Lời cảm ơn
Lời đầu tiên cho phép tôi đợc trân trọng nói lời cảm ơn chân thành của
mình tới thầy giáo Hồ Sĩ Hùy - Ngời đã hớng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn
thành đợc khoá luận. Cho tôi đợc gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo trong khoa
Lịch sử trờng Đại học Vinh, các phòng ban chức năng, trung tâm th viện Đại
học Vinh, Trung tâm th viện tỉnh Thanh Hoá đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khoá luận. Đồng thời tôi cũng xin đựơc
bày tỏ lời cảm ơn của mình tới gia đình, bạn bè, đã động viên tôi trong thời
gian qua..
Khoá luận tốt nghiệp là công trình khoa học đầu tiên, là bớc đi chập
chững trên con đờng nghiên cứu khoa học bởi vậy nên khoá luận không thể
tránh khỏi những sai lầm thiếu sót. Tôi rất mong đợc đợc sự quan tâm chỉ
bảo, góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè, ngời thân để tôi có kinh nghiệm
hơn nữa trên bớc đờng nghiên cứu khoa học của mình.
Tác giả
Nguyễn Thị Lý
1
mục lục
Trang
Mở đầu ................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................3
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................5
4. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu ............................................6
5. Bố cục của luận văn ...........................................................................6
Nội dung ..............................................................................................................7
Chơng 1. Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá tác động đến việc
hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng của trí thức Thanh Hoá
3.3.1. Sự hoạt động của các tổ chức cách mạng tiền thân của
Đảng ở Thanh Hóa ....................................................................53
3.3.2. Quá trình thành lập Đảng bộ cộng sản ở Thanh Hóa .....59
Kết luận ...............................................................................................62
Tài liệu tham khảo .............................................................................65
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
3
1.1. Trí thức là một vấn đề có ý nghĩa to lớn cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trí thức là vấn đề phức tạp đã
từng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà chính trị, nhiều nhà khoa
học. Hồ Chí Minh xem trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, sự hng thịnh
của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào vai trò và thái độ của trí thức đối với
xã hội. Theo tiếng La Tinh, thuật ngữ trí thức đựơc viết là Intelli gen tia đợc
dùng để chỉ những ngời có hiểu biết, có trí thức bao gồm những ngời chuyên
lao động trí óc.
Những trí thức Việt Nam xuất hiện trong lịch sử nh ngời đại biểu chân
chính về t tởng và văn hoá, về tài năng và trí tuệ của dân tộc. Từ buổi bình
minh của xã hội ta, những thành tựu huy hoàng của thời đại Hùng Vơng đã
minh chứng cho sự phong phú của trí tuệ Việt Nam. Năm 1075 khoa thi Nho
học đầu tiên của nớc ta đợc tổ chức ở Thăng Long dới triều đại nhà Lý đã mở
đầu cho sự nghiệp giáo dục Nho học ở nớc ta, nền giáo dục đó kéo dài tận đến
năm 1919 dới triều Nguyễn mới kết thúc, trong suốt chiều dài lịch sử đó nó đã
tạo nên một đội ngũ quan lại trí thức Nho học đông đảo đảm nhiệm chức vụ
của bộ máy chính quyền mà tên tuổi của họ đời đời đợc lu danh sổ sách để
làm gơng cho thế hệ sau, trong đó phải kể đến các nhân vật tiêu biểu nh
Khi nền giáo dục Nho học lỗi thời, khi trí thức Nho học mất dần vai trò
của mình thì Thanh Hoá lại xuất hiện tầng lớp trí thức Tân học đứng ra tiếp
nhận xu hớng phát triển mới của thời đại một cách mau lẹ, thức thời nh Lê
Hữu Lập, Đinh Chơng Dơng.. .
