TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
ĐẶNG THANH HIẾU
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO
DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ
VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
ĐẶNG THANH HIẾU
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO
DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ
VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH
DANH MỤC VIẾT TẮT
N
b
P
p
P
n
Sách
gi
T
g
T
h
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 6
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Cấu trúc của khóa luận................................................................................. 7
NỘI DUNG....................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ......................... 8
1.1. Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp............................................. 8
1.1.1. Thế nào là tích hợp và dạy học tích hợp
....................................................... 8
cáo ................................................................................................................... 27
2.4.3. Tích hợp mở rộng trong thực tế cuộc sống ........................................... 28
2.5. Xác định thời điểm tích hợp khi dạy học bài Viết quảng
cáo.......................... 29
2.5.1. Tích hợp khi tổ chức hoạt động tạo tâm thế ......................................... 29
2.5.2. Tích hợp khi hướng dẫn học sinh tiếp nhận tri thức về cách viết quảng
cáo ................................................................................................................... 29
2.5.3 Tích hợp khi hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng viết quảng
cáo............... 30
2.5.4. Tích hợp khi kiểm tra ............................................................................ 30
2.6. Xác định một số phương pháp tích cực sử dụng khi dạy học bài Viết
quảng cáo theo quan điểm tích hợp ............................................................... 30
2.6.1. Phương pháp vấn đáp ........................................................................... 30
2.6.2 Phương pháp thảo luận nhóm................................................................ 32
2.6.3. Phương pháp dạy học dự án ................................................................. 33
2.7. Định hướng tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo quan điểm tích hợp ...
33
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM................................................ 37
3.1 Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 37
3.2 Đối tượng thực nghiệm ............................................................................. 37
3.3 Địa bàn thực nghiệm ................................................................................. 38
3.4. Thời gian thực nghiệm ............................................................................. 38
3.5. Nội dung thực hiện................................................................................... 38
3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................. 44
KẾT LUẬN .................................................................................................... 46
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ ................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 50
dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường” (Công văn số:
5555/BGDĐT-GDTrH, hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH
1
và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của
trường trung học /trung tâm GDTX qua mạng). Như vậy, có thể nhận thấy
quan điểm tích hợp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đặc biệt hơn là Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp thị sát quyết liệt. Nhiều bài nghiên cứu,
nhiều hội thảo khoa học được tổ chức nhằm tìm ra những cách thức vận dụng,
tổ chức vào từng khâu, từng nội dung, từng hoạt động giáo dục trong tất cả
các cấp học. Không chỉ có vậy, cùng với định hướng đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh quan
điểm: tích hợp mạnh, sâu hơn các nội dung dạy học, gắn với quá trình phân
hóa để đánh giá năng lực người học. Có thể nói, tích hợp là quan điểm chỉ đạo
quá trình đổi mới giáo dục hiện nay.
Ngữ Văn là một trong số những môn học có khả năng tích hợp liên môn
liên ngành thể hiện rõ tính ưu việt của quan điểm dạy học tích hợp, chính vì
thế mà môn Ngữ Văn đã và đang trở thành tâm điểm của quan điểm dạy học
tích hợp. Điều đó bộc lộ rõ qua chương trình, sách giáo khoa bậc phổ thông.
