Nà lữ (hòa an cao bằng) từ thế kỷ IX đến nửa đầu thế kỷ XIX - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI

NÀ LỮ (HÒA AN – CAO BẰNG)
TỪ THẾ KỶ IX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số

: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2009


Công trình đƣợc hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV – ĐHQG HÀ NỘI

Hƣớng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN QUANG NGỌC

Phản biện 1: TS. NGUYỄN THỊ PHƢƠNG CHI
Phản biện 2: PGS.TS ĐÀO TỐ UYÊN

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn tại:
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV – ĐHQG HÀ NỘI
Vào hồi: ..... giờ, ngày ..... tháng 04 năm 2009

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

cung cấp nguồn tư liệu quan trọng, phục vụ việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu
Lịch sử địa phương, Nhân học, Văn hóa …


Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Nà Lữ (Hòa An – Cao Bằng) từ thế kỷ IX
đến giữa thế kỷ XIX” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi được thừa hưởng rất ít kết quả
nghiên cứu của các học giả đi trước. Bởi lẽ, chưa có một công trình nào lấy Nà Lữ
làm đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực và từng khía cạnh khác nhau,
các học giả đã ít nhiều đề cập đến một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Đầu tiên là cuốn Cao Bằng thực lục của tác giả Bế Hựu Cung viết năm Gia
Long thứ 9 (1810) do Cao Huy Giu dịch. Bế Hữu Cung (1757 - 1820) quê ở xã Bắc
Khê, tổng Xuất Tính, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng (nay thuộc xã Canh Tân,
huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng). Ông là người học rộng, biết nhiều, từng được bổ
nhiệm là Hữu thiêm đô ngự sử, lãnh chức Tổng trấn Cao Bằng. Cao Bằng thực lục
ghi chép tỉ mỉ về núi sông, truyền thuyết dân gian, các thần tích, phong tục tập
quán, cung cấp nhiều tư liệu lịch sử địa phương từ thời cổ đến đầu triều Nguyễn.
Trong đó, tác giả giới thiệu về thành Nà Lữ, về việc vua Lê Thái Tổ lên dẹp Bế
Khắc Thiệu và cho xây dựng sinh từ của mình ở đó.
Cuốn thứ hai là Cao Bằng tạp chí của Bế Huỳnh. Bế Huỳnh (1857 - 1930)
quê ở xã Tĩnh Oa, tổng Tĩnh Oa, châu Thạch Lâm (nay là xã Dân Chủ, Hòa An,
Cao Bằng). Ông là người có tư chất thông minh, học rộng, được bổ làm Huấn đạo
Trùng Khánh phủ, sau là Tri châu Hà Quảng. Ông để tâm sưu tầm nghiên cứu về
lịch sử, văn hóa địa phương và viết Cao Bằng tạp chí vào năm 1921, gồm 3 tập.
Nhật tập (tập 1) có 6 chương viết về địa danh, sông núi, hang động, nguồn gốc sắc
tộc và phong tục. Nguyệt tập (tập 2) gồm 3 chương viết về chiến tranh xảy ra ở Cao
Bằng từ cổ cho đến khi Pháp bảo hộ. Tinh tập (tập 3) gồm 6 chương viết về thần từ
cổ tích (nói về các đền miếu), dị đoan lục (chuyện mê tín dị đoan), nhân vật lục (các

vấn đề giao thoa văn hóa giữa người Tày và người Việt mà Nà Lữ là một điển hình.
Thứ năm là cuốn Địa chí Cao Bằng được xuất bản năm 2000, đề cập đến các
vấn đề lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội Cao Bằng từ nguyên thủy cho đến những
năm 90 của thế kỷ XX. Song những nghiên cứu về Nà Lữ rất hạn chế, nhất là vào
thế kỷ XVII – XIX, chủ yếu đề cập đến di tích lịch sử đền Vua Lê và thành Nà Lữ.