Điều đó để thấy đợc rằng trí thức Việt Nam nói chung, Thanh Hoá nói
riêng có vai trò to lớn đối với sự lớn mạnh của đất nớc, ngày nay với xu thế
hội nhập toàn cầu thì trí thức là nhân tố không thể thiếu trong đờng lối chính
sách của mỗi quốc gia. Vai trò của trí thức đối với lịch sử đợc thể hiện ở mọi
lĩnh vực mà trớc hết họ là lực luợng góp phần xây dựng nền văn hiến vẻ vang
lâu đời của dân tộc ta.
5
1.3. Là ngời con sinh ra, lớn lên trên mảnh đất Thanh Hoá anh hùng và
cũng là một trí thức tôi nhận thấy đuợc vai trò quan trọng của trí thức Thanh
Hoá trong chiều dài lịch sử dân tộc. Tôi muốn góp công sức của mình vào việc
tìm hiểu sự đóng góp của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và
cách mạng từ năm 1858 đến năm 1930 - Một giai đoạn lịch sử đầy kỳ tích bao
gồm cả trí thức Nho học và trí thức Tân học, nó đang thu hút công sức của
nhiều nhà khoa học, nhiều đề tài tập trung nghiên cứu nhng cha có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về sự đóng góp của trí thức
Thanh Hoá trong giai đoạn lịch sử này.
Học tập và nghiên cứu lịch sử địa phơng luôn có vị trí, ý nghĩa quan
trọng trong lịch sử dân tộc vì nó thể hiện mối quan hệ giữa lịch sử địa phơng
và và lịch sử dân tộc, nghiên cứu lịch sử địa phơng sẽ góp phần hiểu biết hơn
nữa về lịch sử dân tộc. Ngoài ra nghiên cứu đề tài này còn góp phần bổ sung
nguồn t liệu cho việc nghiên cứu lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống yêu
nớc, lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hơng đất nớc cho nhân dân nhất là thế
hệ trẻ trong thời đại ngày nay. ở một góc độ nào đó, đề tài này còn góp phần
Nhu... đăng trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, trong các kỷ yếu hội thảo khoa
học.
Trong quá trình đó, ban nghiên cứu lịch sử tỉnh Thanh Hoá cũng cho ra
đời nhiều tác phẩm đề cập đến vai trò của trí thức nh. Đất và ngời xứ Thanh
xuất bản năm 2002. Địa chí Thanh Hoá 1999. Niên biểu lịch sử Thanh Hoá
1998. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá 2000. Khởi nghĩa và phong trào yêu
nớc chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX 1992.
Ngoài ra dới góc độ nhân vật lịch sử còn có các công trình nh:
Cầm Bá Thớc của Lê Trung Hoàn, NXB văn hoá 1981.
Đinh Công Tráng của Đoàn Tùng và nhiều tác phẩm khác nữa. Với
nội dung khoa học có chọn lọc, các tác giả phần nào đã phác hoạ đợc vai trò
của trí thức Thanh Hoá đối với sự phát triển của đất nớc.
7
Ngoài ra còn có những luận văn tốt nghiệp sinh viên nghành sử, tập san
của khoa sử một số trờng đại học, các tác phẩm văn học có liên quan đến vai
trò của trí thức.
Nhìn chung các công trình trên đã đánh giá rất cao trí thức Thanh Hoá,
có tình thần yêu nớc, tinh thần dân tộc sâu đậm, luôn gắn bó với sự nghiệp giữ
gìn nền độc lập của quốc gia, sự thống nhất của đất nớc. Trí thức Thanh Hoá
luôn trăn trở trớc vận mệnh của dân tộc. Tuy nhiên hầu hết các công trình trên
chỉ tập trung đánh giá một cách tổng quát chung chung về trí thức Thanh Hoá
mà cha có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về vai trò
của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và cách mạng từ 1858 - 1930
và nhiều vấn đề lịch sử trong giai đoạn này vẫn cha đợc làm sáng tỏ, cha rút ra
đợc vai trò của trí thức Thanh Hoá trong giai đoạn này. Với đề tài này tôi
mong muốn có thể lập đợc khoảng trống đó.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
phơng pháp nghiên cứu truyền thống quan trọng là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lô gíc để mở rộng nhiều tài liệu sự kịên lịch sử với mục đích là khôi
phục lại bức tranh qua khứ đúng nh nó đã tồn tại. Sau cùng là tổng hợp, khái
quát đa ra những đánh giá chung nhất.
5. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung của đề tài đợc trình bày
trong ba chơng.
Chơng 1. Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử văn hoá tác động đến việc
hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng của trí thức Thanh Hoá.
Chơng 2. Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc chống Pháp nửa
sau thế kỷ XIX.
Chơng 3. Trí thức Thanh Hóa trong phong trào yêu nớc và cách mạng
30 năm đầu thế kỷ XX.
9
Phần nội dung.
Chơng 1.
Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá tác động
đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và
cách mạng của trí thức Thanh Hoá từ 1858 - 1930.
Ngay từ buổi đầu dựng nớc của lịch sử dân tộc, tuy tồn tại dới nhiều tên
gọi khác nhau nhng Thanh Hoá đã đóng vai trò quan trọng, có vị trí chiến lợc
trong tiến trình của lịch sử dân tộc. Thanh Hoá là tỉnh địa đầu miền Trung, là
vùng đất Địa linh nhân kiệt nh những địa danh thân thuộc khác với chiều
dài và bề dày lịch sử chung của cả nớc, với truyền thống văn hoá Núi Đọ, Đa
Bút, Hoa Lộc, Đông Sơn.. . với truyền thống yêu nớc đấu tranh kiên cờng bất
khuất, lao động học tập cần cù thông minh sáng tạo. Thanh Hoá cũng là nơi
phát tích ra nhiều triều đại phong kiến, đồng thời là nơi sản sinh ra những tài
năng, những danh nhân mà tên tuổi, sự nghiệp của họ đợc sử sách lu danh
của dân tộc Việt Nam. Vì những lý do đó mà ngời ta cho rằng Thanh Hoá hội
tụ đợc cả ba yếu tố Thiên thời, địa lợi, nhân hoà, lại bao gồm bốn vùng
Đồng bằng, Miền núi, trung du, ven biển thềm lục địa nên ngời ta xem Thanh
Hoá nh là một Việt Nam thu nhỏ.
Nền văn minh đầu tiên trong tiến trình lịch sử dân tộc ta là nền văn
minh sông Hồng với địa bàn phân bố chính là ba lu vực sông Hồng, sông Mã,
sông Cả. Nên ngay từ rất sớm đồng bào Thanh Hoá đã cùng nhau khai phá tạo
nên những cách đồng trù phú màu mỡ, xóm làng đông đúc tạo tiền đề phát
triển một nền nông nghiệp đa dạng phong phú sản vật làm cho vùng châu thổ
trở thành kho lơng thực nuôi sống các thệ hệ ngời xứ Thanh. Bên cạnh những
điều kiện về tự nhiên với tiềm năng đa dạng, phong phú về nông - lâm - ng lẫn
khoáng sản trong lòng đất. Thanh Hoá còn có rất nhiều thắng cảnh nổi tiếng
11
nh biển Sầm Sơn, Động Hồ Công, Động Từ Thức... Ngoài ra còn có những địa
danh lịch sử văn hoá và cách mạng nh Hạc Thành, Tây Đô, Lam Kinh, Ba
Đình, Ngọc Trạo, Hàm Rồng - đây là những nơi đã lu dấu các cuộc chiến đấu
ác liệt của nhân dân tỉnh Thanh Hoá với quân thù.
