………… o0o…………
Phương pháp dạy học môn tự
nhiên xã hội ở tiểu học
1
PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CHƯƠNG 1: CÁC MÔN VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở TIỂU HỌC
I. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI (TỰ NHIÊN
VÀ XÃ HỘI, KHOA HỌC, LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ) Ở TIỂU HỌC
Từ năm học 1996- 1997 môn Tự nhiên và Xã hội (TN-XH) được chính thức đưa
vào dạy đại trà ở tiểu học. Đây là môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát
triển từ các môn học trước nó như "Khoa học thường thức" (1956), "Tìm hiểu khoa
học" (1986), "Tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội"(1993).
Thực hiện chủ trương đổi mới chương trình và sách giáo khoa ở tiểu học, sau
năm 2000 môn Tự nhiên và Xã hội được cấu trúc lại thành các môn: Tự nhiên và Xã hội
(lớp 1,2,3), Khoa học, Lịch sử và Địa lý. Các môn học này được kế thừa, bổ sung và
hoàn thiện từ các chủ đề và phân môn của môn TN-XH và môn Sức khoẻ trước đây.
Đây là những môn học có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu kép của giáo
dục tiểu học: tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học tốt các môn học tương ứng ở các
lớp trên, hoặc bước vào cuộc sống lao động.
II. MỤC TIÊU CHUNG CỦA CÁC MÔN VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
Các môn về TN-XH nhằm giúp học sinh lĩnh hội những tri thức ban đầu và
thiết thực về con người, tự nhiên và xã hội xung quanh. Qua đó, phát triển cho các em
năng lực quan sát, năng lực tư duy, lòng ham hiểu biết khoa học và khả năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh. Cụ thể:
1.Về kiến thức:
Giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
* Con người: học sinh có những hiểu biết cơ bản về con người ở các phương diện:
+ Sinh học: sơ lược về cấu tạo, chức phận và sự hoạt động của các cơ quan trong cơ
- Hình thành thái độ và cách ứng xử đúng đắn đối với bản thân, gia đình, cộng đồng.
Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng
đồng, sống hoà hợp với môi trường và cộng đồng.
III. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC MÔN VỀ TN-XH
1. Đặc điểm chương trình
Chương trình các môn TN-XH ( Khoa học, Lịch sử và Địa lý) có những đặc điểm
sau:
1.1. Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp.
Dạy học theo tư tưởng tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: " Dạy học theo
tư tưởng tích hợp là cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn
đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh quá muộn hoặc quá
sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau"(Hội nghị về khoa học giáo dục
của UNESCO- Paris, 1972). Dạy học theo tư tưởng tích hợp còn gọi là dạy học hợp
nhất các khoa học.
Quan điểm tích hợp được thể hiện trong các môn về TN - XH ở các khía cạnh sau:
- Các môn về TN-XH xem xét tự nhiên- xã hội- con người trong một thể thống nhất,
có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó con người là yếu tố cơ bản.
- Chương trình các môn tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
như: Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý, Lịch sử, Sức khoẻ, Dân số, Môi trường, Kỹ
năng sống.
- Tuỳ theo trình độ nhận thức của HS ở từng giai đoạn mà chương trình có cấu trúc
cho phù hợp. Cụ thể:
3
+ Chương trình môn TN-XH (lớp1,2,3) được cấu trúc thành 3 chủ đề lớn: Con người
và sức khoẻ, Xã hội, Tự nhiên. Chương trình được cấu trúc đồng tâm, được mở rộng và
nâng cao dần qua các lớp.
+ Chương trình môn Khoa học được cấu trúc thành các chủ đề : Con người và sức
khỏe, Vật chất và năng lượng, Động vật và thực vật, Môi trường và tài nguyên thiên
nhiên.
+ Chương trình môn Địa lý và Lịch sử được tích hợp theo quan điểm liên môn, bao
+ " Kính lúp": Yêu cầu học sinh quan sát và trả lời câu hỏi.
+ " Dấu chấm hỏi": Yêu cầu học sinh liên hệ thực tế và trả lời.
+ "Cái kéo và quả đấm": Yêu cầu học sinh thực hiện trò chơi học tập.
+ "Bút chì": Yêu cầu học sinh vẽ những gì đã học.
4
+ "Ống nhòm": Yêu cầu HS làm nhiệm vụ thí nghiệm, thực hành.
+ Bóng đèn toả sáng: bạn cần biết.
