Giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 41

1

TÁC GIẢ: Đàm Quang Dụng
Phạm Manh Hùng Trần Thị Anh
Thư
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, thế giới đang chuyển mình
mạnh mẽ từng phút, từng giây. Xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đã và đang là xu hướng
chung của các quốc gia trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội. Toàn cầu đang bước vào nền
kinh tế tri thức. NCKH đã trở thành một hoạt động sôi nổi và rộng khắp trên toàn thế giới, là
động lực thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Không nằm ngoài quy luật của thế giới, Việt Nam
đã và đang đầu tư mạnh mẽ cho các hoạt động NCKH. Đảng và Chính phủ xác định đầu tư cho
khoa học công nghệ là một trong những quốc sách hàng đầu trong công cuộc đổi mới xây dựng
đất nước trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Trong đó, lĩnh vực giáo dục
là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu. Vì vậy, phải phát động phong trào NCKH sôi nổi, mạnh
mẽ trong các trường đại học và trong khối sinh viên, giảng viên.
Trong những năm qua, phong trào NCKH của sinh viên các trường đại học trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh đã được phát động mạnh mẽ, sâu rộng và nhận được sự hưởng ứng tích
cực, nhiệt tình từ phía sinh viên, giảng viên. Nhiều đề tài khoa học của sinh viên đã đạt những
giải cao trong các kỳ thi do Bộ GD & ĐT và các đơn vị phối hợp tổ chức. Tuy nhiên, nhìn trên
bình diện chung thì hoạt động NCKH của sinh viên trên địa bàn thành phố vẫn còn đang gặp rất
nhiều khó khăn và còn nhiều hạn chế về phương pháp nghiên cứu, chất lượng, tính khả thi của
đề tài, nhiều sinh viên vẫn chưa thực sự quan tâm đến hoạt động này. Những hạn ché đó làm
cho hiệu quả, chất lượng đề tài NCKH của sinh viên chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Thực tiễn đang đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để nâng cao chất lượng NCKH của sinh viên trên
địa bàn thành phổ Hồ Chi Minh ?


2


3

Thời gian: Từ năm 2004 đến năm 2008.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và các văn bản pháp quy
về hoạt động NCKH của sinh viên.
5.2. Phương pháp cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, so sánh tài liệu, số liệu.
- Phương pháp điều tra xã hội học.
- Phương pháp phỏng vấn, toạ đàm.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình, tổng kết kinh nghiệm.
6. Cấu trúc nội dung của đề tài
Ngoài phần tóm tắt công trình, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và đặc điểm tình hình liên quan đến hoạt động NCKH của
sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2: Thực trạng NCKH của sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh
Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng NCKH của sinh viên các trường đại
học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh


4

Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NCKH CỦA SINH VIÊN
CÁC TRUỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra hai hệ
thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày
trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình
này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ
giữa con người với nhau trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử
dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu
vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự
vật và con người. Vĩ vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất
định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt
động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không
giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên két quả quan sát, thu thập được qua
những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết học,
sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,...
1.1.3. Nghiên cứu khoa học
NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào tìm kiếm những điều mà khoa học chưa
biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng
tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.


6

NCKH là quá trình hoạt động nhằm thu nhận tri thức khoa học. NCKH có hai mức độ:
kinh nghiệm và lí luận, chúng luôn tác động qua lại với nhau. NCKH có cấu trúc phức tạp, gồm
nhiều yếu tố: xây dựng các nhiệm vụ nhận thức; nghiên cứu những phương pháp và tri thức đã
có trong lĩnh vực đang nghiên cứu; đưa ra và phân tích lý thuyết những giả thuyết; phân tích và
khái quát hóa những két quả đã nhận thức được; kiểm tra các giả thuyết có được trên cơ sở tổng
hợp toàn bộ các sự kiện; xây dựng các lý thuyết và hình thành những quy luật; nghiên cứu những