Bên cạnh những điều kiện tự nhiên thuận lợi nói trên, là một tỉnh của
dải đất Miền Trung nên Thanh Hóa cũng nh các tỉnh khác trong miền phải thờng xuyên đối đầu với những thách thức khắc nghiệt bởi hạn hán, lũ lụt kéo
dài nhiều ngày trong năm, khi mùa ma đến gây ra lũ lụt, khi mùa hạ thì gây ra
hạn hán. Chính thiên nhiên khắc nghiệt đã góp phần hình thành nên bản tính
bất khuất của ngời dân xứ Thanh, từ những cuộc đấu tranh chinh phục thiên
nhiên đã hình thành nên ở họ truyền thống kiên cờng chống giặc ngoại xâm để
giữ vững độc lập dân tộc. Điều đó lý giải vì sao mỗi khi đất nớc, tổ quốc lâm
nguy thì các thế hệ ngời Thanh Hoá lớp lớp nối tiếp nhau đứng dậy thể hiện ý
chí sống mãi với quân thù.
1.2. Điều kiện lịch sử - văn hoá.
khởi nghĩa thì toán nghĩa quân cuối cùng bị tiêu diệt ở quận trị Cửu Chân lúc
đó là T phố tơng đơng với làng Dơng Xá huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá
ngày nay. Sự đóng góp của nhân dân Cửu Chân đã góp phần đáng kể vào
thắng lợi mở đầu sau hơn 200 năm mất nớc. Điều đó để thấy đợc rằng ngay từ
buổi đầu nhân dân Thanh Hoá đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai bà dập tắt, nhà Đông Hán đã lập lại
ách thống trị đối với nớc ta, chúng đẩy mạnh hơn nữa chính sách nô dịch, bóc
lột và đồng hoá trên quy mô lớn, có hệ thống hơn trớc, chế độ lạc tớng cha
truyền con nối của ngời Việt ở cấp huyện bị bãi bỏ, quan lại ngời Hán sang nớc ta cai trị đến tận cấp huyện, chúng xem nớc ta là vùng ngoại địa. Trong
bối cảnh đó, ngay từ đầu thế kỷ II phong trào khởi nghĩa của nhân dân càng
nổ ra liên tục trở nên phổ biến hơn trớc. Nhân dân huyện Cửu Chân đã nhiệt
liệt hởng ứng cuộc khởi nghĩa này, căn cứ đầu tiên của nghĩa quân đợc đóng ở
13
miền núi Na - Triệu Sơn, nơi bà Triệu hy sinh là ở núi Tùng Hậu Lộc. Cả hai
nơi đó đều cách huyện lỵ T Phố không xa, điều đó cho thấy mục tiêu tấn công
của chính quyền nghĩa quân là T Phố và chiến sự đã nổ ra ác liệt trên đôi bờ
sông Mã. Dới sự lãnh đạo của nữ anh hùng xứ Thanh, nghĩa quân đã chiến
thắng quân Ngô nhiều trận, làm cho kẻ thù kinh hồn bạt vía buộc chúng phải
thừa nhân là toàn thể Giao Châu đều chấn động [10,9].
Đến cuối thế kỷ IX nắm thời cơ chính quyền trung ơng nhà Đờng hấp
hối vì nạn cát cứ của các tập đoàn phong kiến nên phong trào nông dân khởi
nghĩa dẫ nổ ra quyết liệt làm cho chính quyền đô hộ nớc ta hoang mang giao
động, Khúc Thừa Dụ đợc nhân dân ta ủng hộ đã giành lại chính quyền từ tay
bọn phong kiến nớc ngoài, xây dựng một chính quyền tự chủ. Nhng không
chịu từ bỏ dã tâm xâm lợc, Năm 930 nhà Nam Hán phái quân sang xâm chiếm
nớc ta. Năm 930 - 931 tại quê hơng Thanh Hoá Dơng Đình Nghệ lại chiêu mộ
chiếm nớc ta, phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta tiếp diễn
liên tục chĩa mũi nhọn tấn công vào chính quyền đô hộ nhà Minh và dần dần
quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay trên núi rừng Thanh Hoá dới sự
lãnh đạo của Lê Lợi - ngời con u tú của xứ Thanh. Sau mời năm chiến đấu bền
bỉ, gian khổ ngoan cờng (1418 - 1428) thì cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
đã giành thắng lợi oanh liệt, toàn diện, triệt để, ách thống trị của nớc ngoài đã
bị quật ngã, ý chí xâm lợc cùng thủ đoạn của nhà Minh đã bị đập tan. Sau khi
chiến thắng quân Minh, Lê Lợi - ngời lãnh đạo tối cao của cuộc khởi nghĩa
lên ngôi sáng lập ra nhà Lê, nớc ta lúc đó thống nhất từ Lạng Sơn đến Thăng
Long đợc chia làm năm đạo, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây.