- Kênh chữ: Chủ yếu là các câu hỏi, các lệnh yêu cầu học sinh làm việc, trả lời câu
hỏi. Ở một số bài ở lớp 2 và lớp 3 và nhất là trong môn Khoa học, kênh chữ đã được
tăng cường, đóng vai trò là nguồn cung cấp thông tin của bài học.
b. Cách trình bày một chủ đề:
Mỗi chủ đề đều có một trang riêng để giới thiệu tên chủ đề và một hình ảnh tượng
trưng cho chủ đề đó. Mỗi chủ đề được phân biệt bằng một dải màu và một hình ảnh
khác nhau. Cụ thể: Chủ đề "Con người và sức khoẻ" được phân biệt bởi màu hồng với
kí hiệu là một cậu bé; chủ đề "Xã hội" được phân biệt bởi màu xanh lá cây với kí hiệu là
một cô bé; chủ đề "Tự nhiên" được phân biệt bởi màu xanh da trời và có kí hiệu là một
ông Mặt Trời.
Riêng SGK môn Khoa học: chủ đề" Con người và sức khoẻ" được kí hiệu là 2 học
sinh nam, nữ; chủ đề " Vật chất và năng lượng" có kí hiệu Mặt trời; chủ đề " Động vật
và thực vật" có kí hiệu là 2 bông hoa hướng dương; chủ đề "Môi trường và tài nguyên
thiên nhiên" có kí hiệu là bầu trời xanh.
c. Cách trình bày một bài học:
Mỗi bài học được trình bày gọn trong hai trang mở liền nhau để học sinh tiện theo
dõi.
So với sách giáo khoa cũ, cấu trúc của mỗi bài học linh hoạt, mềm dẻo hơn. Có thể
bắt đầu bằng những câu hỏi nhằm yêu cầu học sinh huy động vốn hiểu biết của mình
hoặc liên hệ thực tế rồi mới đi đến phát hiện kiến thức mới của bài qua việc quan sát
các hình ảnh trong SGK hay các mẫu vật. Cũng có thể bắt đầu bằng lệnh yêu cầu học
sinh quan sát tranh ảnh trong SGK hay quan sát thiên nhiên, học ngoài hiện trường để
tìm ra kiến thức mới rồi mới tới những câu hỏi nhằm yêu cầu học sinh vận dụng những
1. Phân tích mục tiêu của các môn về Tự nhiên và Xã hội
2. Phân tích đặc điểm chương trình các môn về Tự nhiên và Xã hội. Cho ví dụ minh
hoạ.
3. Phân tích đặc điểm sách giáo khoa các môn: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch
sử và Địa lý.
Chương II
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN VỀ TN - XH
I. ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN VỀ TN –
XH
Một trong những vấn đề trọng tâm của việc đổi mới chương trình và sách giáo
khoa ở bậc tiểu học nói chung, trong các môn về TN-XH nói riêng là đổi mới PPDH.
Đổi mới PPDH được hiểu là đưa các PPDH mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy mặt
tích cực của các PPDH truyền thống nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Từ đặc điểm chương trình và SGK các môn về TN-XH, từ quan điểm đổi mới PPDH
ở bậc tiểu học, việc sử dụng PPDH các môn về TN-XH cần dựa trên các định hướng cơ
bản sau:
- Đề cao vai trò chủ thể của người học: Đây chính là cách dạy học hướng tập
trung vào học sinh, học sinh thực sự là chủ thể nắm tri thức, rèn luyện kỹ năng. Trong
dạy học các môn TN-XH, thay cho việc chủ yếu là giảng giải, thuyết trình, đọc, nói theo
tài liệu có sẵn, GV cần huy động tối đa kinh nghiệm và vốn tri thức có sẵn của HS để tổ
chức cho các em tự phát hiện tri thức mới của bài học. GV thiết kế, hệ thống câu hỏi,
bài tập giao cho HS thực hiện với sự hướng dẫn, giúp đỡ khi cần thiết, tổ chức các hoạt
động như quan sát, thảo luận nhóm, trò chơi học tập qua đó giúp HS lĩnh hội kiến
thức của bài học một cách tích cực, chủ động.
6
- Đưa các PPDH mới vào quá trình dạy học các môn về TN-XH trên cơ sở phát
huy những ưu điểm của các PPDH truyền thống nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Trong dạy học các môn về TN-XH không phủ nhận việc sử dụng các PPDH truyền
thống như gỉang giải, hỏi đáp Tuy nhiên, GVcần sử dụng các PPDH này theo quan
điểm phát triển, kích thích, phát huy vai trò chủ động, tích cực nhận thức của HS, tạo
7
Phương pháp này thường được sử dụng trong các bài học lĩnh hội tri thức mới về
những vấn đề khó, phức tạp mà học sinh không đủ khả năng tự tìm hiểu qua các hoạt
động độc lập.