- Trong quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu, người nghiên cứu phát hiện hoặc
nhận ra các “vấn đề”. Đó có thể là vấn đề mới hoặc vấn đề cũ nhưng người nghiên cứu chưa rõ
hoặc muốn chứng minh lại.
- Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học kỹ thuật, ... đôi khi việc tranh cãi và
tranh luận khoa học sẽ làm phát sinh vấn đề cần nghiên cứu.
- Trong quá trình lao động sản xuất hay trong các quan hệ xã hội, những khó khăn,
vướng mắc nảy sinh cũng đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát
hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu.
- “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thông tin bức xúc, lời nói phàn
nàn nghe được qua các cuộc nói chuyện từ những người xung quanh.
- Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ của người
nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xảy ra trong xã hội
hàng ngày.
- Tính tò mò của người nghiên cứu về vấn đề nào đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn
đề” nghiên cứu.
- Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường: Đây chính là việc tìm kiếm một khái niệm
đối lập với khái niệm đang tồn tại.
1.1.5. NCKH sinh viên
NCKH sinh viên là hoạt động NCKH do sinh viên thực hiện nhằm nghiên cứu sâu một
vấn đề khoa học thuộc phạm vi môn học, ngành học hoặc những lĩnh vực xã hội liên quan đến
nhiệm vụ học tập, rèn luyện và thực tiễn công tác.


8

Đề tài NCKH của sinh viên được thực hiện bởi một người hoặc một nhóm người. Sinh
viên chọn đề tài nghiên cứu từ danh mục đề tài do Phòng, Ban Khoa học cơ sở cung cấp hoặc
có thể tự mình đề xuất một đề tài tâm đắc muốn nghiên cứu tìm hiểu.
Đe tài NCKH của sinh viên được chia thành hai lĩnh vực:
- Khoa học kỹ thuật

những tiêu chuẩn nhất định về trình độ cơ bản vĩ đã trải qua sự sàng lọc khắt khe của kỳ thi
tuyển sinh đại học để được đào tạo chính quy hơn, trở thành đội ngũ lao động chuyên nghiệp,
có khả năng thích nghi với sự phát triển của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước
khẳng định vị trí làm chủ đất nước trong tương lai.
1.2.3. Các quy định về hoạt động NCKH của sinh viên
1.2.3.1. Mục đích và yêu cầu của NCKH
* Mục đích NCKH
- Giúp cho sinh viên tiếp cận và làm quen với môi trường khoa học, phương pháp
NCKH cũng như rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu của sinh viên và tạo
phong cách làm việc khoa học.
- Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học.
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề của khoa học và giải quyết những yêu cầu thực
tiễn.
* Yêu cầu về NCKH
- Phù hợp với định hướng hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học.
- Phù hợp với nội dung của chương trình đào tạo và một số đòi hỏi của thực tiễn xã
hội.
- Phù hợp với khả năng, nguyện vọng của sinh viên.
- Không ảnh hưởng đến học tập chính khóa của sinh viên.
- Đảm bảo đúng các quy định về NCKH theo Luật Khoa học và Công nghệ.


10

1.2.3.2.

Nội dung và hình thức NCKH

- Nghiên cứu những vấn đề thuộc lĩnh vực được đào tạo.
- Tham gia triển khai áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh



11

+ Mỗi sinh viên, nhóm sinh viên tham gia nghiên cứu đề tài khoa học phải đảm bảo
đúng tiến độ, thủ tục, trình tự đãng ký, xét duyệt, hội thảo, kiểm tra đánh giá, nghiệm thu, thanh
lý hợp đồng theo quy định của cơ quan chủ quản đề tài NCKH và đảm bảo về hĩnh thức, cấu
trúc của sản phẩm NCKH theo quy định.
- Quyền lợi:
+ Sinh viên NCKH được hưởng mọi quyền lợi do Bộ GD & ĐT, các trường đại học
quy định.
+ Được tạo điều kiện sử dụng các cơ sở vật chất, các trang thiết bị sẵn có của trường để
tiến hành NCKH theo kế hoạch. Được giới thiệu đến các đơn vị, cơ sở để thu thập số liệu, tài
liệu thực tế phục vụ cho việc nghiên cứu.
+ Sinh viên đang học trong nhà trường có công trình đạt giải thưởng “Sinh viên NCKH”
do Bộ GD & ĐT tổ chức hoặc đạt giải thưởng sinh viên NCKH cấp trường thì được cộng điểm
thưởng vào điểm trung bình chung học tập cuối năm hoặc được khen thưởng bằng vật chất tùy
theo kết quả của các đề tài NCKH.
Tổng số điểm tối đa cho một công trình là:
+ Giải nhất : 0,4 điểm
+ Giải nhì : 0,3 điểm
+ Giải ba

: 0,2 điểm

+ Khuyến khích : 0,1 điểm
+ Sinh viên có thành tích NCKH khi đang học tập tại trường được ưu tiên khi xét thi
đua, cấp học bổng hàng năm và là một trong những điều kiện được xét chuyển tiếp ở bậc Sau
đại học và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định.
+ Kết quả NCKH của sinh viên đạt chất lượng cao có thể được đăng công bố trên các

trung bình từ 8,75 trở lên sẽ được xét giải nhất thông qua các hội đồng đánh giá của Bộ GD &
ĐT.
Trên cơ sở quy định chung của Bộ GD & ĐT, các trường sẽ có những tiêu chí riêng cụ
thể. Có trường thì coi trọng hiệu quả thực tiễn của đề tài, có trường thì đánh giá cao phương
pháp nghiên cứu của sinh viên. Riêng đề tài của sinh viên trường Đại học Cảnh sát Nhân dân
được đánh giá theo 4 tiêu chí và phân loại như sau:
- Tiêu chí đánh giá
+ Phương pháp nghiên cứu

: 5 điểm.


13

+ Nội dung khoa học

: 2 điểm.

+ Hiệu quả (kinh tế, xã hội, giáo dục...) : 2 điểm.
+ Hình thức trình bày

: 1 điểm.

1.3. Một số vấn đề khác có liên quan
1.3.1.

Cán bộ hướng dẫn NCKH

Tất cả sinh viên tham gia NCKH đều có cán bộ hướng dẫn. Cán bộ hướng dẫn là những
giảng viên, cán bộ nghiên cứu của các trường đại học có kinh nghiệm NCKH. Những cán bộ


1.3.3. Cff sở vật chất phục vụ hoạt động NCKH
Nhìn chung, tất cả các trường đều có thư viện phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học
tập và NCKH. Ngoài ra, tùy theo điều kiện và đặc điểm của từng trường mà có thể trang bị thêm
phòng đọc trực tuyến hoặc hệ thống Internet. Quy mô của thư viện, phòng đọc, hệ thống Internet
có sự khác nhau tùy theo mức độ đầu tư và khả năng tài chính của mỗi trường.
Ket quả khảo sát tại trường Đại học Cảnh sát Nhân dân cho thấy hiện trường có một thư
viện phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập nói chung và hoạt động NCKH nói riêng. Ngoài ra,
còn có một phòng đọc trực tuyến phục vụ việc tra cứu tài liệu mật. Theo thống kê mới nhất của
Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa thuộc trường Đại học Cảnh sát Nhân dân,
hiện thư viện trường có tổng số 12.078 đầu sách (2.385 nhan đề) và 3.886 tạp chí (55 nhan đề).
Bên cạnh nguồn tài liệu tại thư viện, sinh viên còn có thể khai thác nguồn thông tin khổng lồ từ
Internet qua mạng không dây (WIFI). Ngoài ra, nhà trường còn trang bị cho mỗi phòng ở sinh
viên một line mạng nội bộ. Với cách làm này, trường Đại học Cảnh sát Nhân dân đã trở thành
một thư viện tổng hợp, sinh viên có thể tra cứu thông tin phục vụ học tập, nghiên cứu tại phòng
ở của mình một cách thuận lợi.
1.3.4. Thời gian NCKH
Bộ GD & ĐT không quy định cụ thể về thời gian nghiên cứu đối với một đề tài khoa
học của sinh viên. Các trường căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của mình và tính chất, quy mô
của từng đề tài mà có những quy định khác nhau. Thông thường, một đề tài NCKH của sinh
viên được thực hiện trong khoảng thời gian tù năm đến bảy tháng. Khoảng thời gian nghiên cứu
của mỗi đề tài được tính từ khi sinh viên nhận đề tài đến khi hoàn chỉnh và chuyển giao về đơn
vị quản lý.
1.3.5. Kinh phí NCKH
Hàng năm, Hiệu trưởng các trường quyết định dành một khoản kinh phí thích hợp để
hỗ trợ hoạt động NCKH của sinh viên. Kinh phí này được trích từ các nguồn sau:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các hoạt động khoa học và công nghệ.