Bớc vào đầu thế kỷ XVI những mâu thuẫn nội tại của chế độ phong
kiến nhà Lê về việc củng cố độ chính trị chuyên chế và tăng cờng đặc quyền,
đặc lợi cho giai cấp phong kiến đã dẫn tới sự bùng nổ của phong trào nông
dân khởi nghĩa và những cuộc xung đột triền miên giữa các phe phái phong
kiến, Mạc phế truất Lê, Mạc - Trịnh phân tranh, Trịnh - Nguyễn xung đột kéo
dài, tình hình đó đã gây nên biết bao nỗi thống khổ cho nhân dân, tàn phá
15
nặng nề đất nớc. Suốt trong thời kỳ rối loạn kéo dài này, vùng Thanh Hoá trở
thành căn cứ địa của Nam Triều, vừa là chiến trờng giao tranh của hai tập
đoàn phong kiến thù địch Bắc Triều (Mạc) và Nam Triều (Lê Trung Hng).
Trung tâm của Thanh Hoá lúc này là Yên Trờng (nay là xã Thọ Lập huyện
Thọ Xuân) nằm trên bờ trái sông Chu.
Sang thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bớc vào giai đoạn
khủng hoảng sâu sắc và toàn diện, nớc ta lại lâm vào sự tranh chấp quyền lực
đất đai giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, lấy cớ phù Lê thì 20
vạn quân Thanh đã ồ ạt kéo quân vào xâm lợc nớc ta, trong bối cảnh đó
Nguyễn Huệ - ngời anh hùng áo vải Tây Sơn đã chọn Thanh Hoá là một trong
dựng cho quê hơng mình vị thế chiến lợc trọng yếu, góp phần to lớn cho sự
tồn tại và phát triển của quốc gia. Chính những giá trị truyền thống cao quý đó
ngày nay đã trở thành niềm tin cổ vũ động viên các thế hệ con cháu Xứ Thanh
vững bớc đi lên cống hiến cho quê hơng, dân tộc ngày càng nhiều.
1.2.2. Điều kiện văn hoá.
Thanh Hoá là một địa phơng xuất hiện sớm từ thời Hùng Vơng dựng nớc với tên gọi Cửu Chân quen thuộc. Lại là nơi có đủ ba vùng tự nhiên thơ
mộng, có lịch sử phát triển lâu dài và liên tục, có nhiều đồng bào các dân tộc
cùng sinh sống.. .. Điều đó đã góp phần cùng tạo nên cho nhân dân Thanh
Hoá một nền văn hiến lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Ngay từ rất sớm Thanh Hoá đợc xem là đất học. Nhân dân nơi đây bao
đời nổi tiếng là thông minh hiếu học trí tuệ trong sáng lại sống gần gũi với
nhau, đặc điểm này của Thanh Hoá mang tính tiêu biểu của trí thức Việt Nam.
Mấy trăm năm trớc Lê Quý Đôn đã có sự tổng kết tài tình phi công bất phú,
phi thơng bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hng, điều đó có nghĩa sự hng
thịnh của mỗi quốc gia phu thuộc lớn vào vai trò, thái độ của tầng lớp trí thức
đối với xã hội.