Thứ sáu là Luận văn Thạc sĩ Văn hóa dân tộc Tày ở huyện Hòa An (Cao Bằng)
của tác giả Lô Việt Thắng. Tác giả là người ở làng Nà Lữ, xã Hoàng Tung, huyện
Hòa An. Luận văn được hoàn thành năm 2006, đề cập đến đời sống vật chất và đời
sống tinh thần của cư dân Hòa An cũng như Nà Lữ nhưng tiếc rằng, tác giả chưa chỉ
ra những yếu tố truyền thống, sự biến đổi của nó và đặc biệt là sự giao thoa văn hóa
Tày Việt ở khu vực nghiên cứu.
Cuối cùng là cuốn Địa chí các xã huyện Hòa An xuất bản năm 2008, trong đó
có phần viết về xã Hoàng Tung (tức là xã Nà Lữ xưa), đề cập đến vị trí địa lý hành
chính, kinh tế, văn hóa - xã hội nhưng chủ yếu là những vấn đề từ đầu thế kỷ XX
đến năm 2007.
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về Nà Lữ (Hòa An,
Cao Bằng) từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. Hầu hết các tác phẩm nêu trên chỉ đề
cập đến thời điểm xây dựng và một vài sự kiện lịch sử liên quan đến thành Nà Lữ
và đền Vua Lê. Nhiều vấn đề như chế độ sở hữu ruộng đất, tình hình kinh tế, chính
trị - xã hội và văn hóa của cư dân phường Nà Lữ cùng những biến động lịch sử
trong khoảng thời gian đã giới hạn chưa được làm sáng tỏ. Mặc nhiên, thành quả
của các nhà nghiên cứu đi trước không chỉ dẫn dắt chúng tôi đến với Nà Lữ, mà còn
gợi mở nhiều ý kiến quý báu cho chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu về vùng đất này
trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Chọn đề tài “Nà Lữ (Hòa An, Cao Bằng) từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX”,
chúng tôi mong muốn dựng lại một cách chân thực lịch sử Nà Lữ, qua đó có thể bổ
sung nguồn tư liệu, góp phần lý giải một số vấn đề lịch sử Việt Nam thời phong

bộ sử thời phong kiến như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám
cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Việt thông sử, Lịch triều tạp kỷ… Các bộ sử và
ghi chép của các học giả Việt Nam đương đại đã cung cấp cho chúng tôi những nét
khái quát về bối cảnh kinh tế, xã hội, làm cơ sở cho việc đi sâu khảo sát về Nà Lữ.
Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy các sách địa lý lịch sử
như: Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Đại Nam thống nhất chí, Đồng Khánh dư địa chí,
Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định), Lịch triều hiến chương loại chí
(Phan Huy Chú)… hay các sách viết về Cao Bằng như: Cao Bằng thực lục (Bế Hựu
Cung), Cao Bằng tạp chí (Bế Huỳnh), Cao Bằng sự tích (Nguyễn Đức Nhã), Cao


Bằng thành hãm sử ký (Nguyễn Đình Tông), Cao Bằng ký lược (Phạm An Phủ) …
cũng cung cấp cho chúng tôi những tư liệu cụ thể về tình hình chính trị, xã hội, văn
hóa ở địa phương có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Nà Lữ. Tuy nhiên, tài
liệu về Nà Lữ do những cuốn sách trên mang đến rất sơ lược.
Kết hợp với các nguồn tài liệu trên, tư liệu địa bạ của phường Nà Lữ và 11 địa
bạ khác thuộc tổng Hà Đàm được lập vào năm Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21
(1840) cũng được chúng tôi khai thác triệt để nhằm tìm hiểu rõ hơn về tình hình sở
hữu ruộng đất của địa phương nửa đầu thế kỷ XIX.
Sau khi thực dân Pháp chiếm nước ta, nguồn tư liệu ghi chép về Cao Bằng của
các viên quan đô hộ và các học giả người Pháp tăng lên nhiều, tiêu biểu nhất là
cuốn La haute région du Tonkin et officier colonial: Cercle de Cao Bang (Vùng cao
Bắc kỳ và viên chức thuộc địa: hạt Cao Bằng) của Paul Marabail. Cuốn sách khảo
khá kỹ về Cao Bằng với nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của
các tộc người … Điều đó ít nhiều đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về yếu tố kinh
tế, văn hóa truyền thống của Cao Bằng nói chung và Nà Lữ nói riêng.
Mặc dù chúng tôi đã cố gắng khai thác triệt để các tài liệu thư tịch nhưng vẫn
chưa đủ để nhận thức toàn diện về Nà Lữ. Để khắc phục khó khăn đó, chúng tôi tiến
hành thu thập tư liệu từ điều tra thực địa tại Nà Lữ và các vùng lân cận. Kết quả,
nguồn tài liệu thu được rất phong phú, góp phần quan trọng trong việc hoàn thành

