bài học kiểu này không là xu thế phổ biến 33.
- Nội dung Môn TNXH lớp 3
- Đặc điểm về cấu trúc nội dung môn TNXH lớp 3
-Quan điểm chỉ đạo xây dựng nội dung chương trình
môn TNXH lớp 3
- Quan điểm chỉ đạo quan trọng là tư tưởng tích hợp,
xem xét tự nhiên-con người – xã hội trong một tổng thể thống
nhất, có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, trong đó
bao gồm cả nội dung Sức khỏe nhằm tăng tính thiết thực đồng
thời khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo của hai môn
các hoạt động và mối quan hệ trong gia đình (gia đình hạt
nhân, gia đình 2 thế hệ, 3 thế hệ), trong trường học, cộng
đồng và điều kiện sống xã hội, các hoạt động sinh sống của
nhân dân, một số cơ sở hành chính, y tế, giáo dục….Cách giữ
vệ sinh nhà ở, lớp học, trường học, nơi công cộng; cách giữ
an toàn cho bản thân và người khác ở môi trường sinh hoạt và
học tập khác nhau.
- Trong chủ đề Tự nhiên: HS được học về đặc điểm cấu
tạo, môi trường sống của thực vật và động vật phổ biến; ích
lợi hoặc tác hại của chúng đối với đời sống và sức khỏe con
người, một số hiện tượng tự nhiên (ngày đêm, các mùa….), sơ
lược về Mặt Trời, Mặt Trăng, các vì sao và Trái Đất.
- Phân tích yêu cầu HS cần đạt ở một số mạch nội
dung/ chủ đề môn TNXH lớp 3 và tìm hiểu các khả năng
có thể tăng cường tích hợp trong dạy học các mạch nội
dung/ chủ đề này .
- Yêu cầu cần đạt ở một số mạch nội dung/ chủ đề môn
TNXH lớp 3
- Ở Chủ đề Con người và Sức khỏe, HS cần:
+ Biết tên, chức năng và giữ vệ sinh cơ quan hô hấp,
tuần hoàn, bài tiết nước tiểu và thần kinh. Biết tên và cách
phòng tránh một số bệnh thường gặp ở cơ quan hô hấp, tuần
hoàn và bài tiết nước tiểu.
- Ở chủ đề Xã hội, HS cần:
+ Biết mối quan hệ họ hàng nội, ngoại. Biết phòng tránh
cháy khi ở nhà. Biết được những hoạt động chủ yếu của nhà
Không chơi các trò chơi nguy hiểm” vào cùng một chủ đề về
Trường học…
Có những nội dung lại liên quan khá chặt chẽ với các
môn học khác, cụ thể như sau:
ST
Tên bài học
Môn học, nội dung tích hợp
T
1
-Các thế hệ trong
-Luyện từ và câu: Mở rộng
một gia đình
vốn từ: Gia đình . Ôn tập câu
-Họ nội, họ ngoại
- Thực hành: Phân
tích và vẽ sơ đồ mối
Ai Là gì?
-Tập đọc- Kể chuyện (TĐKC): Người mẹ, Chiếc áo len
quan hệ họ hàng
-Làng quê và đô thị
Thành thị, nông thôn
TLV: Nói, viết về thành thị,
nông thôn
4
-Vệ sinh môi trường
-Vệ sinh môi trường
(tiếp theo)
TLV: Nói , viết về bảo vệ môi
trường
Đạo đức: Tiết kiệm và bảo vệ
nguồn nước
Mĩ thuật: Vẽ tranh đề tài Môi
trường
5
Thực vật
Tập đọc: Bài hát trồng cây
Đạo đức: Chăm sóc cây trồng,
vật nuôi
Luyện từ và câu: Mở rộng vốn
từ: Từ ngữ về cây cối. Đặt và
Toán: Làm quen với thống kê
số liệu
LTVC: MRVT: Từ ngữ về
Cây cối. Đặt và trả lời câu hỏi
Để làm gì?
