ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HÒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP.HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH Dự THI GIẢI THƯỞNG
“SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - EURÉKA”
LẦN THỨ 11 NĂM 2009
TÊN CÔNG TRÌNH:
NGUYỄN AN NINH VỚI PHONG TRÀO YÊU NƯỚC
VÀ CÁCH MẠNG Ở NAM KỲ (1922 - 1931)
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: LĨNH VỰC XÃ HỘI CHUYÊN
NGÀNH: LỊCH SỬ TÁC GIẢ: NGUYỄN THỊ LIÊN
-------------------------------------------------------------------
Mã số công trình ........................
MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH ................................................................................................... 1
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................... 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................................. 3
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của công trình ............................................................. 9
4. Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 9
5. Phuơng pháp nghiên cứu ................................................................................................... 10
6. Ý nghĩa thục tiễn và những đóng góp của đề tài ............................................................... 11
7. Két cấu của đề tài .............................................................................................................. 11
PHẦN NỘI DUNG
3.1 Vai trò của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nuớc ở Nam Kỳ .............................. 44
3.2 Những đóng góp của Nguyễn An Ninh trong quá trình vận động thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam ......................................................................................................... 51
KẾT LUẬN .............................................................................................................................. 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................... 57
PHỤ LỤC ............................................................................................................................... 61
1
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Đe tài ngoài phần Dần luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, có ba chuơng nội dung và phần Kết luận.
Dưới đây là nội dung cụ thể của từng phần:
Chương I: Nguồn gốc xuất thân và quá trình học tập giới thiệu nguồn gốc gia đình và
thời thơ ấu của Nguyễn An Ninh, làm rõ ảnh hưởng của những người thân đối với sự hình thành
chí hướng của ông. Quá trình học tập, rèn luyện của Nguyễn An Ninh từ tiểu học (1910) đến khi
tốt nghiệp đại học Sorbone (1922) ; hoạt động và những mối quan hệ của Nguyễn An Ninh trong
quá trình du học tại Pháp là nội dung trọng tâm của chương này.
Chương II: Hoạt động của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nước và cách mạng
ở Nam Kỳ (1922 - 1931) đi sâu tìm hiểu những hoạt động tiêu biểu của Nguyễn An Ninh trong
giai đoạn 1922 - 1931: thức tinh tinh thần yêu nước; hướng dẫn quần chúng đấu tranh; truyền bá
những tư tưởng tiến bộ; tập dượt đấu tranh cho quần chúng thông qua việc thành lập và lãnh đạo
tổ chức Thanh niên Cao vọng. Trong chương này, chúng tôi đưa ra một số ý kiến về một số vấn
đề sau:
1, Trong các sách, báo xuất bản trước đây, những hoạt động của Thanh niên Cao vọng
được đề cập rất ít, chủ yếu là việc tham gia tổ chức đám tang cho cụ Phan Châu Trinh. Trong
chương 2 của đề tài, chúng tôi phác họa rõ nét hơn về một số hoạt động khác của tổ chức này như:
tổ chức đám giỗ cho cụ Phan trong năm 1927 và 1928, cuộc vận động chống nộp thuế thân do
tài mới, hấp dẫn đối với nhiều chuyên ngành khác như văn học, triết học, báo chí...
Từ khi nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh hy sinh đến nay đã có không ít sách, báo
viết về ông. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề về nhân vật Nguyễn An Ninh còn đang
gây tranh luận trong giới sử học như: “tư tưởng Cộng sản của Nguyễn An Ninh” được hình thành
từ khi nào? năm 1929 Nguyễn An Ninh đã trao lực lượng của Thanh niên Cao vọng cho cụ Tú
Kiên, cho đồng chí Châu Văn Liêm hay cả hai? Nguyễn An Ninh có phải là người đưa ra sáng
kiến tổ chức Đông Dương Đại hội? Bên cạnh những vấn đề trên vẫn còn nhiều vấn đề, nhiều giai
đoạn trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn An Ninh cần được tiếp tục làm rõ như: hoạt động của
Nguyễn An Ninh trong những lần sang Pháp, trong những chuyến đi vận động thành lập tổ chức
Thanh niên Cao Vọng, những năm tháng cuối cùng của ông ở Côn Đảo... Hiện vẫn còn nhiều
nguồn tài liệu về Nguyễn An Ninh như: các tác phẩm báo chí của ông, tài liệu của mật thám và
chính quyền thực dân... vẫn chưa được nghiên cứu.
