Header Page 1 of 89.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƢƠNG
ĐOÀN THỊ MAI THANH
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG,
CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI
Ở TRẺ EM CÓ NHIỄM CYTOMEGALOVIRUS
BẰNG THUỐC KHÁNG VI RÚT GANCICLOVIR
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62.72.01.17
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2015
Footer Page 1 of 89.
Header Page 2 of 89.
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng
Người hướng dẫn:
1. GS.TS. Hoàng Thủy Long
2. GS.TS. Nguyễn Thanh Liêm
CeHV
CMV:
ELISA
EBV:
Hb:
HCMV:
HIV:
HSV:
IgA:
IgG:
IgM:
NKQ:
P. carinii:
PaHV
PCR:
PoHV
RLLN:
SCCMV
SHH:
SLBC:
SLHC:
UNICEF:
VP:
WHO
Axit Deoxyribo Nucleic
Acquired immuno-deficiency syndrome
(Hội chứng thiếu hụt miễn dịch mắc phải)
Aotine herpesvirus
Bạch cầu
Footer Page 3 of 89.
1
Header Page 4 of 89.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phổi (VP) là bệnh phổ biến ở trẻ em với tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong
cao đặc biệt ở trẻ dưới 5 tuổi. Trong đó căn nguyên vi rút chiếm khoảng 5070% các trường hợp VP ở trẻ em. Việc chẩn đoán căn nguyên VP ở trẻ em có
vai trò đặc biệt quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh.
Các nghiên cứu về VP có nhiễm CMV trên nhóm bệnh nhân không bị suy
giảm miễn dịch trên thế giới còn chưa nhiều chủ yếu dừng lại là mô tả một vài
trường hợp hoặc một loạt ca bệnh. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về CMV còn
rất ít đặc biệt là VP có nhiễm CMV ở trẻ em. Do chưa có một nghiên cứu chi
tiết nào về VP có nhiễm CMV cho nên hiện nay vẫn chưa có tiêu chuẩn chẩn
đoán cũng như phác đồ điều trị tối ưu. Vì vậy, việc cung cấp thêm những
hiểu biết về các đặc điểm của bệnh nói chung đặc biệt các đặc điểm dịch tễ
học, lâm sàng, cận lâm sàng cũng như các vấn đề liên quan đến điều trị là hết sức
cần thiết và có ý nghĩa góp phần cho các bệnh viện, các bác sỹ lâm sàng trong việc
định hướng chẩn đoán, tiên lượng cũng như điều trị căn bệnh này. Vì vậy chúng
tôi tiến hành nghiên cứu: “Một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và
kết quả điều trị viêm phổi ở trẻ em có nhiễm Cytomegalovirus bằng thuốc kháng
vi rút Ganciclovir” nhằm mục tiêu:
1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ và yếu tố liên quan đến viêm phổi ở trẻ
em có nhiễm Cytomegalovirus điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương
năm 2010 - 2012.
2. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm phổi ở trẻ em có
nhiễm Cytomegalovirus.
3. Mô tả kết quả điều trị viêm phổi ở trẻ em có nhiễm Cytomegalovirus
bằng thuốc kháng vi rút Ganciclovir.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử và các đặc điểm sinh học, dịch tễ học của vi rút Cytomegalovirus
1.1.1. Lịch sử
Cytomegalovirus lần đầu tiên được Ribbert H chú ý vào năm 1881. Thuật
ngữ “Cytomegalia” được Goodpasture giới thiệu vào năm 1921. HCMV
(Human Cytomegalovirus) được phân lập và nuôi cấy từ người và chuột đầu
tiên một cách độc lập bởi ba nhà khoa học Weller, Smith và Rowe vào năm
1956-1957. Năm 1960, Weller xác định rõ Cytomegalovirus (CMV) là một
ADN vi rút, thuộc họ Herpesviridae. Cho đến những năm 1970s-1980s, những
hiểu biết càng ngày càng cho thấy CMV là một nguồn bệnh quan trọng đặc
biệt với bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Năm 1976, Plotkin có kết quả nghiên
cứu lâm sàng đầu tiên về vaccine được công bố. Năm 1989, Ganciclovir là thuốc
kháng vi rút CMV đầu tiên được cấp phép.