Giảng giải còn được dùng để hướng dẫn cách thức tiến hành các hoạt động của học
sinh.
Để sử dụng phương pháp này có hiệu quả, cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Lời nói của giáo viên phải rõ ràng, chính xác, sinh động, giàu hình ảnh, tốc độ vừa
phải.
- Ngắn gọn dễ hiểu đối với học sinh: sử dụng những từ ngữ đơn giản, phù hợp với
trình độ nhận thức của học sinh nhưng không làm cho học sinh hiểu sai khái niệm khoa
học được đề cập đến.
- Cần sử dụng giảng giải theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, tránh lạm
dụng nó.
b. Kể chuyện:
Là dạng thuyết trình đặc biệt, được sử dụng trong dạy học môn TN-XH, nhất là với
nhóm kiến thức lịch sử.
Kể chuyện là cách dùng lời nói trình bày một cách sinh động, có hình ảnh và truyền
cảm đến học sinh về một nhân vật, một sự kiện lịch sử, hoặc một hiện tượng tự nhiên,
một phát minh khoa học, một vùng đất xa lạ.
* Ưu điểm của phương pháp kể chuyện.
- Kể chuyện tạo nên một bức tranh sinh động về những sự kiện, hiện tượng, về
những nhân vật dễ gây hứng thú cho học tập cho học sinh.
- Việc kể chuyện góp phần phát triển trí tưởng tượng cho học sinh.
- Sức mạnh của chuyện kể của giáo viên còn ở sự tạo ra cho học sinh niềm tin
vào cái Chân - Thiện - Mỹ, vào sức sáng tạo vô hạn của con người trong việc cải tạo thế
giới tự nhiên và xã hội. Ngoài ra khi kể lại những câu chuyện, học sinh được tập diễn
đạt câu chuyện theo ý tưởng và ngôn ngữ của mình từ đó phát triển ngôn ngữ, tư duy,
khả năng diễn đạt của các em.
*Tình huống sử dụng :
nhau để tri giác các sự vật, hiện tượng một cách có mục đích, có kế hoạch, có trọng tâm,
qua đó rút ra được những kết luận khoa học.
2.2. Tác dụng của phương pháp quan sát:
Đối với học sinh tiểu học, tư duy trực quan cụ thể còn chiếm ưu thế, thông qua
việc tổ chức cho học sinh quan sát mới hình thành cho các em những biểu tượng và
những khái niệm đầy đủ, chính xác, sinh động về thế giới tự nhiên và xã hội xung
quanh. Qua đó, phát triển năng lực quan sát, năng lực tư duy và ngôn ngữ cho các em.
2.3 Cách thức sử dụng:
Giáo viên sử dụng phương pháp quan sát để dạy các bài học mà học sinh có thể
chiếm lĩnh kiến thức từ các sự vật, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên và xã hội xung
quanh hoặc từ tranh ảnh, mô hình, sơ đồ, biểu đồ, mẫu vật.
Có thể tổ chức cho học sinh tiến hành quan sát theo trình tự sau:
* Lựa chọn đối tượng quan sát: Đối tượng quan sát có thể là các hiện tượng đang xảy
ra trong môi trường tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, vật thật hay tranh ảnh, sơ đồ,
bản đồ, mô hình Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của từng bài học mà giáo viên lựa
chọn đối tượng quan sát cho phù hợp.
9
* Xác định mục đích quan sát:
Trong một bài học không phải mọi kiến thức cần cung cấp cho học sinh đều
được rút ra từ quan sát, vì vậy khi đã chuẩn bị được đối tượng quan sát cần xác định
việc quan sát phải đạt những mục đích nào ?
Ví dụ: Quan sát các loại quả (TN-XH 3)
Nếu như đối tượng quan sát là các loại quả thật thì giáo viên yêu cầu học sinh sử
dụng các giác quan khác nhau để quan sát màu sắc, hình dạng, kích thước, mùi vị, dùng
tay (hoặc dao) bổ đôi quả để quan sát thịt và hạt của các loại quả, so sánh chúng với
nhau. Trong trường hợp chỉ có tranh vẽ các loại quả thì giáo viên có thể yêu cầu học
sinh nhận xét về màu sắc, hình dạng, kích thước, dựa vào kinh nghiệm của mình để
nhận xét mùi vị của quả.
