TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề bồi DƯỠNG KIỄN THỨC, xây DỰNG nền văn HÓA TIÊN TIẾN, đạm đà BẢN sắc dân tộc - Pdf 41

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC
XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Nửa cuối thế kỷ 20 thuật ngữ văn hoá được sử dụng một cách rộng rãi,
phổ biến trong cộng đồng quốc tế cũng như trong các quốc gia, dân tộc. Văn
hoá đã và sẽ thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực, mọi tổ chức, mọi hoạt động của
đời sống xã hội, giữ vai trò nền tảng tinh thần, đồng thời vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển, tiến bộ lịch sử. Nhận thức đúng đắn vai trò của
văn hoá. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo việc xây dựng, phát triển nền văn hoá và hướng văn hoá phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Đảng ta
khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội” (Văn kiện
Đại hội Đảng IX, tr.144).
Để nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm của Đảng, cần
tiếp cận sâu sắc lý luận chung về văn hoá, phân tích rõ tính tất yếu và những
khía cạnh bản chất của nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chỉ ra
những định hướng, nguyên tắc, giải pháp xây dựng nền văn hoá đó và một số
yêu cầu vận dụng. Chuyên đề này triển khai và tập trung giải quyết 3 vấn đề
cơ bản sau:
1. Xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam là vấn đề có tính quy luật.
2. Sự thống nhất gữa tính tiên tiến và tính bản sắc trong xây dựng nền
văn hoá mới.
3. Định hướng, nguyên tắc và giải pháp xây dựng nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


2
1. Xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam là vấn đề có tính quy luật

phối rất sâu và rất mạnh, thẩm thấu vào huyết mạch mỗi con người và ùa vào
các không gian văn hoá người Việt trên mọi miền đất nước. Đặc biệt hệ tư
tưởng Nho giáo có vị trí khá quan trọng xâm nhập vào hầu hết các tuyến văn
hoá Việt Nam, từ văn hoá chính trị, văn hoá đạo đức, văn hoá pháp luật đến
văn hoá giáo dục… Do vậy mà nền văn hoá Việt Nam trong truyền thống có
sự phát triển pha tạp các dòng văn hoá, tạo nên các đối trọng tự nhiên của nó,
thiếu tính khuynh hướng và không có trường phái rõ rệt. Đây là nguyên nhân
cơ bản hình thành những kết cấu cổ truyền, khiến cho nền văn hoá Việt Nam
về đại thể mang khá nhiều nét đẹp nhưng không ít cái lạc hậu.
Đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trên thực tế chúng ta
không có nền văn hoá của giai cấp công nhân đối mặt với nền văn hoá của
giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân về số lượng lại rất ít, tuyệt đại bộ phận
đều xuất thân từ nông dân. Vì vậy, khi phát triển đô thị, chúng ta không có
một nền văn hoá đô thị nguyên nghĩa, khi tiến hành công nghiệp hoá, chúng
ta không có tảng nền của văn hoá công nghiệp. Từ các độ thị cũ và mới đến
các khu công nghiệp nhanh chóng trở thành những tụ điểm tiếp nhận các làng
văn hoá nông dân truyền thống, với các sắc màu khác nhau, tuy có cải tiến ít
nhiều nhưng về căn bản vẫn mang nặng tư tưởng thủ cựu, bấp bênh, lạc hậu.
Xây dựng CNXH đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một nền văn hoá
cao với nội dung dân tộc, hiện đại, nhân văn. Đây là một nhiệm vụ khó khăn,
phức tạp không phải là công việc một sớm, một chiều. Muốn thay đổi, muốn
cải tạo các tư tưởng “cố hữu cổ truyền”, những quan hệ đã phong hoá phải có
một cơ chế biến đổi nội sinh từ trong bản thân nó.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy chúng ta không thể xây dựng được một
nền văn hoá cao nếu không có sự cải biến sâu sắc về trình độ nhận thức, trình
độ lưu trữ, trình độ quan hệ, trình độ sáng tạo của con người trong tất cả các
hoạt động; nó vừa liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, vừa liên
quan có tính bản chất đến vấn đề con người, vấn đề tăng trưởng nguồn lực,