Tính tích hợp được thể hiện ở việc ba phần: đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt và
Làm văn được kết hợp với nhau tạo thành chỉnh thể Ngữ văn. Trong đó, mỗi
phân môn có những đặc trưng riêng song vẫn được hòa trộn vào nhau để tạo
nên một môn học có nội dung kiến thức tổng hợp. Như vậy, việc dạy học từng
phân môn vừa phải đảm bảo đặc trưng của từng phân môn, vừa đảm bảo đúng
quan điểm chỉ đạo việc biên soạn sách giáo khoa – quan điểm tích hợp. Làm
văn nói chung và bài Viết quảng cáo nói riêng có khả năng tích hợp được rất
nhiều nội dung. Theo đó, việc tổ chức dạy học bài này có thể vận dụng quan
điểm tích hợp. Hơn nữa, việc vận dụng tích hợp vào dạy học bài này giúp cho
1972, tổ chức UNESCO tiếp tục họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học
tích hợp các khoa học. Có thể nói, hai hoạt động có tính toàn cầu này đã thực
sự đánh dấu sự thay đổi và khẳng định vị trí, nhiệm vụ và tác dụng của tích
hợp đối với nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, vào những năm của thập kỉ 1970, Cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng lần đầu nhắc tới tích hợp. Tuy nhiên, trong bài viết của mình, Cố Thủ
tướng cho rằng nó là một trong những phương pháp dạy học hữu hiệu, có thể
giúp GV có thể giáo dục con người HS một cách toàn diện. Tuy nhiên, sau đó,
ở Việt Nam, người ta ít chú trọng tới vấn đề này. Phải tới 1987, khi các nhà
giáo dục thiết kế môn học “Tìm hiểu tự nhiên – xã hội” để đưa vào giảng dạy
cho HS từ lớp 1 đến lớp 5 thì chương trình giáo dục Việt Nam mới bắt đầu
chú ý tới quan điểm giáo dục tiên tiến này. Khi chương trình, SGK Ngữ văn
ra đời, việc nghiên cứu về tích hợp ở Việt Nam được chú trọng hơn. Khẳng
định tính tất yếu trong việc chọn tích hợp là quan điểm chỉ đạo chương trình
giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh: “Lấy quan điểm tích
hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức chức nội dung chương trình, biên soạn
SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy. [2; tr.27] Nguyên tắc tích hợp
phải được quán triệt trong toàn bộ môn học từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm
văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi
yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong
SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong
hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” [2;
tr. 40].
Năm 2002, để lý giải về tên sách giáo khoa được sử dụng khi dạy học Ngữ
văn, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo việc xây dựng
chương trình, sách giáo khoa cho môn học để lý giải về tên gọi Ngữ văn.
Theo tác giả thì: “Việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn
thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại mà
học đối với các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội” [8]
Từ những khảo cứu trên đây, có thể khẳng định, cho đến nay, mặc dù có
nhiều công trình nghiên cứu về tích hợp song lại chưa có công trình nào tập
trung xem xét việc tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan
điểm này. Đó là gợi dẫn để chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm hướng tới một số mục đích xác định được những
cơ sở khoa học và những yêu cầu về kĩ năng cần thiết khi vận dụng quan
điểm tích hợp vào dạy học Làm văn nói chung và những nội dung tích hợp có
liên quan. Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp, những cách thức lựa chọn
và thiết kế hoạt động dạy học phù hợp để hoạt động này đạt hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành được nội dung đề tài này, chúng tôi xác định phải thực hiện
những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổng hợp những tài liệu nghiên cứu để làm cơ sở lí luận khi giải quyết và
thực nghiệm đề tài.
- Xác định những yêu cầu, nội dung, phương pháp và cách thức tích hợp
khi vận dụng vào bài Viết quảng cáo.
- Thiết kế giáo án, đề xuất cách tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo theo
quan điểm tích hợp.