*Tổ chức và hướng dẫn quan sát:
- Có thể tổ chức cho học sinh quan sát cá nhân, theo nhóm hoặc toàn lớp là tuỳ
hướng dẫn các em quan sát các bộ phận); những câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát từ
bên ngoài rồi mới đi vào bên trong. Tiếp theo là những câu hỏi yêu cầu học sinh phải
so sánh liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác đã biết để tìm ra những đặc điểm giống
nhau hoặc khác nhau. Cuối cùng là những câu hỏi yêu cầu học sinh dẫn đến nhận xét
hay kết luận chung về sự vật, hiện tượng được quan sát.
- Việc tổ chức, hướng dẫn quan sát cần phải phức tạp dần phù hợp với trình độ nhận
thức của học sinh ở các lứa tuổi khác nhau. Ví dụ, ở các lớp 1,2,3 chủ yếu cho HS quan
sát các sự vật hiện tượng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV, chỉ yêu cầu các em phát
biểu kết quả quan sát bằng lời, chưa yêu cầu ghi chép. ở các lớp 4,5 nhiệm vụ quan sát
cần được nâng cao hơn. Có thể hướng dẫn HS độc lập quan sát có hệ thống không chỉ
trên lớp, mà còn quan sát các sự vật, hiện tượng diễn ra trong một thời gian dài nhất
định, có yêu cầu ghi chép kết qủa, rút ra nhận xét, viết tường trình.
2.5 Ví dụ về sử dụng PP quan sát
Theo tinh thần đổi mới PPDH ở tiểu học, có thể tổ chức cho học sinh quan sát
kết hợp thảo luận nhóm để các em có thể rút ra kiến thức của bài học.
Lá cây (TN-XH 3).
+ Lựa chọn đối tượng quan sát: Mục tiêu chủ yếu của bài này là giúp học sinh
nhận biết được các loại lá cây có hình dạng, kích thước khác nhau, đa số lá cây có màu
xanh, một số lá có màu đỏ hoặc màu vàng. Lá cây có các phần: Cuống lá, phiến lá, trên
phiến lá có gân lá. Ở bài này đối tượng quan sát tốt nhất là các loại lá cây thật. Giáo
viên và học sinh chuẩn bị một số lá cây có hình dạng, kích thước khác nhau như: Lá
trầu không, lá tía tô, lá lúa, lá phượng, lá rau ngót.
+Tổ chức cho học sinh quan sát kết hợp thảo luận nhóm: Giáo viên chia học sinh
thành từng nhóm, phát phiếu giao việc và các loại lá cây cho các nhóm. Trong phiếu
giao việc giáo viên xác định rõ mục đích quan sát , hướng dẫn học sinh quan sát một
cách tổng thể về lá cây, thảo luận về đặc điểm của các loại lá cây, điền kết quả vào
phiếu giao việc.
Phiếu giao việc :
Câu1. Em hãy quan sát các loại lá cây và điền vào bảng sau:
TT Tên lá Màu sắc Hình dạng Kích thước
cực, hứng thú học tập hơn, do đó phát triển được tư duy độc lập, tính tích cực nhận thức
và năng lực diễn đạt bằng lời của học sinh.
3.3. Cách thức sử dụng:
Tuỳ theo yêu cầu sư phạm, giáo viên có thể sử dụng 3 dạng hỏi đáp :
+ Hỏi đáp tái hiện: Loại hỏi đáp thường được sử dụng để kiểm tra bài cũ, ôn tập,
hoặc để khai thác vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh làm điểm tựa cho việc lĩnh hội
tri thức mới của bài học.
Ví dụ: Kể tên một vài bệnh về tim mạch mà bạn biết. (bài 9: Phòng bệnh tim mạch,
TN-XH 3)
12
-Kể tên một số thức ăn chứa nhiều chất đạm mà bạn biết.(bài 5. Vai trò của chất đạm
và chất béo. Khoa học 4)
+ Hỏi đáp thông báo: Trên cơ sở những kiến thức tối thiểu làm điểm tựa, giáo viên
đặt câu hỏi cho HS nhằm dẫn dắt các em lĩnh hội tri thức mới.
Ví dụ: Thú con mới sinh ra đã có hình dạng giống thú mẹ chưa? Thú con mới ra đời
được thú mẹ nuôi bằng gì? (Bài 59. Sự sinh sản của thú. Khoa học 5)
+ Hỏi đáp có tính chất tìm tòi khám phá: Dạng hỏi đáp này có tác dụng kích thích sự
suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Đó là những câu hỏi yêu cầu học sinh dựa vào
kiến thức đã học để suy luận, giải thích được nguyên nhân, bản chất, mối quan hệ giữa
các sự vật, hiện tượng.