kết hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu với các nguồn tư
liệu khác, các địa phương khác để làm nổi bật những luận điểm khoa học đưa ra.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về Nà Lữ (Hòa An, Cao Bằng)
trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. Dựa trên nguồn tư liệu khai thác
được, luận văn bước đầu khôi phục một cách có hệ thống về lịch sử, kinh tế, chính
trị, văn hóa cũng như những biến động về dân cư của vùng đất này trong lịch sử.
Kinh đô nhà Mạc cũng như hệ thống quân sự, chính sách tích cực phát triển
kinh tế, xã hội của vương triều Mạc ở Nà Lữ nói riêng và Cao Bằng nói chung được
chúng tôi bước đầu tái hiện. Đồng thời, chúng tôi cũng cung cấp những hiểu biết cơ
bản về cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc diễn ra ở Cao Bằng, trong đó, Nà Lữ là một
trong những chiến trường ác liệt nhất.


Lần đầu tiên tài liệu địa bạ phường Nà Lữ lập vào đầu triều Nguyễn được đưa
ra phân tích, từ đó cho thấy, ruộng đất tư hữu ở Nà Lữ đã chiếm ưu thế hoàn toàn
(gần 100%). Đây là kết quả của sự biến động về chính trị, dân cư và định chế khai
hoang của các triều đại phong kiến. Sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Nà Lữ trong
giai đoạn đầu thế kỷ XVII đã góp phần phá vỡ quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội
truyền thống.
Luận văn đã bước đầu công bố nguồn tư liệu về các dòng họ Tày gốc Kinh ở
Nà Lữ và một số địa phương lân cận trong vùng Hòa An, góp phần làm sáng tỏ hiện
tượng “Kinh già hóa Thổ”. Đồng thời, dựa trên nguồn tư liệu điền dã, tác giả đã
chứng minh Nà Lữ là một trong những vùng giao thoa văn hóa Tày – Việt đặc trưng
và điển hình nhất.
Luận văn được hoàn thành sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà
nghiên cứu về Cao Bằng và sinh viên khi học bộ môn Lịch sử địa phương, Nhân
học, Văn hóa học…
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết kuận, luận văn được chia thành 4 chương:

2001”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2001, Viện KCH, H.
11. Bia Đền Vua Lê, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
12. Hoàng Thị Cành (1995), Đồng dao Tày, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
13. Câu đối Cao Bằng, tài liệu Thư viện tỉnh Cao Bằng.
14. Nông Minh Châu, Vi Quốc Bảo (1973), Dân ca đám cưới Tày Nùng, Nxb Việt Bắc.
15. Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt địa dư chí, Nxb Thuận Hóa, Huế.
16. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb GD, H.
17. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nxb GD, H.
18. Trình Năng Chung, Đào Quý Cảnh (2004), Báo cáo Khảo cổ học Cao Bằng
năm 2003, tài liệu Viện Khảo cổ học, H.
19. Trình Năng Chung, Đào Quý Cảnh (2006), Báo cáo Khảo cổ học Cao Bằng
năm 2005, tài liệu Viện Khảo cổ học, H.
20. Trình Năng Chung (2002), “Bia ma nhai “Câu bi thủy kí” ở huyện Hòa An, tỉnh
Cao Bằng”, Thông báo Hán Nôm học năm 2001, tr.60-65