5
phép nước, tham ô lãng phí, tham nhũng… tồn tại kéo dài. Đặc điểm sản xuất
nhỏ để lại cho chúng ta những con người vốn quen với tư tưởng cá nhân, vị
kỷ. Những mặt tiêu cực và hạn chế của văn hoá cổ truyền đã hằn sâu trong
nếp sống con người, nó biến thành thói quen, lối sống của họ. Nhiều quan
điểm đạo đức, văn hoá bị ràng buộc bởi khuôn khổ chặt hẹp của lễ giáo phong
kiến. Con người bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế trong phương pháp tư duy,
nếp nghĩ, tầm nhìn…
Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, nhất là đế quốc Mỹ đã kết
thúc cách dây nhiều thập kỷ, tới nay vẫn còn để lại những hậu quả nặng nề.
Nó đã tiến hành tàn phá đất nước ta không chỉ bằng bom đạn, chất độc da
cam mà bằng cả nọc độc của văn hoá thực dân – một thứ “văn hoá” nô dịch,
lai căng, đồi trụy cực kỳ phản động… làm nhiễm độc tâm hồn của h àng triệu
người. Liên minh “ma quỷ” giữa những di hại của những tư tưởng phong
kiến, tư tưởng tư sản cùng với những tác động phản giá trị của thế giới “hiện
đại” thông qua “diễn biến hoà bình” của đế quốc Mỹ… làm cho sự nghiệp
xây dựng nền văn hoá mới diễn ra trên một cục diện mới với những hình thức
và đặc điểm mới. Chúng ta không những phải cải tạo toàn bộ thực trạng văn
hoá đó, ngăn chặn những yếu tố tiêu cực nảy sinh mà còn xây dựng cơ sở, tạo
điều kiện cho những yếu tố văn hoá nhân đạo, cách mạng sinh thành mau
chóng trong điều kiện lịch sử mới; phải làm cho những quan hệ mới của con
người phát triển và không ngừng hoàn thiện, để “văn hoá, nghệ thuật cũng
như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế, chính
trị”(1)
1.1.3. Cách mạng XHCN đặt ra yêu cầu cao về phẩm chất và năng lực
về mọi mặt của chính đảng của giai cấp vô sản và đông đảo quần chúng
cách mạng.
Cách mạng XHCN đòi hỏi phải năng văn hoá của mỗi người lên một
trình độ mới về chất. Bởi vì theo Mác “Để sử dụng vô số của cải, con người

XHCN, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mô hình con
người đã được Đảng ta xác định từ Nghị quyết Đại hội lần thứ tư và được
phát triển hoàn thiện ở các kỳ đại hội. Đặc biệt NQTƯ5 (khoá VIII) đã xác
(1)

V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb TB, M.1977, T6, tr.38, T35 tr.349, T41, tr.361 – 365, T45 tr.349.


7
lập một số đức tính cơ bản của con người Việt Nam (2). Những đức tính đó vừa
là sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam, vừa xây
dựng những phẩm chất năng lực phù hợp với giai đoạn cách mạng mới. Con
người với những phẩm chất đó chỉ có thể có được thông qua quá trình cải biến
cách mạng trong đó cách mạng tư tưởng văn hoá có vai trò quyết định trực
tiếp.
1.1.4. Xem xét trong sự khái quát rộng rãi nhất có thể thấy văn hoá
không chỉ có mặt mà còn xuyên thấm vào các yếu tố cấu thành xã hội.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người tuân theo các quy luật khách
quan. Nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử xã hội thực chất là khảo sát
sự vận hành theo quy luật của các yếu tố cơ bản cấu thành nên hình thái kinh
tế xã hội, đó là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Văn hoá là một khái niệm phức tạp. Có thể có những nhận thức khác nhau tuỳ
theo cách tiếp cận. Ở các hướng tiếp cận khác nhau cũng đi đến những quan
niệm khác nhau về vai trò của văn hoá. Nhìn chung ở các phương pháp tiếp
cận khác nhau, chúng ta dễ nhận thấy ở văn hoá một điểm chung đó là hệ giá
trị. Có thể nói đây là hệ quy chiếu nói lên bản chất của văn hoá.
Văn hoá là quá trình phát triển các quan hệ nhân tính của một xã hội,
của mỗi con người. Trình độ của quan hệ đó được đánh giá thông qua quá
trình con người giải quyết các mối quan hệ với tự nhiên (chiều cao) với xã hội
(chiều rộng) với chính mình (chiều sâu) và với tổ tiên, con cháu (chiều lịch