Đó là những lý do chính khiến tác giả quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học về
nhân vật lịch sử Nguyễn An Ninh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước trên các báo Tiếng Dội, Thần Chung có đăng một
số bài viết về Nguyễn An Ninh với nội dung ca ngợi công lao và những đóng góp của ông đối với
dân tộc. Trong thời kỳ này, một cuốn sách về Nguyễn An Ninh đã được xuất bản với tựa đề “Hội
kín Nguyễn An Ninh” của Lê Văn Thử do Nhà in Nam Việt ấn hành, với nội dung chủ yếu kể về
cuộc đời hoạt động của Nguyễn An Ninh. Trong thời kỳ đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai
miền, cuộc đời hoạt động và tư
4
tưởng của Nguyễn An Ninh tiếp tục được đề cập đến với những đánh giá rất khác nhau. Tại miền
Nam Việt Nam, đã xuất hiện một số tác phẩm viết về ông. về sách, tiêu biểu nhất là cuốn “Nhà
cách mạng Nguyễn An Ninh - thân thế và sự nghiệp'’'1 của tác giả Phương Lan. Cuốn sách nói về
nguồn gốc gia đình, kể lại những sự kiện chính trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn An Ninh và
cho đăng lại một số tác phẩm của ông. Trong những dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của Nguyễn
An Ninh, nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn như Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền, Điện Tín đã có
5
Năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới về tư duy,
nhận thức được xem là yếu tố tiên phong. Quan điểm đánh giá về một số nhân vật lịch sử giai
đoạn trước Cách mạng tháng Tám do đó cũng trở nên rộng mở hơn, bớt định kiến, cứng nhắc.
Những vấn đề về cuộc đời hoạt động, về tư tưởng, về những đóng góp của Nguyễn An Ninh được
đưa ra thảo luận công khai dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
Năm 1987 nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám thành công, Bảo tàng cách mạng thành
phố Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo về Nguyễn An Ninh do ban Tuyên huấn Thành uỷ thành
phố Hồ Chí Minh chủ trì. Cuộc hội thảo lần thứ nhất này đã công khai hai quan điểm đánh giá về
Nguyễn An Ninh. Quan điểm thứ nhất cho rằng Nguyễn An Ninh là nhà yêu nước lớn của Nam
Kỳ, được đồng bào tôn vinh, nhưng vẫn đánh giá Nguyễn An Ninh là người theo chủ nghĩa quốc
gia cải lương. Quan điểm thứ hai đòi hỏi cần phải nhìn nhận lại những đánh giá về nhân vật
Nguyễn An Ninh. Ông Dương Đình Thảo là người đầu tiên nêu lên quan điểm này. Giáo sư Trần
Văn Giàu cũng ủng hộ ý kiến của ông Thảo và phát biểu đại ý: tự bản thân Nguyễn An Ninh đã
đẹp, không cần chứng ta phải tô điểm gì thêm, chỉ cần chứng ta nghiên cứu và đánh giá một cách
khách quan, nghiêm túc. Hầu hết những vị lão thành cách mạng tham dự Hội thảo đều ủng hộ
quan điểm thứ hai.
Năm 1988, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành cuốn sách “Nguyễn An
Ninh”. Cuốn sách tập hợp nhiều tham luận đã được trình bày trong Hội thảo lần thứ nhất và một
số bài viết về cuộc đời hoạt động của Nguyễn An Ninh qua hồi ức của những người sống cùng
thời với ông như Hà Huy Giáp, Trần Vãn Giàu, Phan Văn Voi, Nguyễn Thị Một, Trương Thị Be,
Mai Huỳnh Hoa, Thanh Minh... Những bài viết và tham luận được trình bày trong cuốn sách đã
cung cấp nhiều tư liệu quí về cuộc đời hoạt động, về quan điểm của Nguyễn An Ninh thể hiện
qua tác phẩm Tôn giáo, về tổ chức Thanh Niên Cao Vọng do ông sáng lập và trực tiếp lãnh đạo...