21. Trình Năng Chung, Lê Hải Đăng (2004), Phát hiện di tích đá cũ ở thềm sông
Gâm, tỉnh Cao Bằng, trong “Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm
2003”, Viện Khảo cổ, H.
22. Nguyễn Hữu Cung (1810), Cao Bằng thực lục, Bản dịch tại Viện Sử học.
23. Nguyễn Hữu Cung (1810), Cao Bằng thực lục, bản dịch tại Thư viện tỉnh Cao Bằng.
24. Đại Nam nhất thống chí Cao Bằng tỉnh (1967), dịch giả Đông Minh - Đặng Chu
Kình, Nha Văn Hoá, Bộ Văn hoá Giáo dục xuất bản.
25. Đại việt sử ký tiền biên (1997), Nxb KHXH, H.
26. Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Nxb Thuận Hóa, Huế.
27. Lê Quý Đôn (2006), Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa Thông tin, H.
28. Lê Quý Đôn (2006), Vân đài loại ngữ, Nxb Văn hoá Thông tin, H.
29. Đường tộc Nông Văn Vân, do ông Nguyễn Thiên Tứ ở Hưng Đạo, Hòa An cung cấp
30. Gia phả họ Bế Nguyễn, do Bế Viết Thức, Bế Xuân Trường, phố Cao Bình, xã
Hưng Đạo, huyện Hòa An cung cấp.

chế độ phong kiến Việt Nam, tập III, Nxb Giáo dục, H.
48. Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan Phương Thảo (1995), Địa
bạ Hà Đông, Nxb KHXH, H.
49. Phan Huy Lê, Nguyễn Đức Nghinh, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan
Phương Thảo (1996), Địa bạ Thái Bình, Nxb Thế giới, H.
50. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb KHXH, H.
51. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb KHXH, H.
52. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Nxb KHXH, H.
53. Lã Văn Lô (1963), “Xung quanh vấn đề Thục Phán An Dương Vương hay là
truyền thuyết "Cẩu chúa cheng vùa" của đồng bào Tày”, Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử, số 50, tr.48 – 57.
54. Lã Văn Lô (1963), “Xung quanh vấn đề Thục Phán An Dương Vương hay là
truyền thuyết "Cẩu chúa cheng vùa" của đồng bào Tày”, Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử, số 51, tr.58 - 62.
55. Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc
Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nxb KHXH, H.
56. Lã Văn Lô, Lê Bình (1965), “Lịch sử nguyên thuỷ của người Tày qua truyền
thuyết "Pú Lương quân”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 65, tr.57-63.
57. Lã Văn Lô, Bảy dòng họ thổ Ty Lạng Sơn, tài liệu Viện Dân tộc học.
58. Cung Văn Lược (1996), “Vài đặc điểm của Then nhìn từ góc độ văn bản nôm
Tày – Nùng”, Thông báo Hán Nôm học năm 1995, tr.177 -191.
59. Mạc Đăng Dung và vương triều Mạc (2000), Hội Sử học Hải Phòng xuất bản


60. Mấy vấn đề then Việt Bắc (1978), Nxb Văn Hoá, H.
61. Morita Kentaro (2008), “Tình hình Quảng Châu sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí
Cao”, Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần thứ 3, tiểu ban 1.
62. Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân (Cb-2007), Địa chí Cổ Loa, Nxb Hà Nội.
63. Nguyễn Đức Nhã, Sự tích tỉnh Cao Bằng, tài liệu Viện Sử học.
64. Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX,