15

Kết quả khảo sát cho thấy:
Tại trường Đại học Ngân hàng, phong trào NCKH của sinh viên hàng năm được được
tổ chức làm hai đợt theo hai học kỳ cho tất cả sinh viên học tập tại trường. Đe tài do sinh viên
tự lựa chọn về vấn đề, lĩnh vực mà mình yêu thích.
Tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tất cả sinh viên đều có thể tham gia
NCKH. Giảng viên sẽ cung cấp một số tên đề tài cho sinh viên trong lớp lựa chọn. Sau đó, sinh
viên nghiên cứu lựa chọn đề tài mình muốn nghiên cứu, đãng ký lại với giáo viên.
Riêng tại trường Đại học Cảnh sát Nhân dân: Hàng năm, khi nhà trường triển khai ké
hoạch NCKH, sinh viên có thể đề xuất những đề tài mà mình tâm đắc muốn nghiên cứu và gửi
về phòng Quản lý NCKH. Trên cơ sở những đề tài do các khoa, bộ môn xây dựng và sinh viên
đề xuất, Hội đồng khoa học nhà trường sẽ duyệt danh mục đề tài. Sinh viên được tự do lựa chọn
nhưng chỉ được đăng ký trong số các đề tài có trong danh mục.
2.1.2. Thu thập và xử lý tài liệu
Sinh viên NCKH luôn bắt đầu quá trình nghiên cứu bằng việc thu thập tài liệu phục vụ
cho đề tài của mình.


17

Sách, giáo trình trong thư viện là những nguồn tài liệu phong phú và đa dạng được sinh
viên lựa chọn nhiều nhất. Hiện nay, thư viện các trường đã được trang bị rất nhiều loại sách, đa
dạng về chủng loại cũng như số lượng, sinh viên có thể tự do tra cứu một cách dễ dàng để tìm
đọc những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, nhìn chung các thư viện vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm thông tin của sinh viên.
Ngoài nguồn tài liệu từ thư viện, sinh viên có thể tìm kiếm ưên mạng Internet những
thông tin cần thiết. Internet là một thư viện khổng lồ với nguồn thông tin phong phú, có khả
năng đáp ứng mọi nhu cầu tìm hiểu của sinh viên. Có nhiều sinh viên đã biết cách khai thác một
cách có hiệu quả nguồn tài liệu này. Tuy nhiên, nhiều đề tài được sao chép gần như toàn bộ
những thông tin tìm được trên mạng Internet mà không có sự chọn lọc, kiểm tra tính xác thực
làm cho đề tài thiếu tính tư duy, thậm chí làm sai lệch nội dung nghiên cứu.