Trong suốt ba năm sau khi Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức, trên các báo và tạp chí
chuyên ngành không xuất hiện bài nghiên cứu nào về Nguyễn An Ninh. Đến ngày 19/9/1990 trên
báo Nhân Dân có đãng bài của ông Tràn Bạch Đằng. Trong bài viết này, ông Trần Bạch Đằng
nhấn manh: “Cần nói thẳng rằng trong hệ thống nghiên cứu giai đoạn lịch sử Việt Nam cận đại
của các cơ quan khoa học và giáo dục nước ta,
Báo Nhân dân số ra ngày 19/9/1990.
Phất biểu của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng do xưởng phim tư liệu thành phố Hồ Chí
Minh ghi lại ngày 30/7/1993.
1
2
7
Nguyễn Vãn Linh cũng đưa ra nhận định: “Nguyễn An Ninh là nhà yêu nước vĩ đại, là một trí thức
tầm cỡ1”.
Ke từ năm 1993, được sự động viên của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cố Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh, những thành viên trong gia đình Nguyễn An Ninh đã sưu tầm và biên dịch
nhiều tác phẩm cũng như những tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của ông. Vĩ vậy, kể từ
nửa cuối thập niên 90 đến nay, nguồn tư liệu về Nguyễn An Ninh được công bố nhiều hơn, rộng
rãi hơn. Trong đó phải kể đến ba cuốn sách sau:
Cuốn thứ nhất là: “Nguyễn An Ninh” của tác giả Nguyễn An Tịnh - con trai ông Nguyễn
An Ninh - do nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1996. Cuốn sách đã tóm lược những nét chính trong
cuộc đời hoạt động, đưa ra một số thông tin mới liên quan đến quan điểm đấu tranh, những mối
quan hệ của Nguyễn An Ninh với Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Cộng sản Pháp.... Phần
nội dung chính của cuốn sách là bản dịch một số tác phẩm của Nguyễn An Ninh bao gồm các bài
báo trên tờ La cloche fêlée, L’Annam, Dân Chúng, Đuốc Nhà Nam..., đãng lại hai bài diễn thuyết
“Chung đúc nền học thức cho dân An Nam” và “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam”', tuồng
hát “Hai Bà Trưng”', những cuốn sách tiêu biểu của ông bao gồm: Nước Pháp ở Đông Dương,
Tôn giáo, Phê bình Phật giáo.
Cuốn sách thứ hai là “Nguyễn An Ninh: "Tôi chỉ làm cơn gió thổi”” của bà Nguyễn Thị
Nguyệt Minh - con gái Nguyễn An Ninh - do nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2001. Cuốn sách đã
kể lại chi tiết về toàn bộ cuộc đời: từ nguồn gốc gia đình, thời niên thiếu, quá trình đi học đến
những hoạt động sôi nổi của Nguyễn An Ninh từ năm 1922 đến khi ông mất. Cuốn sách đã gợi
mở nhiều vấn đề rất thú vị về cuộc đời hoạt động của ông như mối quan hệ với những nhân vật
tiến bộ của tờ La cloche fêlée, đánh giá tác động của tờ báo đối với nhân dân Nam Kỳ thời bấy
giờ, đánh giá ý nghĩa của tờ báo trên nhiều phương diện...Đây là đề tài về lịch sử báo chí nhưng
cũng cung cấp một số tư liệu quí giá cho quá trình nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng của Nguyễn
An Ninh dưới góc độ lịch sử.
Bên cạnh những sách, báo và tham luận kể trên còn có một số bài viết, hồi ký đáng chú ý
về Nguyễn An Ninh hiện đang được lưu giữ tại Nhà tưởng niệm trên đường Nguyễn Anh Thủ,
phường Trung Mỹ Tây, quận 12 và Nhà thờ gia tộc Nguyễn An Ninh. Tất cả những tham luận,
bài viết và phát biểu kể trên cùng với những sách, báo viết về Nguyễn An Ninh là nguồn tư liệu
quí giá, và là một trong những cơ sở quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài này.