83. Trương Hữu Quýnh (1982), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam, tập I, Nxb KHXH, H.
84. Trương Hữu Quýnh (1983), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam, tập II, Nxb KHXH, H.
85. Trương Hữu Quýnh - Đỗ Bang (Cb-1997), Tình hình ruộng đất nông nghiệp và
đời sống nông dân dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hoá, Huế.
86. Nguyễn Văn Siêu (2001), Phương Đình địa dư chí, Nxb VHTT, H.
87. Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng (1996), Cao Bằng đất nước con người, tài liệu
lưu hành nội bộ.
88. Phan Phương Thảo (2004), Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua tư
liệu địa bạ, Nxb Thế Giới, H.
89. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philip Papin (2003), Đồng Khánh địa dư
chí, tập 1, Nxb Thế giới, H.
90. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philip Papin (2003), Đồng Khánh địa dư
chí, tập 3, Nxb Thế giới, H.
91. Lý Thị Tiêu, Nguyễn Thị Thực, Hà Hữu Nga (1997), “Phát hiện công cụ đá cũ
tại Cao Bằng”, Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1996, Viện Khảo
cổ học, H.
92. Tỉnh uỷ Cao Bằng,Viện Sử học (1995), Nùng Trí Cao, Hội thảo khoa học, Nxb Hà
Nội, H.
93. Tỉnh ủy Cao Bằng, Viện sử học (2000), Lịch sử Cổ Trung đại Cao Bằng, Kỷ yếu
Hội thảo khoa học.
94. Tỉnh ủy Cao Bằng, Viện sử học (2007), Xác định ngày thành lập tỉnh Cao Bằng,
Kỷ yếu Hội thảo khoa học
95. Hoàng Hoa Toàn (1983), “"Sở hữu tập thể của mường bản" và "sở hữu của Thổ
Ty" đối với ruộng đất vùng Tày”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr.45-48.
96. Hoàng Hoa Toàn, Đàm Thị Uyên (1998), “Nguồn gốc lịch sử các tộc người Tày
Nùng ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr.29 -42.
97. Nguyễn Đình Tông (1835), Cao Bằng thành hãm sử ký, Thư viện tỉnh Cao Bằng
98. Nguyễn Trãi toàn tập (1960), Nxb Văn - Sử, H.
99. Mông Tô Trần (1955), Cao Bằng thủ hiến liệt phương danh, bản sao chữ Hán
do ông Mông Văn Bút ở xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh cung cấp.

118. Địa bạ xã Cù Sơn, tổng Hà Đàm, huyện Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên hiệu
Minh Mệnh 21, KH: ĐB.165, TTLTQG 1.
119. Địa bạ Gia Bằng, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên hiệu
Gia Long 4, KH: ĐB.172, TTLTQG 1.


120. Địa bạ xã Gia Bằng, tổng Hà Đàm, huyện Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Minh Mệnh 21, KH: ĐB.173, TTLTQG 1.
121. Địa bạ xã Hà Đàm, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên hiệu
Gia Long 4, KH: ĐB.180, TTLTQG 1.
122. Địa bạ xã Hà Đàm, tổng Hà Đàm, huyện Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Minh Mệnh 21, KH: ĐB.181, TTLTQG 1.
123. Địa bạ xã Kim Giáp, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Gia Long 4, KH: ĐB.141, TTLTQG 1.
124. Địa bạ xã Kim Giáp, tổng Hà Đàm, huyện Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Minh Mệnh 21, KH: ĐB.142, TTLTQG 1.
125. Địa bạ phường Nà Lữ, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Gia Long 4, KH: ĐB.130, TTLTQG 1.
126. Địa bạ phường Nà Lữ, tổng Hà Đàm, huyện Thạch Lâm, tỉnh Cao Bằng, niên
hiệu Minh Mệnh 21, KH: ĐB.131, TTLTQG 1.
127. Địa bạ Phúc Cơ, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên hiệu
Gia Long 4, KH: ĐB.200, TTLTQG 1.
128. Địa bạ xã Vu Tuyền, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Gia Long 4, KH: ĐB.254, TTLTQG 1.
129. Địa bạ xã Xuân An, tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên hiệu
Gia Long 4, KH: ĐB.329, TTLTQG 1.
130. Địa bạ xã Xuân An, tổng Hà Đàm, huyện Thạch Lâm, trấn Cao Bằng, niên
hiệu Minh Mệnh 21, KH: ĐB.330, TTLTQG 1.
III. Tiếng Pháp
131. Albert Billet (1897), Deux ans dans le Haut - Ton Kin (Hai năm ở vùng cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status