Trong lịch sử văn minh của mình, loài người đã xây dựng nên nhiều lý
thuyết phát triển xã hội. Mỗi quốc gia, xuất phát từ những mục tiêu của mình
từ các điều kiện đặc thù, với cách nhìn nhận khác nhau đã vạch ra con đường
và những chiến lược phát triển riêng, đưa đất nước mình đi lên ở các mức độ
khác nhau. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là trong những năm 80
đến đầu những năm 90 của thế kỷ này, những khủng hoảng về mô hình phát
triển đã và đang diễn ra và lan truyền theo làn sóng ở mọi khu vực trong hành
tinh. Điều đó đem lại một sự cảnh tỉnh cho các lý thuyết phát triển thiên lệch
và cực đoan. Với những vấp ngã đó, ngày nay người ta càng nhận thấy một
cách sâu sắc vai trò của văn hoá. UNESCO đã đi đến khẳng định: “Trong mọi
(1)

Thập kỷ toàn thế giới phát triển văn hoá, UNESCO, 1980, Phụ lục 4, tr.1.


9
xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển nào, văn hoá và phát triển là hai
mặt gắn liền với nhau”.
Ở nước ta, trong suốt tiến trình cách mạng, vai trò của văn hoá luôn được
Đảng ta quan tâm và định hướng đúng đắn.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta có một văn kiện nổi tiếng về
văn hoá - đó là “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) với 3 nguyên tắc; dân
tộc, khoa học, đại chúng. Trong cách mạng XHCN, Đảng ta đã có nhiều nghị
quyết, chỉ thị quan trọng về văn hoá”(2).
Khẳng định “Trong thời đại Hồ Chí Minh ở thế kỷ này, sự phát triển về
văn hoá đã góp phần quyết định và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bảo vệ độc lập, thống nhất
cho Tổ quốc, đứng vững trước các biến động to lớn của lịch sử, đổi mới thành
công, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tuy một số mặt chưa
vững chắc tạo tiền đề cho những phát triển tiếp theo”… NQTƯ5 (khoá 8) đã

nội sinh của sự phát triển. Nói đến CNH, HĐH như là giải pháp chủ yếu của
sự phát triển hiện nay mà xa rời, coi nhẹ nhân tố văn hoá là chưa nhận thức
đúng về tư tưởng của CNH, HĐH hiện nay. Lựa chọn phát triển văn hoá, nâng
cao chất lượng toàn diện của con người và xã hội là cơ sở căn bản tạo ra sức
mạnh nội tại của sự nghiệp CNH, HĐH, là sự lựa chọn sáng suốt từ bên trong
của CNH, HĐH.
1.2.2. Cơ chế thị trường diễn ra sâu rộng. Nền văn hoá Việt Nam phải
đối mặt với kinh tế thị trường. Trong cuộc đối mặt với kinh tế thị trường, nền
văn hoá Việt Nam phải đối mặt với các khả năng khách quan do kinh tế thị
trường đem lại. Khả năng phát triển nhanh hay chậm, đúng hướng hay chệch
hướng, lành mạnh hay u tối…. hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc nhận thức và tổ
chức quá trình xã hội hoá văn hoá. Bởi vì, trong cuộc đối mặt với kinh tế thị
trường để rồi dung hợp với nó, có cái hay, cái dở, cái được, cái mất, cái xuất
hiện, cái tiêu vong, cái thoát khỏi, cái nhiễm phải. Đây là những đối trọng
nảy sinh tất yếu đặt ra yêu cầu cho những người làm công tác văn hoá nói
riêng và toàn xã hội cần có sự định hướng điều chỉnh thích ứng bằng nỗ lực
chủ quan của chính mình theo hệ những chuẩn mực của nền văn hoá mới.


11
Như vậy, nói đến thị trường không có nghĩa là thả trôi văn hoá cho thị
trường, mà chính là biết sử dụng thị trường, lợi dụng thị trường để tính toán
khả năng cung cấp văn hoá cho quần chúng, nâng cao mặt bằng dân trí và góp
phần vào quá trình nâng cao năng lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
1.2.3. Quá trình giao lưu, hội nhập diễn ra với tốc độ rất cao. Với
những phương tiện kỹ thuật hiện đại. Giao lưu hội nhập là thời cơ để chúng ta
tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến, hướng tới phát huy nội lực phát
triển đất nước một cách nhanh chóng và chính xác. Thực tiễn chỉ trong 2 thập
kỷ gần đây chúng ta chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các phương
tiện thông tin, mạng điện thoại, FAx, điện thoại cầm tay, các băng, đĩa CD,