sinh viên này tụ nghĩ ra số liệu rồi dùng chính số liệu ấy phục vụ cho hoạt động nghiên cứu,
không tôn ưọng sụ thật khách quan, các lập luận và cơ sở của lập luận phần lớn là do suy luận
chủ quan mà không căn cứ trên tình hình thực tiễn.
Sau khi thu thập tài liệu, sinh viên tiến hành sắp xếp, hệ thống lại những tài liệu đã có,
xử lý các số liệu thô theo yêu cầu nghiên cứu. Việc sắp xếp tài liệu của sinh viên dựa trên nhiều
tiêu chí nhung phổ biến nhất vẫn là sắp xếp theo các đề mục trong đề cuơng nghiên cứu. Trên
cơ sở đó sinh viên bắt tay vào việc xây dựng bản thảo đề tài.
2.1.3. Viết bản thảo đề tàiNCKH
Trên cơ sở những tài liệu đã thu thập đuợc, qua phân tích, so sánh, tổng hợp và đánh
giá các số liệu, tài liệu có liên quan, sinh viên bắt tay vào việc viết bản thảo đề tài. Hầu hết các
bản thảo đều bám sát vào đề cuơng chi tiết đã đuợc duyệt. Đe xây dựng bản thảo, mỗi nhóm có
những cách làm khác nhau. Qua tìm hiểu, nhóm nghiên cứu nhận thấy có một số cách làm việc
tiêu biểu sau:


19

- Phân công mỗi người phụ trách một công việc: Một người thu thập số liệu, tài liệu,
một người viết đề tài và người còn lại có nhiệm vụ đánh máy. Ưu điểm của cách làm này là có
sự phân công chuyên môn hóa, từ đó, sinh viên sẽ đầu tư cho công việc của mình nhiều hơn,
đặc biệt là nội dung đề tài sẽ liền mạch hơn, logic hơn vì đó là két quả tư duy của một người.
Tuy nhiên, như vậy sẽ không phát huy được tính sáng tạo, năng lực tư duy và sức mạnh của tập
thể, một số sinh viên sau khi hoàn thành đề tài vẫn không nắm được các phương pháp nghiên
cứu (do chỉ đánh máy hoặc thu thập số liệu). Qua kết quả điều tra xã hội học được biết có 9,7%
sinh viên lựa chọn cách làm này.
- Phân công mỗi người đảm trách một chương của đề tài. Ưu điểm của cách làm này
là sinh viên chủ động sắp xếp thời gian để hoàn thành phần việc của mình, nội dung của từng
chương có sự liền mạch vì chỉ do một người viết. Tuy nhiên, cách làm này vẫn chưa phát huy
tối đa sự hợp tác của nhóm nghiên cứu. Khi được phân công, các cá nhân thường làm việc độc
lập, tính tập thể không cao. Cá biệt có trường hợp khi hoàn chỉnh đề tài thì nội dung các chương

có ý nghĩa quyết định vỉ là lần chỉnh sửa cuối cùng. Với những đề tài cán bộ hướng dẫn chỉnh
sửa ít thì việc hoàn chỉnh đề tài khá đơn giản. Tuy nhiên, có trường hợp cán bộ hướng dẫn thay
đổi cấu trúc đề tài, bổ sung thêm nhiều nội dung mới thì đây thực sự là vấn đề nan giải vì đã cận
hạn nộp đề tài, việc chỉnh sửa của sinh viên bị lúng túng và không hiệu quả.
2.1.5. Bảo vệ đề tài
Bảo vệ đề tài là ngưỡng cửa mà sinh viên phải vượt qua bằng cách khẳng định giá trị
khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài mình nghiên cứu trước Hội đồng khoa học. Quá trình
này phản ánh sự nhận thức, hiểu biết của sinh viên về vấn đề mình nghiên cứu. Sinh viên phải
thể hiện sự am hiểu cũng như tâm huyết của mình về lĩnh vực nghiên cứu không chỉ thông qua
những gì đã viết trong đề tài mà còn phải truyền tải thông tin một cách cô đọng, hàm súc bằng
ngôn ngữ nói hoặc minh họa thêm bằng hình ảnh để tăng tính thuyết phục cho đề tài. Trong quá
trình bảo vệ,