Tập làm văn: Tả ngắn về cây
cối
Âm nhạc: học hát bài Qủa
Mĩ thuật: Trái cây bốn mùa
9
Động vật
LTVC: MRVT: Động vật
Mĩ thuật: Con vật quen thuộc
Ngoài ra có những bài học còn có thể lồng ghép kiến
thức về an toàn giao thông. Ví dụ: Bài An toàn khi đi xe đạp.
Ở bài học này, học sinh sẽ phải nắm được một số quy định đối
với người đi xe đạp: đi bên phải, đúng phần đường dành cho
người đi xe đạp, không đi vào đường ngược chiều. Đặc biệt
phải tuân thủ theo đúng đèn tín hiệu giao thông.
Có những bài học lại được lồng ghép kiến thức về giáo
dục bảo vệ môi trường. Ví dụ bài: Vệ sinh môi trường, các bài
về thực vật, động vật, giáo viên kết hợp giáo dục học sinh bảo
vệ môi trường: cần phải vứt rác đúng nơi quy định, xử lí rác
thải đúng quy trình, không hái hoa, bẻ cành, trồng nhiều cây
xanh, bảo vệ động vật hoang dã, chăm sóc vật nuôi….
Các công việc chính mà giáo viên cần thực hiện trong
bước lựa chọn nội dung tích hợp là rà soát, đối chiếu, so sánh
chuẩn kiến thức, kĩ năng, chương trình các môn học để tìm
kiếm và chọn lọc các bài học trong một môn học hoặc các nội
dung học vấn có liên quan từ nhiều môn học, sau đó xây dựng
thành bài học tích hợp. Để thực hiện được công việc này người
giáo viên cần phải am tường về chuyên môn (nắm chắc chuẩn
kiến thức, kĩ năng, chương trình các môn học; hiểu sâu sắc nội
dung học vấn từng môn học), đồng thời phải có ít nhiểu kinh
nghiệm nghề nghiệp (tức là năng lực sư phạm).
Tìm kiếm ỷ tưởng để xây dựng bài học tích hợp có ý
nghĩa hết sức quan trọng vì chỉ khi có ý tưởng thì mới có bài
học và ý tưởng có hay, có sáng tạo thì mới có bài học hấp dẫn
và hiệu quả. Để thực hiện thành công bước này giáo viên cần
liên kết các bài học, các nội dung đã được chọn lựa để tích
hợp với các sự kiện, hiện tượng trong thực tiễn cuộc sống
xung quanh học sinh, từ đó hình thành nên ý tưởng trung tâm
về bài học tích hợp. Nếu không có ý tưởng trung tâm để triển
khai bài học thì nội dung của mỗi bài học (mỗi môn học) dù
có được đặt chung, xếp kề nhau cũng vẫn thiếu sự “kết dính”
cần thiết để tạo thành một vấn để có tính chỉnh thể và thông
suốt trong một bài học.
-Xác định mục tiêu dạy học
Khi xác định mục tiêu cho bài học tích hợp, cần xuất
phát từ các nội dung được chọn lựa để tích hợp và từ ý tưởng
trung tâm để thiết kế bài học tích hợp, cần lượng hoá được các
mục tiêu (các đích cụ thể) mà người học cần đạt được sau bài
học. Những mục tiêu này cần phải bao quát được nhiều lĩnh
- Xác định thời lượng cho bài học tích hợp là việc rất
cần thiết. Bởi lẽ, dự kiến được thời lượng cho hoạt động học
tập của học sinh một cách phù hợp cũng có nghĩa là giáo viên
đã lượng hoá được các hoạt động tương úng với khả năng
thực hiện của học sinh. Công việc này đảm bảo cho học sinh
có thể thực hiện được các hoạt động học tập tích hợp đúng với
tính chất của nó chứ không phải là gắng “nhồi” cho đủ lượng
kiến thức; cũng không phải là lướt qua cho có hoạt động.
Tuy nhiên, thời lượng được xác định chỉ có tính chất dự
kiến. Trong thực tiễn triển khai hoạt động, không nên gò thời
lượng theo dự kiến một cách cứng nhắc mà cẩn linh hoạt điểu
chỉnh thời lượng này cho phù hợp với điều kiện thực tế. Như
vậy, cả giáo viên và học sinh đểu có cơ hội để phát triển bản
thân, để thử thách khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề
trong các tình huống cụ thể.