ương 5 (khoá 8), đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu chỉ ra “Các tiêu cực xã
hội có chiều hướng gia tăng trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hoá tinh
thần, nhất là sự xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân, dẫn tới nguy cơ đối với vận mệnh
của Đảng và sự phát triển của dân tộc”. Lối sống thực dụng, lối sống “bung
ra” gây nên nhiều tệ nạn xấu trong cơ thể xã hội từ gia đình, trường học đến
nhà máy, cơ quan, từ cơ sở đến Trung ương v.v.. Trong xã hội xuất hiện nhiều
nghịch lý: người ngay bị kẻ gian bắt nạt, cái thiện bị cái ác chen lấn, luật pháp
kỷ cương phép nước không còn được giữ nghiêm, lòng tin bị sói mòn, tính
tham lam, sự tàn bạo của kẻ xấu hoành hoành… Sự đam mê nhu cầu vật chất
cùng dục vọng thấp hèn, lối sống bất chấp đạo lý, dư luận xã hội và pháp luật
đang xô đẩy một số người và nhóm người đi vào con đường phạm tội. Tất cả
những hiện tượng trên đây đang làm vẩn đục môi trường văn hoá - xã hội, gây
bất bình trong nhân dân, làm xói mòn nền tảng tinh thần xã hội, tạo miếng đất
màu mỡ cho sự xâm nhập và gia tăng của các phản giá trị.
*

*
*


13
Trên đây là vấn đề cơ bản trong bối cảnh mới của đất nước. Xã hội ta
đang ở trong một cuộc giao thoa, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất
nhỏ tiến lên công nghiệp hiện đại trong một thế giới vừa hợp tác, vừa cạnh
tranh. Nền văn hoá nước ta đang trong một sự chuyển đổi mạnh mẽ từ một
nền văn hoá nông nghiệp lạc hậu bấp bênh sang một nền văn hoá mới theo
mô thức: dân tộc – hiện đại – nhân văn. Một cuộc chuyển đổi những giá trị xã
hội đang diễn ra. Hàng loạt vấn đề thuộc hệ giá trị đạo đức xã hội, nghề
nghiệp, luân lý gia đình đang đứng trước những thách thức lớn lao.

2.1.1. Quan niệm nền văn hoá tiên tiến
Tiên tiến tức là ở vị trí hàng đầu, vượt hẳn trình độ phát triển chung.
Tiên tiến đối lập với lạc hậu, bảo thủ, trì trệ. Nền văn hoá tiên tiến là nền văn
hoá vượt trội, ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn hoá nhân loại đương đại.
Chúng ta đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH, đòi hỏi phải xây dựng một
nền văn hoá tiên tiến, phù hợp với giai đoạn mới, phù hợp với lực lượng sản
xuất tiên tiến, quan hệ sản xuất mới.
Đặc trưng cơ bản của nền văn hoá tiên tiến là: yêu nước; tiến bộ; có nội
dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhân văn, tất cả vì con người, vì
hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do toàn diện của con người trong
mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên
tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong
phương tiện truyển tải nội dung.
- Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam. Trong cuộc
sống riêng từ giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, có thể có
nhiều khác biệt. Nhưng tinh thần yêu nước ở người Việt Nam là hằng số: Mỗi
khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó lướt qua mọi nguy
hiểm khó khăn… Chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam được thể hiện cụ
thể ở lòng dũng cảm và ý chí bất khuất. Đó là chủ nghĩa anh hùng; là những
con người hết mực yêu hoà bình, yêu tự do, nhưng khi đất nước lâm nguy thì


15
“thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ”.
Đất nước ta đang ở thời kỳ quá độ với nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, sự nghiệp CNH, HĐH nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật cho CNXH đòi hỏi huy động tối đa tiềm năng vật chất và tinh thần của
cả dân tộc, của tất cả các thành phần kinh tế. Chủ nghĩa yêu nước là một động