21

Hội đồng khoa học sẽ đặt những câu hỏi, đưa ra ý kiến phản biện và yêu cầu sinh viên trả lời để
làm sáng tỏ những vấn đề chưa rõ hay mở rộng vấn đề nghiên cứu.
Việc trình bày và trả lời những câu hỏi của Hội đồng khoa học sẽ quyết định đến sự
đánh giá chất lượng đề tài khoa học của sinh viên. Vĩ vậy, đòi hỏi sinh viên phải nắm vững kiến
thức, có sự mở rộng ngoài lĩnh vực mình nghiên cứu. Trong quá trình bảo vệ đề tài của mình,
sinh viên cần bình tĩnh, nhạy bén để trả lời những câu hỏi được đặt ra. Trên thực tế, có những
đề tài đã được chuẩn bị kỹ, nội dung chất lượng nhưng khi bảo vệ trước Hội đồng, sinh viên lại
lúng túng, trình bày không rõ ràng, khoa học dẫn đến việc đánh giá của Hội đồng khoa học
không cao.
Bảo vệ đề tài là khâu quan trọng mà các trường đặc biệt quan tâm khi đánh giá chất
lượng đề tài. Nhiều trường đã tổ chức bảo vệ đề tài một cách nghiêm túc để chọn ra những đề
tài thật sự giá trị. Tuy nhiên, một số trường lại không xem trọng khâu này và tổ chức bảo vệ đề
tài một cách sơ sài, hình thức, thậm chí bỏ qua bước bảo vệ đề tài.
Hầu hết sinh viên đều áp dụng quy trình nghiên cứu trên đây khi xây dựng đề tài. Đe

tâm cao. Sinh viên thường xuyên chủ động liên hệ với cán bộ hướng dẫn, tìm hiểu cách tiến
hành đề tài, tiếp thu sự chỉ dẫn của cán bộ hướng dẫn để hoàn thiện đề tài của mình. Có những
sinh viên quyết tâm xây dựng một đề tài chất lượng, hướng đến những giải thưởng cao hơn nên
đã tích cực nghiên cứu ngay sau khi nhận được đề tài, chuẩn bị và đầu tư cho đề tài một cách
kỹ lưỡng. Con số này chiếm 25,5% số lượng sinh viên được điều tra.
Bên cạnh đó, còn một bộ phận sinh viên không có ý định tham gia NCKH. Theo kết
quả khảo sát đối với gần 300 sinh viên các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh chưa từng
NCKH thì có đến 63% sinh viên trả lời không có ý định NCKH trong thời gian học tập tại
trường, chủ yếu là những sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư. Trong số đó có 46,9% sinh viên
trả lời không thật sự quan tâm đến hoạt


23

động này. Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên trường Đại học Ngân hàng ít quan tâm đến hoạt
động NCKH của sinh viên nhất, tiếp theo là trường Đại học Nông lâm và Đại học Luật (xem
phụ lục 3). Điều đó cho thấy trong mỗi trường đại học vẫn còn nhiều sinh viên chưa thấy được
lợi ích của NCKH, dẫn tới có thái độ hời hợt đối với hoạt động NCKH.
Không phải tất cả những sinh viên khi đãng ký tham gia nghiên cứu đều có thái độ tích
cực với công trình nghiên cứu của mình. Sinh viên không hứng thú với đề tài mình nghiên cứu
do không chọn được đề tài yêu thích hay gặp phải những khó khăn trong quá trình nghiên cứu
như có quá nhiều số liệu phải tìm, đề tài không có ý nghĩa thực tiễn hoặc sinh viên mới nghiên
cứu lần đầu nên không biết cách làm đề tài nghiên cứu... Những điều này ảnh hưởng đến chất
lượng đề tài của sinh viên, khiến cho sinh viên không muốn đầu tư cho đề tài của mình. Ngoài
ra, sinh viên vẫn chưa chủ động sắp xếp thời gian một cách tốt nhất để thực hiện đề tài dẫn đến
tình trạng phải gấp rút hoàn thành đề tài trong một thời gian ngắn. Kết quả khảo sát tại một số
trường cho thấy có đến 84,6% sinh viên không tích cực nghiên cứu ngay khi nhận được đề tài,
trong số đó có đến 16,8% sinh viên chỉ bắt đầu xử lý số liệu và tiến hành viết bản thảo khi đã
gần hết thời gian. Cũng theo kết quả khảo sát, có đến 27,2% sinh viên trong suốt quá trình
nghiên cứu chỉ gặp gỡ cán bộ hướng dẫn để trao đổi về đề tài dưới năm lần. Điều này phản ánh