Nhìn chung cho đến nay, các nhà nghiên cứu sử học nước ta đều đánh giá cao những cống
hiến to lớn của Nguyễn An Ninh đối với lịch sử dân tộc. Dưới góc độ lịch sử, hiện vẫn đang tồn
tại nhiều vấn đề cần được tiếp tục thảo luận kỹ lưỡng hơn; còn tồn tại nhiều “khoảng trống” tri
thức về nhân vật lịch sử này. Trong đó nổi bật là
9
những vấn đề sau: Nguyễn An Ninh đến với chủ nghĩa Marx - Lénine từ khi nào? Hoạt động của
Nguyễn An Ninh trong những lần sang Pháp? về tổ chức Thanh niên Cao vọng: đây là một đảng
phái, tổ chức chính trị, hay một tổ chức quần chúng yêu nước? Mục đích thành lập, những hoạt
động tiêu biểu, vai trò lịch sử của tổ chức này? Khi bị giam trong Khám Lớn từ năm 1929-1931,
Nguyễn An Ninh đã giới thiệu lực lượng của Thanh niên Cao vọng cho cụ Tú Kiên hay cho Châu
Văn Liêm? Quan điểm, thái độ của Nguyễn An Ninh đối với những người Trốtkit? Vì sao Nguyễn
An Ninh đứng trên lập trường của chủ nghĩa Marx - Lénine nhưng ông không gia nhập Đảng Cộng
sản Đông Dương? Vai trò của Nguyễn An Ninh trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam? Hoạt động của Nguyễn An Ninh trong năm lần bị bắt giam đặc biệt là những ngày
ông bị giam cầm tại nhà tù Côn Đảo
3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của công trình
Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này, tác giả hướng đến thực hiện hai nhiệm vụ chủ
yếu. Thứ nhất: đi sâu tìm hiểu cuộc đời hoạt động và các tác phẩm của Nguyễn An Ninh được viết
trong giai đoạn 1922-1931. Thứ hai: đánh giá vai trò, vị trí và những cống hiến lớn lao của Nguyễn
và trao đổi với bà Nguyễn Thị Nguyệt Minh - con gái nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh (bút
danh của bà là Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Nguyệt Minh, Nguyễn An) để được cung cấp thêm
thông tin về cuộc đời hoạt động và các tác phẩm của ông Ninh.
6. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của công trình
Công ưình này đóng góp một số ý kiến góp phần thảo luận và giải quyết một số vấn đề
liên quan đến nhân vật lịch sử Nguyễn An Ninh mà giới nghiên cứu lịch sử hiện vẫn chưa đi đến
thống nhất. Công trình cũng góp phần giới thiệu và lưu giữ bản dịch một số tác phẩm của Nguyễn
An Ninh trước đây chưa từng được công bố. Công trình nghiên cứu khoa học này là nguồn tài liệu
tham khảo cho những người quan tâm đến nhân vật lịch sử Nguyễn An Ninh, cung cấp một số tài
liệu tham khảo cho quá trình giảng dạy một số vấn đề lịch sử Việt Nam thời cận đại.
7. Kết cấu của đề tài
Đồ tài này ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục còn bao gồm ba
chương:
Chương I: Nguồn gốc xuất thân và quá trình học tập
Chương II: Hoạt động của Nguyễn An Ninh ưong phong trào yêu nước và cách mạng ở
Nam Kỳ (1922-1931)
Chương
ni: Vai trò của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nước và cách mạng ở
Nam Kỳ (1922- 1931)
11
CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC XUẤT THÂN VÀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1.1. Nguồn gốc xuất thân.
Nguyễn An Ninh sinh ngày 15/9/1900 tại quê ngoại là làng Long Thuợng, tổng Phước
Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Long Thượng huyện cần Giuộc tỉnh Long An). Ông là con
Ngoài ra cả hai ông bà đều hoạt động rất tích cực trong phong trào Minh Tân tức phong
trào Duy tân tại Nam Kỳ. Với việc mở Chiêu Nam Lầu, ông Khương là người Việt đầu tiên tại
Nam Kỳ đi tiên phong trong lĩnh vực kinh doanh tiệm bán cơm. Ông cũng kêu gọi đồng bào bỏ
vốn mở thêm nhiều tiệm cơm như Chiêu Nam Lầu để cùng nhau buôn bán nhằm phát triển nền
thương nghiệp của người Việt hiện đang còn quá nhỏ bé so với của Hoa kiều.
Ông Khương gặp và kết thân với Gilbert Trần Chánh Chiếu tại Chiêu Nam Lầu. Hai ông
đã hợp tác với nhau cùng cho ra tờ Nông cổ mín đàm1 và Lục tỉnh Tân văn (tờ báo ra đời năm
1908, do Nguyễn An Khương làm chủ sự) là hai tờ báo có xu hướng tiến bộ thời bấy giờ. Hai ông
còn kêu gọi mọi người hùn vốn lập một nhà in riêng của người Việt để phục vụ cho công cuộc mở
mang dân trí.