khác nhau hệ tư tưởng nào cũng mang hai đặc tính định hướng và dính kết tạo
nên diện mạo hoá của mỗi thời đại. Hệ tư tưởng của mỗi giai cấp bằng cả hữu
thức và vô thức; nó tham gia tổ chức các thiết chế ở tầm sâu và tầng cao; nó
xác lập hệ chuẩn trong mọi lĩnh vực xoay quanh văn hoá chính trị của giai cấp
thống trị; nó nhào nặn các hoạt động văn hoá và xuyên thấm vào ý thức xã hội
để trở thành hạt nhân quyết định sự sinh thành của mọi vòng cộng đồng văn
hoá.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết cách mạng và khoa học kết tinh
những tinh hoa văn hoá nhân loại, hướng vào giải phóng toàn xã hội, giải
phóng dân tộc, giải phóng con người, khắc phục triệt để tình trạng con người
bị tha hoá, tạo điều kiện phát triển và không ngừng hoàn thiện con người – là
“chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”. Văn hoá Việt Nam từ khi có chủ nghĩa MácLênin xuất hiện, bất cứ một người có lương tri nào cũng nhận thấy rằng, nó
đã cổ vũ phong trào độc lập dân tộc Việt Nam; nó đã nâng dân tộc Việt Nam
vào hàng các dân tộc có bản lĩnh trên thế giới. Không có hệ tư tưởng nào làm
được cái việc giải phóng dân tộc ta trong hoàn cảnh chủ nghĩa đế quốc đã chia
nhau thống trị thế giới. Chính hệ tư tưởng Mác-Lênin đã thổi sinh khí vào văn
hoá Việt Nam, làm bừng tỉnh khói óc và nâng những cánh tay của các con
người bị đoạ đầy, bị nô lệ kéo cao ngọn cờ độc lập dân tộc bằng nhiệt huyết
sôi sục của con tim.
Nguyễn Ái Quốc đi từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc và
những hiểu biết sâu sắc nhiều nền văn hoá lớn Đông – Tây, đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin như một bước ngoặt quyết định hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.


17
Sự gặp gỡ thần kỳ này đã sản sinh ra một mẫu hình văn hoá mới, mẫu hình
“văn hoá của tương lai”. Với các giá trị khoa học, nhân đạo và cách mạng vốn
có của nó, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự công sinh trên
cơ sở tiến bộ xã hội đã tạo ra những quan hệ tốt đẹp, tình yêu thương, tự do và
hạnh phúc giữa con người và con người trong văn hoá mới Việt Nam; tạo ra

- Bản sắc dân tộc của văn hoá không phải là sự phản ánh thứ một chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi. Hướng tới giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc của văn
hoá là hướng tới tự do dân tộc trong tự do chung của nhân loại. Địa chỉ của
giá trị văn hoá nhân loại nằm trong giá trị văn hoá của mỗi dân tộc .
Khảo sát bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam là tìm diện mạo của nó
có tính bền vững, tìm giá trị của nó để phát huy và tìm hướng phát triển nó.
Cả khuynh hướng tự ti dân tộc, lẫn khuynh hướng tự cao dân tộc đều đối lập
với phép biện chứng duy vật khi phân tích bản sắc văn hoá dân tộc trong thời
đại mới. Mỗi dân tộc vươn lên khẳng định bản sắc phải đặt trong mối quan hệ
với các giá trị nhân loại. Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là chăm lo cho
sự trường tồn và phát triển sức sống của dân tộc. Song, điều này khác hẳn xu
hướng phục cổ như đã xảy ra gần đây ở nhiều nơi trong ma chay, cưới xin, lễ
hội… Trong bài nói tại Hội nghị cán bộ văn hoá 20/10/1958, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ “nói là khôi phục vốn cũ thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì
không tốt thì phải loại dần ra. Xem ra thì năm nay tương đối khá, còn như
năm ngoái, khi khôi phục vốn cũ thì khôi phục cả đồng bóng,rước xách thần
thánh. Vì khôi phục như thế nên ở nông thôn nhiều nơi quên cả sản xuất, cứ
trống mõ bì bõm, ca hát lu bù”. Việc lựa chọn những giá trị truyền thống để
kế thừa và phát triển thể hiện quá trình tự ý thức dân tộc, quá trình tự nhận
thức, tự khám phá về mình xuất phát từ tầm cao mới của lịch sử, là quá trình
gạn đục khơi trong và là sự tiếp nối dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc
trong thế giới hiện đại.
2.2. Mối quan hệ giữa tính tiên tiến và tính bản sắc của nền văn hoá Việt
Nam


20
Bản sắc dân tộc với tính chất tiên tiến của nền văn hoá nước ta là quan
hệ hữu cơ thống nhất. Nền văn hoá tiên tiến phải là nền văn hoá đậm đà bản
sắc dân tộc bởi “gốc của văn hoá là dân tộc”. Ở phần sâu xa nhất tạo thành