Ví dụ:
-Hãy giải thích tại sao ban ngày gió từ biển thổi vào đất liền và ban đêm gió từ đát
liền thổi ra biển? (Bài 37: Tại sao có gió? Khoa học 4)
- Tại sao châu Phi có khí hậu khô nóng bậc nhất thế giới? (Bài 23. Châu Phi, Lịch sử
và Địa lý 5).
Trong quá trình dạy học giáo viên cần sử dụng linh hoạt các dạng hỏi đáp trên, cần
chú trọng tới dạng hỏi đáp tìm tòi khám phá vì nó phát huy được tính tích cực, độc lập,
tư duy sáng tạo của học sinh.
3.4. Một số điểm lưu ý khi sử dụng phương pháp hỏi đáp.
4. Phương pháp thí nghiệm.
Thí nghiệm là phương pháp được sử dụng phổ biến trong dạy học môn Khoa học vì
đây là môn học tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thực nghiệm (Vật lý, Hoá
học, Sinh học).
4.1. Tác dụng của phương pháp thí nghiệm
Đối với học sinh tiểu học, tư duy trực quan cụ thể còn chiếm ưu thế, thí nghiệm
tuy không nhiều trong chương trình nhưng lại có ý nghĩa lớn lao trong việc tạo ra niềm
tin có cơ sở khoa học vào kiến thức mới. Học sinh dễ hiểu các hiện tượng phức tạp, do
đó kích thích được sự say mê khoa học và hứng thú học tập.
- Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học
sinh quan sát, phán đoán, phân tích, so sánh, tổng hợp để rút ra những kết luận khoa
học, các thao tác tư duy được phát triển:
- Việc làm thí nghiệm góp phần hình thành cho học sinh kỹ năng kỹ xảo thực
hành và vận dụng tri thức vào thực tiễn.
4.2. Đặc điểm thí nghiệm ở tiểu học:
- Khác với các lớp trên, ở tiểu học thí nghiệm chỉ tìm hiểu những hiện tượng về định
tính mà chưa đi sâu vào định lượng.
- Các thí nghiệm trong chương trình Khoa học lớp 4,5 có thể phân thành các loại
sau:
+ Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết qủa.
+ Loại nghiên cứu điều kiện (cái này là điều kiện của cái kia).
+ Loại nghiên cứu tính chất của vật.
4.3. Cách thức sử dụng:
Thí nghiệm có thể tiến hành theo trình tự sau:
Bước 1: Xác định mục đích thí nghiệm
14
Việc xác định đúng mục đích thí nghiệm là rất quan trọng, giúp cho việc biểu
diễn thí nghiệm đúng mục tiêu đề ra, thí nghiệm đạt được hiệu quả cao.
Bước 2: Vạch kế hoạch thí nghiệm:
Giáo viên cần liệt kê những dụng cụ thí nghiệm cần có và những điều kiện để tiến
Bài 30 " Làm thế nào để biết có không khí?" (Khoa học 4)
I. Mục tiêu:
Sau bài học HS biết:
- Không khí tồn tại khắp nơi trên trái đất
15
- Làm thí nghiệm để chứng minh không khí có ở quanh mọi vật và các chỗ rỗng trong
các vật.
- Hiểu khái niệm khí quyển
II. Đồ dùng dạy học:
- Chuẩn bị các đồ dùng DH theo nhóm: các túi ni lông, dây chun, đinh (hoặc tăm
nhọn), chậu, chai không, miếng bọt biển hoặc một mẩu đất khô.
III. Hoạt động dạy học
Hoạt động 1: TN chứng minh không khí có ở quanh mọi vật
Mục tiêu:
Phát hiện sự tồn tại của không khí và không khí có ở quanh mọi vật.
Cách thức tiến hành:
-GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm chuẩn bị các dụng cụ TN: túi ni
lông nhỏ, dây chun.
GV hướng dẫn các nhóm làm cho không khí vào đầy túi ni lông rồi lấy dây chun
buộc lại.
- Các nhóm trả lời câu hỏi:
-Cái gì đã làm cho túi ni lông căng phồng?
-Điều đó chứng tỏ xung quanh ta có gì?