- Tổ chức thực nghiệp sư phạm nhằm đánh giá mức độ hiệu quả cho
những đề xuất được nêu trong chương 2.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Gắn với tên đề tài, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là quan điểm
tích hợp trong giáo dục và trong dạy học Ngữ văn
4.2. Phạm vi nghiên cứu
hợp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận về dạy học quan điểm tích hợp
Tại Đại hội XII, Đảng chỉ đạo việc đổi mới giáo dục phải theo đúng tinh
thần: “Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, chú trọng đến
mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh; không chỉ đòi hỏi học sinh
nắm vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận
dụng kiến thức, kỹ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học
tập và cuộc sống”. Với chủ trương này, có thể nhận thấy, từ việc nghiên cứu
và đánh giá sự vận động biến đổi theo xu hướng toàn cầu hóa, việc đổi mới
toàn diện giáo dục sự điều chỉnh cách dạy và học không đơn thuần là bổ sung
thêm kiến thức mà chủ yếu phải trang bị cho HS những kiến thức cơ bản, kĩ
năng và năng lực đặc thù để biết vận dụng những điều học được vào thực tế
cuộc sống . Thêm nữa kiến thức giữa các cấp không phải là những mảng kiến
thức cô lập mà nó phải là những sự liên kết có logic. Từ đó, Đảng đã chỉ rõ
nhiệm vụ phải vận dụng quan điểm tích hợp đổi mới giáo dục. Như vậy, tích
hợp là một trong những quan điểm giáo dục phải được áp dụng vào quá trình
dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học của giáo dục phổ thông.
1.1.1. Thế nào là tích hợp và dạy học tích hợp
Tích hợp là thuật ngữ bắt nguồn từ phương Tây. Nó được thể hiện bằng
từ gốc Latin (integer) -“integration” với các nét nghĩa được dịch là “whole”
(toàn bộ, toàn thể). Theo đó, hiểu một cách đơn giản thì thuật ngữ này có
nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau
nhằm bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động cho hệ thống ấy.
Gắn với nét nghĩa gốc này, các tác giả trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đưa ra
Theo đó, việc triển khai quan điểm này vào sách giáo khoa Ngữ văn được thể
hiện qua những hình thức cơ bản sau:
Trước tiên là hình thức tích hợp ngang. Đây là hình thức liên kết tri
thức, kĩ năng giữa ba phân môn Đọc văn – Tiếng việt – Làm văn. Nói một
cách khác, tích hợp ngang là lấy tri thức tiếng Việt và Làm văn để đọc hiểu
một tác phẩm văn học và ngược lại. Chẳng hạn: Khi dạy bài “Phong cách
ngôn ngữ chính luận” (Ngữ văn 11), để giúp HS tìm hiểu thế nào là ngôn ngữ
chính luận và đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận. Để lấy ngữ liệu
phân tích đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chính luận đó là trình bày, đánh
giá những sự kiện những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng theo
một quan điểm chính trị nhất định GV có thể trích một đoạn của tác phẩm
“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh để tìm hiểu. Mục đích của việc lấy
các ngữ liệu từ tác phẩm văn học phù hợp là tạo sự chính xác, phù hợp với nội
dung kiến thức của Tiếng Việt để từ đó triển khai các nội dung dạy học. Như
vậy, gắn với đặc điểm của tích hợp ngang, có thể nhận thấy. Đây là cơ sở và
cũng là tiền đề để thể hiện tích hợp một cách rõ ràng nhất, cùng với đó là giải
quyết các nhiệm vụ học tập trong môn Ngữ văn. Việc triển khai hình thức tích
hợp này giúp HS có điều kiện rèn luyện tư duy logic, phát triển trí tuệ cho bản
thân, trên cơ sở đó, người học có sự thông hiểu tổng hợp về các đơn vị kiến
thức có quan hệ với nhau. Không chỉ vậy, hình thức này còn cung cấp cho chủ
thể học tập có thể hình thành và tích lũy được vốn kinh nghiệm sống ở mức
đầy đủ nhất; cung cấp cho các em những công cụ và kỹ năng cần thiết cho