tiếp thu những giá trị văn hoá tiên tiến của văn hoá nhân loại.
+ Những giá trị văn hoá tiên tiến phải thích ứng, phù hợp với truyền
thống bản sắc văn hoá dân tộc và phát triển, chuyển hoá thành sức sống bên
trong, trở thành động lực quan trọng giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá
dân tộc, thúc đẩy xã hội, con người phát triển tiến bộ.
+ Chỉ nhấn mạnh “tiên tiến” sẽ làm cho sự phát triển văn hoá dân tộc
không bền vững, “mất gốc”, kìm hãm yếu tố nội sinh. Đánh mất bản sắc văn
hoá của mình thì dân tộc ta không còn là dân tộc Việt Nam nữa.
+ Nếu quá nhấn mạnh bản dân tộc sẽ dẫn đến tình trạng trì trệ chậm đổi
mới, phủ nhận tính năng động sáng tạo, tụt hậu, kìm hãm xã hội phát triển.
- Mối quan hệ giữa “tiên tiến” và “bản sắc dân tộc” có sự tương tác qua
lại, mỗi mặt vận động theo hệ qui chiếu riêng, song không phải là sự vận động
ngược chiều mà là sự chuyển hoá lẫn nhau:
+ Tiên tiến theo hệ qui chiếu là sự giữ gìn, củng cố phát triển, khẳng
định nền tảng và định hướng nền văn hoá phát triển theo những tiêu chuẩn
tiến bộ, hiện đại và nhân văn.
+ Tiên tiến đòi hỏi bản sắc dân tộc luôn vươn lên, tự lọc bỏ yếu tố lạc
hậu, tự nâng mình lên tầm hiện đại để bảo tồn, đổi mới, sáng tạo, phát triển.
+ Bản sắc dân tộc đòi hỏi mọi sáng tạo, mọi sự tiếp thu những giá trị văn
hoá tiên tiến của nhân loại, thời đại phải dựa chắc trên cơ sở truyền thống bản
sắc văn hoá dân tộc.
2.2.2. Quan hệ giữa tiên tiến và bản sắc dân tộc trong xây dựng nền văn
hoá thực chất là phản ánh sự thống nhất giữa tính phổ quát và tính bắc sắc
- Đây là hai đặc tính cốt lõi của văn hoá


22
+ Tính phổ quát của văn hoá thể hiện ở chỗ bất cứ nền văn hoá nào cũng
xuất phát từ con người và vì con người, đều hướng tới chân, thiện, mỹ để phát
triển. Trong bất cứ nền văn hoá nào cũng có thể tìm thấy vô số yếu tố chung

văn hoá
- Quy luật sáng tạo văn hoá: quy luật này vạch rõ sự phát triển văn hoá
bắt đầu từ chính quá trình hoạt động sáng tạo của con người.
+ Hoạt động sáng tạo và sáng tạo văn hoá là bản chất và đặc trưng riêng
của con người. Sự sáng tạo văn hoá liên tục được nảy sinh trong sản xuất vật
chất, sản xuất tinh thần, trong tổ chức đời sống vật chất và đời sống tinh thần,
trong quản lý, tổ chức, các hoạt động… Vì vậy, để xây dựng nền văn hoá tiên
tiến không thể chỉ trông chờ vào ngoại lực, mà phải không ngừng sáng tạo
những giá trị văn hoá tiên tiến hợp quy luật.
+ Thực chất của mọi quá trình sáng tạo là hình thành phát triển, khẳng
định những nhân tố mới tiên tiến, hợp qui luật.
- Quy luật kế thừa văn hoá.
+ Kế thừa là qui luật trong sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng. Mỗi
nền văn hoá chỉ có thể phát triển vững chắc khi biết kế thừa được kho tàng
văn hoá quí báu, vô tận của nhân loại trong lịch sử và thời đại. Đồng thời, có
kế thừa mới làm cho nền văn hoá mỗi dân tộc luôn mang đậm bản sắc văn hoá
dân tộc.
+ Kế thừa văn hoá là dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và tương
lai. Vì thế mà văn hoá phát triển liên tục có chiều sâu có sức sống bền vững
và phát huy được vai trò to lớn trong đời sống cộng đồng.
+ Kế thừa không phải bằng mọi giá mà có chọn lọc, có định hướng theo
mục đích của giai cấp, dân tộc.
- Quy luật giao thoa và tiếp biến văn hoá.
+ Là sự phát triển văn hoá trong giao lưu văn hoá, qua giao lưu văn hoá
nhằm kết tinh các yếu tố văn hoá tiên tiến từ các tiểu cộng đồng, các vùng văn


24
hoá thành đặc trưng chung, khắc phục xu hướng khu biệt hoá; mở rộng hội
nhập, làm cho các nền văn hoá xích lại gần nhau trong sự phát triển đồng đại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status