Ngoài việc kinh doanh giỏi, ông Khương còn là người tinh thông Nho học, từng dạy và
soạn sách giáo khoa chữ quốc ngữ. Ông đã dịch nhiều tác phẩm Trung Quốc ra chữ quốc ngữ như:
Tam quốc diễn nghĩa, Nhạc Phi diễn nghĩa, Ngũ hổ bình Tây, Vạn huê lầu diễn nghĩa....vốn Nho
học mà Nguyễn An Ninh có được một phần chính là nhờ sự truyền dạy của cha. Ông Khương còn
được cha mình truyền dạy những bí quyết gia truyền về y thuật, vì vậy ông còn là một lương y
giỏi, nhất là trong lĩnh vực chữa trị những căn bệnh về bại liệt.
Ông Nguyễn An Khương và bà Nguyễn Thị Xuyên đều là những người tài giỏi, giàu lòng
yêu nước, tiêu biểu cho tinh thần “trọng nghĩa khinh tài” của người dân Nam bộ. Việc tham gia
tích cực vào các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Minh Tân chứng tỏ ông bà đều là
những người có tư tưởng tiến bộ. Hai người đã trực tiếp nuôi dạy Nguyễn An Ninh khôn lớn, vì
vậy tinh thần yêu nước và tiến bộ của họ có ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn An Ninh. Ông Khương
và bà Xuyên là nguồn cổ vũ,
Nông cổ min đàm ra đời năm 1901 là tờ báo đầu tiên về nông nghiệp ờ Nam kỳ, nghĩa nôm của tờ báo
là: uống trà nói chuyện nghề nông.Ngoài ra báo còn đăng một số truyện dài, truyện ngắn, thi phổ tức là
những sáng tác thơ văn mới, sưu tầm văn học dân gian, dịch truyện Tàu ra chữ quốc ngữ, tổ chức cuộc
thi truyện ngắn đầu tiên trong lịch sù văn học Việt Nam.
1
1
Nguyễn Thị Minh, sđd, trang 26.
14
thuộc Thánh kinh và lễ đạo. Nhờ thông minh, chăm chỉ nên môn tiếng Pháp Nguyễn An Ninh học
rất giỏi, lại thuộc lòng nhiều đoạn trong kinh Thánh. Nguyễn An Ninh còn nhỏ nhưng rất ham đọc
sách nhất là những sách về Phật Thích Ca. Ở trường học về chúa Jésu, về nhà lại say mê đọc thêm
sách về đạo Phật nên ngay từ thời niên thiếu Nguyễn An Ninh đã tích lũy được khá nhiều kiến
thức về hai tôn giáo này.
Học xong tiểu học, Nguyễn An Ninh thi đậu Certificat và được nhận vào học ở trường
trung học Chasseloup Laubat. Nguyễn An Ninh chăm học, thông minh nên được lĩnh học bổng
thường xuyên. Năm 1916 Nguyễn An Ninh tốt nghiệp trung học loại ưu, được đặc cách tuyển
thẳng vào trường Cao đẳng Đông Dương mà không cần có bằng tú tài. Ban đầu Nguyễn An Ninh
xin vào học ngành y, sáu tháng sau quyết định chuyển sang học luật. Trong quá trình học ở trường
này, ngoài chương trình học dành cho sinh viên năm thứ I, Nguyễn An Ninh còn mượn thêm sách
vở của các anh chị lớp trên để tìm hiểu và nhận thấy: nội dung các sách và toàn bộ chương trình
học chỉ nhằm đào tạo ra những người có vốn hiểu biết ít ỏi về pháp luật mà chủ yếu là luật cai trị
của Pháp, không thể trở thành trạng sư giỏi để có thể giúp đồng bào mình. Vĩ thế, sau một năm
theo học, Nguyễn An Ninh quyết định thôi học. Nhân kỳ nghỉ hè, Nguyễn An Ninh xin phép về
quê thăm gia đình nhưng thực chất là để xin cha sang Pháp du học.