hai chủ thể tham gia vào quá ưình nghiên cứu, vừa là hai nhân tố vô cùng quan trọng quyết định
chất lượng đề tài. Mối quan hệ giữa sinh viên và cán bộ hướng dẫn được đánh giá qua số lần
tiếp xúc giữa cán bộ hướng dẫn và sinh viên. Theo két quả điều tra xã hội học, trong suốt thời
gian nghiên cứu và thực hiện đề tài, số lần tiếp xúc giữa nhóm nghiên cứu và cán bộ hướng dẫn
được thống kê như sau: dưới 05 lần: 27,1%; từ 05 lần đén 10 lần: 36,4%; trên 10 lần: 36,5%.
Những con số này cho thấy sự trao đổi giữa sinh viên và cán bộ hướng dẫn chỉ ở mức trên trung
bình. Thậm chí có trường hợp từ khi được duyệt đề cương nghiên cứu, sinh viên không hề liên
lạc với cán bộ hướng dẫn cho đến khi hoàn thành đề tài (gần hết


25

thời gian quy định) mới in và nộp đề tài, khiến cán bộ hướng dẫn không thể góp ý, sửa chữa
được vì không còn đủ thời gian.

về phía cán bộ hướng dẫn, qua khảo sát có 33% sinh viên đánh giá nhiệt tình trong quá
trình làm việc; 53,5% sinh viên đánh giá bình thường; 13,5% sinh viên đánh giá chưa nhiệt tình.
Điều đó cho thấy vẫn còn một số cán bộ hướng dẫn chưa tận tâm với công việc được giao. Trên
thực tế, bên canh những cán bộ, giảng viên rất nhiệt tình với quá trình nghiên cứu của sinh viên
thì vẫn có những cán bộ, giảng viên không quan tâm đến đề cương nghiên cứu hoặc tiến độ
nghiên cứu của sinh viên. Đen khi sinh viên nộp đề tài xin ý kiến thì cán bộ, giảng viên điều
chỉnh cả cấu trúc đề tài lẫn bổ sung nội dung mới khiến nhiều nhóm sinh viên bị động, lúng
túng vì thời gian nghiên cứu không còn nhiều.
Có thể nói, để xây dựng được một đề tài chất lượng thì chỉ với bản thân sinh viên là
chưa đủ, mà sự giúp đỡ của cán bộ hướng dẫn cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Hầu hết
sinh viên đều ý thức được điều này và luôn tiếp thu sự hướng dẫn, chỉ bảo của cán bộ hướng
dẫn một cách nghiêm túc. Trong mối quan hệ giữa sinh viên và cán bộ hướng dẫn thì sinh viên
là người phụ thuộc. Do vậy, sự nhiệt tình của cán bộ hướng dẫn sẽ là một yếu tố tác động không
nhỏ đến kết quả nghiên cứu của sinh viên. Nếu phát huy tốt mối quan hệ giữa sinh viên và cán
bộ hướng dẫn thì hoạt động NCKH của sinh viên sẽ được nâng lên một tầm cao mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status