Trong suốt thời gian tồn tại của nền giáo dục Nho học từ năm Thái
Minh ất Mão (1075) thời Lý đến khoa thi Nho học cuối cùng năm Khải Định
Kỷ Mùi (1919) triều Nguyễn với 188 kỳ thi đại khoa, số tiến sĩ của cả nớc là
17
2989 vị, Thanh Hoá chiếm trên 204 vị, trong đó có 20 vị vào hàng Tam Khôi
(6 trạng nguyên, 8 bảng nhãn, 6 thám hoa) và cha kể nhiều vị gốc Thanh Hoá
nhng đã rời sứ sở nhiều đời nh con cháu của vua Lê, chúa TRịnh, chúa
Nguyễn. Riêng triều Nguyễn số tiến sĩ của cả nớc là 558 vị, riêng 29 vị đậu
đại khoa là ngời Thanh Hoá chiếm 5,23% tỉ lệ cả nớc, trong đó có 15 vị đậu
tiến sĩ, 14 vị đậu phó bảng. Cũng dới triều Nguyễn, Thanh Hoá có 436 ngời
đậu cử nhân.. .
khác không nên quên rằng số đông những quan lại nổi tiếng ở Thanh Hoá đều
là những ngời đều tinh thông văn chơng học thuật mà cũng không xa lạ với
việc binh nhung, Hà Duy Phiên đã từng ra trận cầm quân, Tống Duy Tân đã
giữ chức sơn phong sứ và là lãnh tụ khởi nghĩa Hùng Lĩnh.. .
Sự phát triển của giáo dục triều Nguyễn đã tạo nên niềm tự hào cho quê
hơng Thanh Hoá. Khi chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng trầm trọng thì
lực lợng văn thân, sĩ phu tỏ ra hoài nghi về đạo đức của chế độ đó. Họ tỏ thái
độ chỉ trích phản kháng dữ dội. Khi tổ quốc lâm nguy họ sẵn sàng tập hợp lực
lợng dựng cờ khởi nghĩa chống lại cờng quốc để bảo vệ độc lập dân tộc, vì thế
khi triều đình phong kiến đầu hàng, cam tâm bán nớc ta cho giặc thì sĩ phu lại
là lực lợng mạnh nhất tham gia phong trào kháng Pháp cứu nớc thoát khỏi ách
nô lệ với những tấm gơng tiêu biểu nh: Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Trần
Xuân Soạn, Tống Duy Tân.. .
Từ những khái quát nêu trên ta có thể nhận thấy rằng: Điều kiện tự
nhiên, bề dày lịch sử truyền thống và nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc đã
có tác động tích cực đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng
của nhân dân Thanh Hoá nói chung, trí thức Thanh Hoá nói riêng. Mỗi khi tổ
quốc bị lâm nguy, cùng với cả nớc Thanh Hoá đã tạo nên cho mình một căn
cứ kháng chiến vững chắc để chiến đấu một mất một còn cho lịch sử dân tộc.
CHƯƠNG 2.
19
Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc chống
Pháp nửa sau thế kỷ XIX
Từ nửa sau thế kỷ XIX trớc hoạ ngoại xâm của dân tộc, nhân dân Thanh
Hoá đã hoà mình vào dòng chảy chung, tiếp bớc cha ông đứng lên bảo vệ độc
lập dân tộc, nhất là khi triều đình phong kiến Huế phân chia thành phái chủ
chiến trờng Quảng Nam - Đà Nẵng, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự
mạnh mẽ của nhân dân ta ngay từ những phút đầu tiên trong chiến lợc đánh
nhanh thắng nhanh của chúng. Quân đội chính quy của triều đình dới sự chỉ
huy của tớng Nguyễn Tri Phơng cùng với các đội nghĩa dũng đứng lên chiến
đấu nhằm ngăn chặn bớc tiến công của địch, không cho chúng mở rộng phạm
vi ảnh hởng.