Thời gian này chính quyền thuộc địa chủ trương hạn chế đến mức tối đa việc thanh niên
Việt Nam đi du học kể cả du học tại Pháp để ngăn cản họ tiếp xúc với những luồng tư tưởng tiến
bộ, nhằm thực hiện triệt để chính sách “ngu dân”. Vĩ chính quyền hạn chế người bản xứ đi du học,
thêm vào đó gia đình Nguyễn An Ninh lại bị đưa vào diện tình nghi do từng tham gia tích cực
trong phong trào Đông Du, Duy Tân nên Nguyễn An Ninh không thể sang Pháp bằng con đường
công khai. Do đó, ông Khương phải nhờ ông Huỳnh Tấn Kiệt1 đưa Nguyễn An Ninh lên tàu
Amiral Nielly, nhờ các thủy thủ cho ở tạm trên boong tàu.
xuyên lui tới nhà số 6 Villa des Gobelins. Tại đây Nguyễn An Ninh có dịp gặp gỡ và trò chuyện
cùng cụ Phan Châu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành mới đến Pháp năm 1919
và có gặp cả Nguyễn Thế Truyền lúc này đang theo học kỹ sư Hoá học ở Toulouse, chỉ thỉnh
thoảng mới ghé qua Paris. Cụ Phan Châu Trinh vốn là bạn thân của cụ Nguyễn An Khương nên
khi Nguyễn An Ninh sang Pháp cụ Khương đã viết thư gửi gắm con trai cho cụ Trinh. Ông Phan
Vãn Trường là một luật sư giỏi, là giáo sư giảng dạy ở nhiều trường đại học Pháp và một số nước.
Vì theo học ngành luật nên Nguyễn An Ninh đã nhiều lần đến gặp ông đặc biệt là trong thời gian
chuẩn bị thi Cử nhân. Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành đã quen biết nhau từ trước. Khi cụ
Nguyễn Sinh sắc bị bãi quan ở Bình Định, lưu lạc vào Nam có thời gian tá túc tại Chiêu Nam Lầu
và được cụ Khương giúp đỡ. Nguyễn Tất Thành đã từng
16
tới Chiêu Nam Lầu thăm cha và có gặp Nguyễn An Ninh1. Năm 1919 khi Nguyễn Tất Thành tới
sống cùng cụ Phan và ông Trường tại nhà số 6 Villa des Gobelins Nguyễn An Ninh và Nguyễn
Tất Thành mới gặp lại nhau. Lúc này “bác Quốc luôn bị mật thám bám chặt nên bác hay nhờ ba
tôi làm liên lạc giùm bác, dần dần tình cảm giữa ba tôi và bác Quốc càng nhiều hơn” 2. Thời kỳ
Nguyễn An Ninh đang chuyên tâm học luật cũng là lúc giữa cụ Phan, ồng Trường và Nguyễn Tất
Thành thường xảy ra những cuộc tranh luận gay gắt về con đường cứu nước nhưng cuối cùng vẫn
rơi vào bế tắc. Cuộc tranh luận về con đường cứu nước của ba người có tác động mạnh đến suy
nghĩ và chí hướng của chàng sinh viên trẻ tuổi Nguyễn An Ninh. Bản thân Nguyễn An Ninh thời
kỳ này vẫn chưa xác định được con đường giải phóng dân tộc. Ở Nguyễn An Ninh mới chỉ hình
thành ý tưởng sẽ về nước hoạt động ngay trên quê hương mình.
Trong quá trình theo học ở đại học Sorbone, Nguyễn An Ninh học giỏi và được nhiều
giảng viên quí mến. Trong số đó có giáo sư Marcel Cachin3. Giáo sư là người trực tiếp hướng dẫn
Nguyễn An Ninh thực hiện các luận văn chuẩn bị cho luận án Tiến sĩ. Chính giáo sư đã dẫn
Nguyễn An Ninh tới các câu lạc bộ nơi gặp gỡ của các văn hào, trí thức, nhà cách mạng nổi tiếng
như: Paul Vaillant Couturier4, Andrée Viollis Léon Werth5, Romain Rolland, Jacques Duclos,
Maurice Thorez... Mối quan hệ rộng rãi với giới trí thức và những đảng viên Đảng Cộng sản Pháp
đã giúp Nguyễn An Ninh tạo được sự hậu thuẫn ngay trong lòng nước Pháp. Trong suốt quá trình
sang Pháp thứ hai này Nguyễn An Ninh không chỉ lo chuẩn bị tài liệu phục vụ cho việc làm luận
án Tiến sĩ mà còn tham gia rất tích cực trong phong ưào yêu nước của kiều bào Việt Nam tại Pháp.