GV hướng dẫn HS lấy đinh (hoặc tăm nhọn) đâm thủng túi ni lông đang căng phồng
Hiện tượng gì đã xảy ra? để tay lên chỗ thủng ta có cảm giác gì?
Qua TN trên chúng ta có thể rút ra kết luận gì?
Hoạt động 2: Thí nghiệm chứng minh không khí có trong những chỗ rỗng của mọi
vật.
Mục tiêu: HS biết được không khí có ở khắp nơi, kể cả trong những chỗ rỗng của vật.
Cách tiến hành:
- Thực hành có thể tổ chức dưới dạng trò chơi học tập. Ví dụ trò chơi "Dự báo thời
tiết"
*Ví dụ về sử dụng phương pháp thực hành
Bài 7. Thực hành: Đánh răng và rửa mặt (TN-XH 1)
I. Mục tiêu
- Giúp học sinh biết đánh răng và rửa mặt đúng cách
- Biết áp dụng chúng vào việc làm vệ sinh cá nhân hàng ngày.
II. Đồ dùng dạy học
-GV: chuẩn bị mô hình hàm răng, bàn chải, kem đánh răng, chậu rửa mặt, xà phòng
thơm, các xô chậu đựng nước sạch.
HS: Mỗi học sinh chuẩn bị 1 bàn chải, cốc, khăn mặt
III. Hoạt động dạy học
Hoạt động 1: Thực hành đánh răng
Mục tiêu: giúp học sinh biết đánh răng đúng cách
Cách tiến hành:
Bước 1: Làm việc cả lớp
GV cho học sinh quan sát mô hình hàm răng và đặt câu hỏi:
17
- Đâu là mặt trong của răng?
- Đâu là mặt ngoài của răng?
-Đâu là mặt nhai của răng?
Một số học sinh chỉ vào mô hình hàm răng và trả lời
Hàng ngày các em chải răng như thế nào? (gọi một số HS trả lời và lên làm thử các
động tác chải răng bằng bàn chải GV mang đến lớp, trên mô hình hàm răng. Một số học
sinh nhận xét bạn nào làm đúng, bạn nào làm sai.
GV hỏi cả lớp : Cách chải răng như thế nào là đúng?
GV làm mẫu lại động tác đánh răng với mô hình hàm răng, đồng thời giải thích cách
làm:
+ Chuẩn bị cốc và nước sạch
+ Lấy kem đánh răng vào bàn chải
với nhau về một vấn đề học tập hoặc một vấn đề về cuộc sống.
Trong dạy học các môn về TN-XH, thảo luận được sử dụng rộng rãi: Thảo luận
có thể là một phần của bài học để tìm tòi, xác định vấn đề hoặc để nhận định, đánh gía
một vấn đề.
Về hình thức, thảo luận có thể được tiến hành theo nhóm nhỏ hoặc cả lớp.
* Thảo luận cả lớp:
Khác với phương pháp hỏi đáp, khi tổ chức cho học sinh thảo luận cả lớp học sinh
giữ vai trò chính trong việc nêu câu hỏi và trả lời. Nếu một vấn đề đưa ra được phân
tích ở nhiều khía cạnh và có những ý kiến trái ngược nhau xuất hiện phải tranh luận sôi
nổi mới tìm ra kết luận, đó là những dấu hiệu chứng tỏ giáo viên sử dụng phương pháp
thảo luận thành công.
Muốn thảo luận thành công giáo viên cần phải đặt kế hoạch một cách cẩn thận,
trước hết ở khâu lựa chọn chủ đề thảo luận. Chủ đề thảo luận được lựa chọn có thể là
chủ đề mở, có thể xem xét chúng ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh theo những quan điểm
khác nhau.
Ví dụ: Chúng ta nên ăn uống như thế nào để cơ thể khoẻ mạnh?( TN-XH 2)
Bạn đã làm gì để môi trường xung quanh nhà bạn sạch sẽ?( TN-XH 2)
- Khi ở trường, bạn nên chơi và không nên chơi những trò chơi gì? Tại sao? (TN-XH
3).v.v
Sau khi nêu chủ đề cần thảo luận cho cả lớp, giáo viên có thể lấy tinh thần xung
phong hoặc cử một học sinh nói đầu tiên. Giáo viên theo dõi tiến triển của cuộc thảo
luận, hướng ý kiến của học sinh theo đúng kế hoạch dự kiến.
*Thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm tạo điều kiện để học sinh trình bày ý kiến, quan điểm của mình về
một vấn đề học tập trong một khoảng thời gian nhất định. Từng thành viên trong nhóm
có thể bày tỏ ý kiến của mình, cùng lắng nghe ý kiến của các bạn khác để hoàn thành
nhiệm vụ chung của cả nhóm.