Trong bối cảnh lịch sử đó, khắp mọi miền của tổ quốc, tầng lớp văn thân
đã đứng ra phất cờ khởi nghĩa chiêu mộ quân sĩ, hăng hái chi viện cho chiến trờng Đà Nẵng - Gia Định. Với truyền thống chung của trí thức cả nớc cộng với
những đặc điểm riêng do lịch sử quy định, lại sớm nhận ra âm mu xâm lợc của
thực dân Pháp cũng nh thái độ hèn nhát đầu hàng của triều đình Huế, các sĩ phu
Thanh Hoá là những nhà khoa bảng đỗ đạt cao làm quan từ thời Tự Đức đã tỏ
thái độ bất hợp tác với bè lũ thực dân phong kiến. Họ từ bỏ chốn quan trờng trở
về quê nhà chiêu mộ binh sĩ, đem tài năng hiểu biết của mình để mu tính việc
đánh giặc cứu nớc, cứu dân. Số đông trí thức khác sống ở các làng xã gần gũi
với nhân dân, họ tiếp thu sức mạnh và lòng yêu nớc của nhân dân một cách sâu
sắc, khi có giặc ngoại xâm họ sẵn sàng sát cánh cùng nhân dân chống Pháp tạo
thành các đội nghĩa dũng. Ngời đầu tiên phải kể đến là ông nghè Tam Đăng
ứng mộ đã làm rung động d luận trí thức Nho sĩ Thanh Hoá. Trớc vận mệnh dân
tộc đang bị uy hiếp, nhiều văn thân sĩ phu yêu nớc Thanh Hoá đã dâng sớ xin đợc đánh pháp, tiêu biểu là Nhữ Bá Sĩ.
Nhữ Bá Sĩ là ngời tài cao đức trọng, ông sinh năm 1788, tên chữ là
Nguyên Lập, hiệu Đạm Trai, là ngời làng Cát huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh
Hoá. Năm Minh Mạng thứ hai (1821) ông đỗ hơng cống, năm sau thi hội
21
trúng Tam Trờng nên đợc bổ dụng làm quan tri huyện sau đó thăng chức viên
ngoại bộ hình, ông sống giản dị, không ham cầu danh lợi, là ngời yêu nớc
thiết tha nên khi thực dân pháp gây hấn xâm lợc, trớc thái độ cầu hoà của triều
đình, ông đã gửi lên vua hai bản điều trần Tây bất khả hoà (Không hoà với
Quảng Trị ngày 13/7/1885 chiếu Cần Vơng lần một đợc hạ và phát đi rộng rãi
trong nhân dân làm dấy lên một cao trào yêu nớc mạnh mẽ trên phạm vi cả nớc. Linh hồn của phong trào đã chuyển về các văn thân, sỹ phu có lòng yêu nớc thơng dân.
Là một tỉnh ở Trung Kỳ - nơi chịu sự cai trị trực tiếp của triều đình Huế,
là địa phơng có tầm chiến lợc quan trọng ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào, nơi đây
bao đời có truyền thống chống xâm lăng, là mảnh đất sinh ra nhiều anh hùng
hào kiệt... Những yếu tố đó sớm đa Thanh Hoá trở thành một trong những
trung tâm của phòng trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX, chính Tôn Thất Thuyết
đã có ý định xây dựng Thanh Hoá trở thành một thủ đô kháng chiến và trong
chiếu Cần Vơng đợc hạ lần thứ hai và ngày 19/9/1885 có nhắc khi nào trừ
khử đợc chúng thì đến gặp trẫm. Trẫm sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hoá. Đây là
một địa điểm quý [6,146]. Đề đốc Trần Xuân Soạn là ngời phụng sự thi hành
mệnh của kế hoạch Cần Vơng chống Pháp tại Thanh Hoá.
Trần Xuân Soạn sinh năm 1849 quê ở làng Thọ Hạc xã Đông Thọ
huyện Đông Sơn trớc đây nay thuộc phờng Đông Thọ thành phố Thanh Hoá.
Ông xuất thân từ thành phần nông dân nghèo nên không đợc học hành nhiều.