Năm 1920 là năm đánh dấu bước ngoặt trong quá trình đi tìm con đường cứu nước của Nguyễn
Ái Quốc khi Người đi từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Marx - Lénine. Đối
với Nguyễn An Ninh, năm 1920 cũng là một mốc quan trọng trong suốt cuộc đời hoạt động sôi
nổi của ông. Sự kiện ông Phan Vãn Trường - một người mà Nguyễn An Ninh rất kính trọng - đã
từng nghiên cứu chủ nghĩa Marx - Lénine từ rất sớm nhưng không gia nhập Đảng Cộng sản Pháp
và cũng thôi không tham gia vào Đảng Xã hội; trong khi người bạn Nguyễn Ái Quốc lại bỏ phiếu
tán thành Quốc tế m, quyết định đi theo chủ nghĩa Marx - Lénini đã tác động rất nhiều đến suy
nghĩ của Nguyễn An Ninh. Bắt đầu từ đây Nguyễn An Ninh tìm mua sách báo về chủ nghĩa Marx
- Lénine gửi về nước theo đường dây bí mật của thuỷ thủ. Ông Paul Vaillant Couturier có ý định
giới thiệu Nguyễn An Ninh gia nhập Đảng Cộng sản Pháp nhưng ông từ chối.
Những hoạt động sồi nổi của kiều bào ta tại Pháp đã lôi cuốn tâm trí Nguyễn An Ninh. Vỉ
vậy mặc dù luận án đã được chuẩn bị xong nhưng Nguyễn An Ninh không thi để lấy bằng (để sau
này có cớ xin sang Pháp). Năm 1921 và 1922 Nguyễn An Ninh gia nhập Hội người Việt Nam yêu
nước, Hội liên minh nhân quyền và Hội liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Nguyễn
An Ninh tham gia viết bài cho báo La Tribune Annamite, Le Libertaire 1, tham gia viết bài và sửa
bài cho tờ Le Paria do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Trong thời gian này Nguyễn
An Ninh còn xin vào làm không công cho một số nhà in để học xếp chữ và học in, vào rừng ven
Paris để tập diễn thuyết. Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1922 Nguyễn An Ninh đi tham quan một số
quốc gia châu Âu: Đức, Ý, Áo, Thụy Sĩ, Hà Lan, Bỉ để tìm hiểu cuộc sống của người dân, tìm
hiểu tổ chức chính quyền và chế độ cai trị của những quốc gia này.
'Nguyễn Thị Minh, sđd, trang 53.
18
Truyền thống yêu nước của gia đình đã tác động sâu sắc đến sự hình thành chí hướng của
Nguyễn An Ninh thời niên thiếu. Trong 4 năm từ 1918-1922, được tiếp xúc với những nhà yêu
nước lớn, dấn thân vào thực tế phong trào đấu tranh của kiều bào đã giúp Nguyễn An Ninh từng
đấu tranh của quần chúng thực dân Anh buộc phải nhượng bộ. Nhưng sau đó họ nhanh chóng trở
mặt: huỷ bỏ tất cả những quyền tự do, dân chủ đã ban hành, bắt giam Gandhi, đàn áp phong trào
đấu tranh của quần chúng.
Năm 1921 Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập. Trước họa ngoại xâm của đế quốc
Nhật, Tôn Trung Sơn đưa ra chủ trương hợp tác với Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc dân đảng, phong trào đấu tranh của nhân
dân Trung Quốc tiếp tục phát triển manh mẽ. Năm 1924 Công xã Quảng Châu được thành lập.
Nhưng sau đó không lâu, Tưởng Giới Thạch phản bội, quay ra đàn áp Công xã. Sự kiện này là
một minh chứng về tính chất hai mặt của giai cấp tư sản trong đấu tranh.
2.1.2 Bối cảnh trong nước
Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ hai tại Đông Dương: tăng cường vơ vét tài
20
nguyên, bóc lột nhân công, tăng cường đầu tư vốn vào lĩnh vực nông nghiệp, khai mỏ, công nghiệp
chế biến...Dưới tác động của cuộc khai thác, đời sống nhân dân Việt Nam càng thêm điêu đứng,
khổ cực. Xã hội Việt Nam tiếp tục phân hoá sâu sắc. Giai cấp nông dân tiếp tục bị bần cùng hóa.