việc học tập các môn học khác nhau. Với bản chất của hình thức này, có thể
khái lược nó thành sơ đồ như sau:
Hình thức thứ 2 là tích hợp dọc. Đó là hình thức tích hợp giữa một đơn
vị kiến thức, kĩ năng mới với những kiến thức, kĩ năng trước đó đã được học
+
Địa lý) g
+ Hệ
H
mặt trời t
năng
r ó
lượng
o a
n th
(môn
g
Vật lý)
ạ
c c
á
h Tài liệu tập huấn về dạy học tích hợp đối với KHTN – Bộ
(Trích theo:
Giáo dục và Đào tạo)
Tiếp theo là tích hợp mở rộng, là tích hợp với những môn học khác hoặc
những kiến thức bên ngoài đời sống, bên ngoài môn học như lịch sử, địa lí,
văn hóa… trong giờ dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy và sự tiếp
nhận tri thức của HS. Ví dụ muốn tiếp nhận được tác phẩm “Tây Tiến” của
nhà thơ Quang Dũng, GV và HS cần huy động kiến thức ở nhiều lĩnh vực để
tìm hiểu thấu đáo của bài thơ này. Ở đó người đọc cần tiếp nhận được các
mảng lĩnh vực như hội họa, âm nhạc và tính tạo hình. Cách Quang Dũng tạo
nên tính nhạc bởi những âm hưởng đặc biệt, những thanh trắc tạo cảm giác
trúc trắc, khó đọc kết hợp với những thanh bằng làm nhịp thư trầm xuống tạo
1.1.3.2. Nội dung bài học và kĩ năng được triển khai theo hệ thống
Các đơn vị kiến thức của môn Ngữ văn có liên kết với nhau, nói khác đi là
chúng đều có mối quan hệ qua lại với nhau có thể hỗ trợ nhau trong quá trình
giảng dạy. Đây là điều kiện lí tưởng cho việc thực hiện vận dụng quan điểm
tích hợp vào trong dạy và học môn Ngữ văn nói chung Làm văn nói riêng.
Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình dạy học. Cụ thể, khi hướng dẫn HS
đọc hiểu một tác phẩm văn học, rõ ràng GV phải vận dụng tất cả những kiến
thức Tiếng Việt như biện pháp tu từ từ đó nắm bắt được nghệ thuật, nội dung
và cái đích cuối cùng là giải mã được tác phẩm. Ngược lại ta lại vận dụng
những kĩ năng để tạo lập ra văn bản, trong quá trình dạy tạo lập văn bản thì
kiến thức của phần Văn sẽ là nguồn tài liệu phong phú da dạng và rất thực tế
cho bài học. Chính vì đó hệ thống nội dung kiến thức bài học và các kĩ năng
được sắp xếp bài bản, hợp lí và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một hệ
thống gần như hoàn hảo. Với bản chất của việc thiết kế các nội dung dạy học
có liên quan tới nhau, khi tiến hành dạy học theo quan điểm này, GV thực
hiện theo trình tự sau:
Bước 1
X
á
tic
êđ
ầ
Bước 2
L
ự
ac
h
T
c
ứ
DH
Bước 4
Bước 5
Đ
á
nđ
ci
hq
tu
rD
H
Sơ đồ quy trình dạy học chủ đề tích hợp
Bước 6
Bước 7
1.1.3.3.Giờ học sinh động, linh hoạt bởi việc sử dụng các phương pháp,
phương tiện hiện đại
Để có thể phát huy tính tích cực, chủ động của người học, trong quá
trình dạy, GV phải sử dụng linh hoạt các PPDH hiện đại. Theo đó giờ thực sự
giống như một môi trường để chủ thể học tập độc lập thể hiện bản thân.
rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo,
trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”.
Theo đó, trong Luật Quảng cáo khẳng định: “Quảng cáo là việc sử dụng
các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ
chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ
tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân.”
Cho đến nay, quan niệm về hoạt động quảng cáo và văn bản quảng cáo
còn nhiều điều chưa đồng nhất, song nhắc tới khái niệm này, các nhà quảng
cáo, các tổ chức doanh nghiệp nói tới một kiểu văn bản trong đời sống hàng
ngày với một số biểu hiện như sau:
Xuất phát từ mục đích tạo lập, có thể nhận thấy, quảng cáo là thông tin
hướng tới khách hàng và thường nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Gắn với đối thể tiếp nhận, có thể khẳng định kiểu văn bản này quảng cáo
không dành riêng cho một cá nhân cụ thể nào mà nó hướng tới số đông, tới
toàn xã hội toàn cầu.