Việc dự kiến thời lượng của bài học cần căn cứ vào
những yếu tố sau:
+ Năng lực thực tế của học sinh.
+ Mục tiêu và nội dung bài học tích hợp.
+ Điểu kiện dạy học thực tế.
- Cũng cần xác định thời điểm thực hiện bài học tích
hợp, bởi vì trong nội dung bài học tích hợp có những kiến
thức, kĩ năng cần điều kiện tiên quyết là những kiến thức, kĩ
năng khác. Do vậy, cần xác định thời điểm học sao cho người
học có đủ các kiến thức, kĩ năng nển tảng để có thể tham gia
bài học tích hợp một cách hiệu quả.
- Chuẩn bị cho hoạt động dạy học
Có thể nói, sự chuẩn bị của giáo viên chính là chìa khoá
- Thiết kế hoạt động học tập
Thiết kế hoạt động học tập cho người học là khâu quan
trọng nhất của quá trình thiết kế dạy học. Vì xét đến cùng,
mọi thiết kế đểu phải hướng vào việc hoạch định các chiến
lược học tập cụ thể cho người học. Xét về bản chất, thiết kế
hoạt động học tập chính là quá trình thiết kế hoạt động tìm tòi,
khám phá tri thức, thực hành luyện tập cho học sinh, thiết kế
phương pháp dạy học, thiết kế môi trường dạy học, thiết kế
phương tiện dạy học, thiết kế công cụ và lập kế hoạch đánh
giá người học
Để thiết kế được các hoạt động học tập thú vị và hiệu
quả, cần phải kết hợp được nhiều phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học, kết hợp tri thức, kĩ năng chuyên môn với vốn
sống phong phú, biết “hoạt động hoá” các mục tiêu và nội
dung dạy học...
Khi thiết kế hoạt động học tập cho học sinh, cần chú ý:
+ “Trung thành” với mục tiêu dạy học đã xác định.
+ Bao quát những đặc điểm chung vể sự phát triển của
lứa tuổi của học sinh, đổng thời chú ý tới đặc điểm riêng về tư
duy, ngôn ngữ, kinh nghiệm sống... của mỗi em.
+ Đưa vào bài học những thông tin cốt lõi của môn học,
đồng thời chú ý mối liên hệ giữa những mảng kiến thức liên
quan đến nhau; không chỉ hướng tới việc hình thành kiến
thức, kĩ năng mà còn quan tầm tới việc gây dựng, trau dổi cho
các em nhận thức và tình cảm đúng đắn, giá trị nhân văn; hình
thành ở các em những năng lực phù hợp trình độ và lứa tuổi.
+ Tạo ra môi trường hoạt động đa dạng, đa chiều cho
học sinh, kích thích tính ham hiểu biết, mong muốn khám
Đánh giá trong dạy học nói chung và trong dạy học tích
hợp nói riêng có một số đặc trưng sau:
- Mục đích đánh giá: nhằm giúp cả thầy và trò có cơ sở
và định hướng điểu chỉnh hoạt động dạy học ngày càng hiệu
quả.
- Nội dung hay tiêu chí đánh giá: đánh giá toàn diện cả
kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Phương thức đánh giá: kết hợp đánh giá quá trình và
đánh giá kết quả của hoạt động.
-
Đối tượng tham gia đánh giá: học sinh, bạn học,
giáo viên, gia đình và xã hội.
- Tổng kết hoạt động và tiếp tục hướng dẫn học sinh học
tập
Tổng kết hoạt động là việc giáo viên tóm lược cô đọng
vấn để chính trong bài học. Tuy nhiên, tổng kết không phải là
đóng lại một quá trình học tập, đó chỉ là việc hoàn thành một
mắt xích trong một chuỗi các hoạt động đa dạng. Sau khi tổng
kết, giáo viên cần tiếp tục hướng dẫn học sinh học tập: gợi mở
thêm các vấn để mới hoặc để học sinh tự để xuất vấn đề mới