* Cách thức tiến hành:
Thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau:
- Chia nhóm : tuỳ theo số lượng học sinh trong lớp mà GV có thể chia nhóm cho phù
sung ý kiến.
+ Giáo viên kết luận về đặc điểm của làng quê và đô thị: ở làng quê, người dân
thường sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, chài lưới và các nghề thủ công, ; xung
quanh nhà thường có vườn cây, chuồng trại, ; đường làng nhỏ, ít người và xe cộ qua
lại. ở đô thị, người dân thường đi làm trong các công sở, cửa hàng, nhà máy , nhà ở
tập trung san sát; đường phố có nhiều người và xe cộ đi lại.
Tiếp đó, giáo viên cho học sinh liên hệ mình sống ở làng quê hay đô thị.
Để củng cố bài học giáo viên có thể tổ chức trò chơi" Ai nhanh hơn?"
GV hoặc HS sưu tầm tranh ảnh về làng quê và đô thị. GV chia lớp thành 2 đội, phát
tranh ảnh về làng quê và đô thị cho 2 đội.
20
Cách chơi như sau: Khi GV hô "bắt đầu!" 2 đội phải nhanh chóng chọn và dán ảnh
về làng quê hay đô thị vào vị trí thích hợp. Đội nào dán được nhiều tranh về làng quê và
đô thị hơn thì đội đó thắng cuộc.
7. Phương pháp điều tra.
Điều tra là tìm tòi, khám phá về một vấn đề và để tìm ra câu trả lời cho một vấn
đề buộc học sinh phải tiến hành một hoạt động: sưu tầm thông tin, sắp xếp những thông
tin đó, rút ra kết luận. Cũng có thể nói điều tra tức là tìm câu trả lời nhờ sưu tầm và
phân tích các thông tin, các số liệu.
Để hướng dẫn học sinh học tập theo phương pháp điều tra, giáo viên cần lựa chọn
các vấn đề phù hợp với trình độ học sinh, cần dự kiến trước và lên kế hoạch hướng dẫn
học sinh:
+ Thu thập thông tin ở đâu ? Như thế nào ? Cách ghi chép ra sao ? Cách phân
tích, xử lí thông tin, rút ra kết luận như thế nào ?
+ Về tổ chức, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cụ thể cho từng học sinh hoặc từng
nhóm học sinh.
Điều tra là một cách học tích cực, trong đó coi trọng việc tổ chức hoạt động độc
lập cho học sinh, các em được tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình học tập từ việc
xác định vấn đề đến việc rút ra kết luận. Trong qúa trình đó các em còn được rèn luyện
cách suy nghĩ có phê phán.
Học sinh tiểu học đang ở lứa tuổi nhận thức cảm tính còn chiếm ưu thế, do đó
phương tiện dạy học có vai trò rất lớn.
Các môn về TN-XH có nhiều phương tiện dạy học nhất so với các môn học khác ở
trường tiểu học cả về số lượng và chủng loại. Có tới 90% số tiết cần sử dụng đồ dùng
dạy học ở các mức độ khác nhau. Các phương tiện dạy học có tác dụng:
-Giúp cho học sinh thu nhận thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách sinh
động, đầy đủ, chính xác, qua đó các em đễ hiểu, dễ nhớ kiến thức mới.
-Kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được. Phát triển hứng thú
nhận thức, năng lực quan sát, năng lực phân tích, tổng hợp các hiện tượng.
-Giúp cho giáo viên có điều kiện thuận lợi để trình bày bài giảng một cách sinh
động, đầy đủ, sâu sắc.
Như vậy, các phương tiện dạy học nếu được sử dụng đúng đắn sẽ góp phần tích cực
vào việc nâng cao hiệu suất lao động của giáo viên và học sinh .
2. Phân loại phương tiện dạy học các môn về TN-XH.
Phương tiện dạy học các môn về TN-XH rất phong phú và đa dạng, mỗi loại có
những tác dụng, ưu điểm khác nhau.
2.1. Bản đồ, quả địa cầu, sơ đồ, lược đồ: Đây là những phương tiện dạy học không
thể thiếu được để giảng dạy các kiến thức về địa lý, lịch sử. Học sinh tiểu học cần phải
hiểu được rằng Trái đất được biểu hiện trên bản đồ và quả địa cầu. Một trong những kỹ
năng địa lý quan trọng mà giáo viên tiểu học cần hình thành cho học sinh là kỹ năng sử
dụng bản đồ , quả địa cầu, sơ đồ, lược đồ , biểu bảng.