Khi quốc gia hữu sự ông tự nguyện theo đờng binh nghiệp, nhờ có sức khoẻ
và mu lợc nên ông đợc thăng chức rất nhanh. Đợc giao nhiệm vụ tập hợp lực lợng và trực tiếp chỉ đạo phong trào Cần Vơng chống Pháp, tại quê nhà ông đã
tìm gặp những sĩ phu, văn thân lãnh đạo phong trào yêu nớc nh Tống Duy
Tân, Phạm Bành, Hà Văn Mao... để bàn kế sách tập hợp các cuộc khởi nghiã
thống nhất nghĩa quân hởng ứng chiếu Cần Vơng, dới sự lãnh đạo của các văn
thân sĩ phu yêu nớc, nhân dân các địa phơng Thanh Hoá đã nhất tề hăng hái
tập hợp đội ngũ, tổ chức lực lợng sẵn sàng tiêu diệt khi chúng xâm phạm tới
23
quê hơng, chính giặc Pháp phải thừa nhận rằng dới sự thúc đẩy của Đề Soạn,
cuộc phiến loạn đã tràn xuống đồng bằng và trở thành cuộc chiến tranh thực
sự [2,272-273]. Trên phạm vi toàn tỉnh, từ miền biển lên miền núi, từ đồng
bằng tới trung du đã hình thành một mạng lới các làng xã kháng chiến.
phía tây đánh xuống, nghĩa quân các xã miền biển do Cai Chánh thống lĩnh từ
phía đông kéo lên. Nghĩa quân các xã phía Nam chủ yếu là nghĩa quân Hoàng
Bột và nghĩa quân Đại Đồng do Nguyễn Huy Vũ lãnh đạo. Đêm 24 rạng ngày
25/5/1886 dới sự chỉ huy của Nguyễn Đôn Tiết cuộc tấn công bắt đầu. Nghĩa
quân Hoàng Bột và Đại Đồng đã đánh tiền đồn chợ Gồng và đang ôm rơm vào
đốt huyện đờng thì giặc Pháp nổ súng. Nghĩa quân Đằng Cao đã mai phục ở
Hoằng Lộc. Nghĩa quân của Hoằng Bật Đạt bí mật vợt qua sông Lạch Trờng
tiến vào, ba đợt xung phong đã diễn ra song do thiếu phơng tiện lại cha có kinh
nghiệm chiến đấu cũng nh cha phối hợp thật chặt chẽ nên cuộc tập kích huyện
lỵ Bắc Sơn không thành. Nguyễn Đôn Tiết bị giặc bắt và nghĩa quân phải tạm
thời giải tán, kẻ thù tìm cách mua chuộc ông nhng không đợc, chúng tra tấn hết
sức giã man và đầy ông đi Lao Bảo, ông vẫn giữ trọn khí tiết của một sỹ phu.
Năm 1886 ông đã hy sinh trong tù.
Tại Hậu Lộc, phong trào đấu tranh cũng bùng nổ sớm và phát triển
mạnh mẽ dới sự lãnh đạo của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt, Phạm Bành quê
làng Trơng Xá nay thuộc xã Hoà Lộc, đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864) ông
làm Đốc học rồi án sát ở Nghệ An. Ông nổi tiếng là thanh liêm và biết quan
tâm đến đời sống của nhân dân. Khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng lần
một ông nhiệt liệt hởng ứng, bỏ quan về quê cùng Hoàng Bật Đạt mộ quân
khởi nghĩa.
Hoàng Bật Đạt quê ở làng Bộ Đầu (nay thuộc xã Thuần Lộc). Năm
1868 ông đỗ cử nhân sau đó làm tri huyện Lang Tài. Khi thực dân pháp đánh
vào Bắc Ninh ông đã đề nghị với Tổng Đốc tổ chức chặn giặc nhng đề nghị đó
của ông bị khớc từ, ông bỏ quan về quê.
Tại quê nhà, hai ông bàn việc chiêu mộ binh sĩ, rèn sắm vũ khí, xây
dựng căn cứ địa để đánh giặc. Nhân dân Hậu Lộc nô nức tham gia nghĩa quân
25