Nhiều người trở thành tá điền làm thuê, một bộ phận trở thành công nhân trong các đồn điền cao
su, hầm mỏ, nhà máy. Giai cấp địa chủ tiếp tục bị phân hóa. Đa số đại địa chủ có quyền lợi gắn
chặt với đế quốc, trung thành với chính quyền thuộc địa. Một bộ phận khác mà chủ yếu là địa chủ
loại vừa và nhỏ vẫn tham gia trong các phong trào yêu nước. Thời gian chiến tranh thế giới lần
thứ nhất diễn ra là “cơ hội vàng” để tư sản người Việt mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh,
số lượng và thế lực của họ tăng lên nhanh chóng. Những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc,
giai cấp tư sản Việt Nam đã hình thành. Tuy nhiên thế lực của họ còn quá nhỏ bé so với tư sản
Pháp. Sự yếu kém về kinh tế là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thái độ bạc
nhược về chính trị nói chung của giai cấp này. Trong quá trình đấu tranh, lực lượng của giai cấp
tư sản bị phân hóa rõ rệt thành hai bộ phận: một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn bó mật
thiết với thực dân, tuyên bố trung thành với chính quyền thuộc địa và là cơ sở xã hội của chủ nghĩa
cải lương. Bộ phận còn lại có mâu thuẫn với thực dân, có tinh thần dân tộc nhưng tỏ thái độ hai
ở thành thị tin tưởng vào lời hứa cải cách của chính quyền thực dân, tin tưởng vào khả năng sẽ có
ngày người Pháp trả lại tự do cho Đông Dương hoặc ban hành những cải cách dân chủ.
Nam Kỳ là đất thuộc địa của Pháp, không còn quan hệ phụ thuộc với Nam triều. Tại vùng
đất này, qui định của thực dân Pháp có phần nới lỏng hơn: cá nhân được quyền tự do diễn thuyết
với điều kiện nội dung bài diễn thuyết không được xúi giục dân chúng chống lại nhà cầm quyền.
Các báo bằng tiếng Việt bị kiểm duyệt rất gắt gao, nhưng báo viết bằng tiếng Pháp thì được tự do.
Người Việt cũng có thể ra báo bằng Pháp ngữ miễn là có một người quốc tịch Pháp đứng tên làm
chủ bút. Dân chúng được quyền hội họp dưới 20 người mà không cần xin phép...Đó là những điều
kiện thuận lợi để hoạt động công khai mà vẫn gây được ảnh hưởng rộng lớn trong dân chúng.
2.2. Những hoạt động tiêu biểu của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nước và
cách mạng ở Nam Kỳ giai đoạn 1922-1931.
Trở về nước, Nguyễn An Ninh đem theo hai hình thức đấu tranh mới là: ra báo đối lập và
diễn thuyết. Ngày 10/12/1923 Nguyễn An Ninh cho ra đời tờ La cloche fêlée mà đồng bào Nam
Kỳ thường gọi là Tiếng Chuông Rè. Nguyễn An Ninh là người sáng lập, là chủ nhiệm kiêm chủ
bút, tự viết bài, sửa bài. Sau khi báo ra được mấy số đầu, nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách làm
khó dễ cho tờ báo: đe dọa nhà in và các sạp báo, ra lệnh cấm học sinh, công chức không được đọc
báo. Nguyễn An Ninh phải tự đảm nhận cả công việc sắp chữ, in và tự đem báo đi bán. Sau đó vì
thiếu
22
nguồn tài chính nên ngày 14/7/1924 báo phải tự đình bản sau khi ra được 19 số. Một thời gian sau
Nguyễn An Ninh sang Pháp đón cụ Phan Châu Trinh về nước. Đen ngày 26/11/1925 tờ La cloche
fêlée được tục bản với số lượng phát hành lớn hơn (5000 bản) do luật sư Phan Vãn Trường làm
chủ nhiệm chính trị. Nội dung đấu tranh của tờ báo rất phong phú. Tờ báo còn đăng lại toàn bộ
tác phẩm “Nước Pháp ở Đông Dương”1. Đến ngày 3/5/1926, tờ La cloche fêlée đổi tên thành
L’Annam. Trong đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp bộ “La cloche fêlée một thời vang
bóng” tác giả Phạm Thúy An đã chứng minh L’Ann am là của Nguyễn An Ninh, không phải của
Phan Văn Trường như nhiều người vẫn lầm tưởng.
Thời kỳ đầu, Nguyễn An Ninh chủ yếu diễn thuyết ở đô thị. Đối tượng diễn thuyết mà ông