2.2. Vật thật: Các vật thật được sử dụng rộng rãi trong các môn TN-XH như các loại
động, thực vật tươi sống, các mẫu vật khoáng sản
Trong các đồ dùng trực quan thì các vật thật thường có nhều ưu điểm hơn cả vì
nó giúp cho việc hình thành biểu tượng sinh động nhất về các sự vật hiện tượng. Đặc
biệt với các vật tươi sống còn cho phép hình thành ở học sinh biểu tượng đầy đủ nhất vì
22
với chúng giáo viên có thể lôi cuốn tối đa các giác quan của học sinh vào quá trình quan
sát.
2.3. Tranh ảnh: Trong những trường hợp học sinh không thể quan sát trực tiếp các sự
Các hình ảnh tư liệu về động thực vật đặc trưng, các danh lam thắng cảnh, các
hoạt động kinh tế, phương tiện giao thông, di tích lịch sử văn hoá địa phương.
* Tự vẽ tranh.
4. Yêu cầu đối với phương tiện dạy học các môn TN-XH.
23
Dù loại hình nào, nguồn cung cấp nào, các phương tiện dạy học các môn TN-XH
cũng phải đảm bảo được tính khoa học và tính sư phạm. Thể hiện:
- Phải chứa đựng những thông tin cần học, những thông tin đảm bảo chính xác, phù
hợp với trình độ học tập của học sinh.
-Phải là công cụ để giáo viên tổ chức, chỉ đạo các hoạt động học tập cho học sinh.
- Phải kích thích hứng thú học tập, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh.
- Đồ dùng dạy học phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗ.
- Bất kỳ đồ dùng dạy học nào phải khai thác tối đa hiêụ quả sử dụng của nó.
-Đảm bảo tính thẩm mỹ, tính trực quan
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG II
1. Phân tích định hướng đổi mới phương pháp dạy học các môn vềTN-XH.
2. Cho ví dụ về tổ chức cho học sinh quan sát trong dạy học các môn vềTN-XH.
3.Cho ví dụ về tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trong dạy học các môn về TN-
XH.
4. Cho ví dụ về phương pháp thí nghiệm trong dạy học các môn về TN-XH.
5. Tại sao trong quá trình dạy học các môn TN-XH, giáo viên cần vận dụng phối hợp
các phương pháp dạy học khác nhau. Cho ví dụ minh hoạ.
6. Trình bày ý nghĩa, cách thức sử dụng phương tiện dạy học các môn TN-XH.
Chương III
HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC MÔN VỀ TN-XH
I. SỬ DỤNG CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC MÔN VỀ TN-XH
Các môn về TN-XH cũng giống như các môn học khác ở trong trường tiểu học
nước ta, được tiến hành theo hình thức lớp - bài. Đây là hình thức dạy học cơ bản nhất
vì các kiến thức được truyền thụ một cách có hệ thống. Chỉ có thông qua giờ lên lớp các
+ Dùng biểu tượng hoặc màu sắc
* Tổ chức hoạt động nhóm : Trong nhóm thường có các thành phần :
- Người điều khiển, người ghi chép, người báo cáo, các thành viên khác.
Các học sinh trong nhóm lần lượt thay nhau đóng vai trò các thành viên trên.
* Yêu cầu khi hoạt động nhóm:
Các thành viên phải tuân thủ sự điều khiển của trưởng nhóm, mọi người ngồi hướng
vào nhau, chăm chú lắng nghe ý kiến của người khác. Lần lượt từng thành viên đưa ra ý
kiến của mình, cả nhóm trao đổi đưa ra ý kiến thống nhất.
* Nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình dạy học theo nhóm.
- Hướng dẫn, điều khiển các hoạt động học tập của học sinh trong từng nhóm.
-Theo dõi diễn biến công việc của các nhóm, kịp thời giúp đỡ những nhóm gặp khó
khăn.
c. Một số điều kiện để dạy học theo nhóm có hiệu quả.
- Về phía giáo viên :
+ Cần chuẩn bị kỹ kế hoạch dạy học, dự kiến trước các tình huống có thể xảy ra trong
khi học sinh học tập theo nhóm. Trước hết giáo viên cần phải đặt kế hoạch để làm việc
với từng nhóm, dự kiến làm việc với nhóm nào trước, nhóm nào sau, giải thích rõ ràng
công việc của các nhóm.
25