1.1.2. Đặc điểm sinh học của vi rút CMV
Cytomegalovirus (gốc từ Hy lạp là cyto- nghĩa là “tế bào” và - megalonghĩa là "lớn" là một giống virút có tên thuộc họ Herpesviridae hoặc
Herpesviruses. Tên vi rút thường viết tắt là CMV. Theo phân loại bệnh tật
quốc tế ICD 10 là B25. Hạt vi rút trưởng thành có kích thước rất lớn, đường
kính 120-200nm. Nhân là ADN chuỗi kép, mạch thẳng với khối lượng phân tử
1.5×108 dalton, ở hai đầu và ở giữa có các đoạn lặp lại. ADN mã hóa cho ít
nhất 30 protein cấu trúc cũng như nhiều loại polypeptit khác. Giống như các
virút herpes khác, capsit của CMV có cấu trúc hình đa diện 20 mặt đối xứng.
Bao quanh capsit là lớp vỏ bọc protein vô định hình hay còn gọi là chất nền
(matrix). Bao quanh nucleocapsit và chất nền là vỏ ngoài giàu phostpholipit.
ADN của CMV được sao chép trong nhân tế bào, vi rút có thể giải phóng qua
bài tiết ngoại bào, phá hủy tế bào, hoặc cầu liên bào. CMV có thể gây ly giải
tế bào, nhiễm dai dẳng hoặc tiềm ẩn.
CMV là một vi rút không bền vững, dễ bị bất hoạt dưới tác động của một số
tác nhân vật lý hóa học như xử lý ở 560C trong 30 phút, trong dung môi lipid, pH
thấp < 5, hoặc ánh sáng cực tím trong 5 phút. Tuy nhiên CMV có thể sống sót
nước khác nhau cũng như rất khác nhau ở các vùng khác nhau trong cùng một
quốc gia. Đời sống cộng đồng và tình trạng vệ sinh cá nhân kém làm bệnh
lây lan dễ dàng.
1.1.3.6 Tần xuất mắc bệnh
Bệnh có thể gặp bất kỳ nơi nào trên thế giới. Theo một số tài liệu cho
thấy khoảng 80-100% dân số châu Phi, 60-70% dân số Mỹ và Tây Âu;
90-100% trẻ em và người lớn các nước đang phát triển và các nước có nền
kinh tế thấp dương tính với huyết thanh chẩn đoán CMV.
1.1.3.7 Tỷ lệ mắc bệnh/tử vong
CMV hiếm khi liên quan đến tỷ lệ tử vong trên các cá nhân có miễn
dịch (< 1%). Những người nhận ghép cơ quan đặc hoặc tủy xương, CMV có
thể gây ra tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao.
1.1.3.8. Yếu tố nguy cơ
Nhiễm CMV chủ yếu là nhiễm trùng cơ hội trên những bệnh nhân suy
giảm miễn dịch. Yếu tố nguy có nhiễm CMV thay đổi theo từng giai đoạn
cuộc đời.
1.1.4. Sinh bệnh học
Footer Page 6 of 89.
4
Header Page 7 of 89.
CMV là một loại vi rút ly giải (lytic virus) có thể gây nên các hiệu ứng
tác động bệnh lý tế bào trên in vitro và in vivo. Điểm đặc trưng về bệnh học
nhiễm trùng CMV là tế bào trương phình với các tiểu thể và kể cả vi rút.
1.1.5. Miễn dịch học
Nhiễm CMV bẩm sinh có thể do mẹ bị nhiễm nguyên phát hoặc tái phát.
Nhiễm trùng CMV nguyên phát được xác định khi nhiễm trùng trên một cá