Hơn nữa, muốn truyền đạt nội dung được quảng bá, kiểu văn bản này đòi
hỏi phải có sự hỗ trợ của các phương tiện trung gian. Đặc điểm này được coi
là một thế mạnh rất lớn của quảng cáo. Cũng vì thế, khác với những kiểu văn
bản được học khác, ngay từ chính những điều mà các em được nghe, được
nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày, HS dễ dàng nhận thấy kiểu văn bản này
được truyền đạt với nhiều cách thức qua nhiều các phương tiện , nhờ đó có
thể tạo được mọi sự tác động tới nhiều đối tượng nhằm mang lại hiệu quả
kinh tế to lớn.
1.2.2. Đặc điểm của văn bản quảng cáo
Từ việc nghiên cứu mục đích tạo lập văn bản quảng cáo có thể nhận
thấy đó là một cách thức giao tiếp trong môi trường đặc biệt, nhằm phục vụ
nhu cầu của một nhóm người trong xã hội - các doanh nghiệp. Cũng vì thế,
và nhà kinh doanh cung cấp những thông tin: nguồn gốc con giống, quá trình
sản xuấ sữa và quá trình bảo quản
Cách thức sử dụng sản phẩm: Một trong những điều không thể thiếu là
khi giới thiệu sản phẩm, người giới thiệu buộc phải chia sẻ cho mọi người
nắm được cách thức, công dụng của đối tượng được quảng cáo. Đối với
những sản phẩm có cách sử dụng tương đối khó hoặc cần phải lưu ý một số
động tác kỹ thuật khi sử dụng… thì hoạt động này còn phải đảm bảo nhiệm
vụ là bản hướng dẫn chi tiết để khách hàng hiểu và lựa chọn sản phẩm. Đó
chính là một “chiêu” để các doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao uy tín,
tăng tính chính xác, đảm bảo, và vị thế của nhà sản xuất kinh doanh với khách
hàng tiêu dùng. Ví dụ: Cũng với sản phẩm sữa TH True Milk thì khi quảng
cáo nhà sản xuất, nhà kinh doanh cần đưa ra được thông tin cách thức sử
dụng và công dụng của sản phẩm của mình Sữa tươi TH True Milk sạch chứa
gần như đầy đủ các nhóm vi chất thiết yếu cho cơ thể như: protein,
carbohydrate, chất béo, vitamin và khoáng chất - đặc biệt là hàm lượng canxi,
kẽm, magiê. Bên cạnh nguồn dưỡng chất tự nhiên dồi dào sẵn có, sữa tươi
tiệt trùng TH True Milk công thức topkid còn được bổ sung bộ vi chất dinh
dưỡng trong công thức topkid. Theo đó, các dưỡng chất đều được tính toán
khoa học về hàm lượng và thành phần đảm bảo phù hợp với nhu cầu đặc biệt
của trẻ. Sản phẩm có tác dụng hỗ trợ phát triển trí não của trẻ nhờ bổ sung
DHA, axit folic. Đây đều là những vi chất quan trọng, tạo nền tảng cho sự
phát triển trí não và thị giác, giúp trẻ phát triển toàn diện về trí lực
Sữa tươi tiệt trùng TH True Milk kết hợp nguồn lượng canxi có sẵn trong sữa
tươi organic và hàm lượng canxi, vitamin D bổ sung thêm. Dưỡng chất này
giúp trẻ tăng khả năng hấp thu canxi, phát triển chiều cao và củng cố hệ
xương chắc khỏe.
Mở rộng mạng lưới phân phối: Quảng cáo là hoạt động gần cuối trong
chuỗi tạo và kinh doanh sản phẩm. Mục đích của việc thực hiện hoạt động