Nà Lữ (Hòa An - Cao Bằng) từ thế kỷ IX đến nửa đầu thế kỷ XIX - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyê
̃
n Thi
̣
Ha
̉
i N L (Ha An - Cao Bng) t thê
́
ky
̉
IX
đn nửa đầu thê
́
ky
̉
XIX

Trong lịch sử, Nà Lữ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự của Cao
Bằng – một tỉnh biên giới thuộc “nơi phên dậu thứ tƣ về phƣơng Bắc” nƣớc ta.
Ngay từ thế kỷ IX, Cao Biền đã cho xây dựng thành Nà Lữ, đƣa nơi đây trở
thành căn cứ quân sự quan trọng của nhà Đƣờng nhằm chống lại quân Nam
Chiếu. Vào thế kỷ XI, Nà Lữ lại đƣợc chọn là trung tâm cát cứ của cha con Nùng
Tồn Phúc, Nùng Trí Cao. Năm 1592, sau khi thất thủ ở Thăng Long, vua tôi nhà
Mạc đã chạy lên Cao Bằng tiếp tục củng cố và xây dựng chính quyền cát cứ, đặt
kinh đô ở vùng Nà Lữ, Cao Bình. Nhà Mạc đổi xã Nà Lữ thành phƣờng, xây
dựng cung điện và tu sửa thành trì. Trong suốt thế kỷ XVII, Nà Lữ luôn là mục
tiêu tấn công của quân Lê – Trịnh, hòng lật đổ chính quyền họ Mạc. Năm 1677,
Nà Lữ thất thủ, nhà Mạc chạy về Phục Hòa rồi thất bại hoàn toàn, triều đình Lê –
Trịnh trực tiếp cai quản Cao Bằng. Từ đó, Nà Lữ không còn là trấn thành nhƣng
vẫn là trung tâm của châu Thạch Lâm, là căn cứ quân sự của trấn Cao Bằng.
Có thể nói, trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX, Nà Lữ
là khu vực thể hiện tập trung nhất những biến động chính trị, xã hội cũng nhƣ
văn hoá của vùng Cao Bằng. Tìm hiểu Nà Lữ một cách thấu đáo không chỉ cho
ta có cái nhìn sâu sắc về mảnh đất nơi biên viễn mà còn bổ sung nguồn tƣ liệu
quan trọng trong việc tìm hiểu về vấn đề Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao, Bế
Khắc Thiệu, vấn đề nhà Mạc ở Cao Bằng, cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc giai đoạn
1592 - 1677 Đồng thời, nó giúp chúng ta có cái nhìn khoa học về những giá trị
kinh tế, văn hóa truyền thống của Nà Lữ, từ đó, có những chính sách phát triển
phù hợp, góp phần phát huy nguồn nội lực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của đất nƣớc.
Việc nghiên cứu Nà Lữ trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX sẽ
cung cấp nguồn tƣ liệu quan trọng, phục vụ việc giảng dạy, học tập và nghiên
cứu Lịch sử địa phƣơng, Nhân học, Văn hóa …

8
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Nà Lữ (Hòa An – Cao Bằng) từ thế kỷ
IX đến giữa thế kỷ XIX” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch


9
Thứ ba là cuốn Cao Bằng thủ hiến liệt phương danh của Mông Tô Trần sao
lục năm 1955. Đây là cuốn sách tác giả sƣu tầm đƣợc khi đi điền dã tại Cao
Bằng, do ông Mông Văn Bút (con trai của ông Mông Tô Trần) ở xã Phong Châu,
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng cung cấp. Hiện nay, bản gốc của cuốn sách
này đang đƣợc lƣu giữ tại Bảo tàng Cao Bằng. Cao Bằng thủ hiến liệt phương
danh vừa là sự sao chép một số cuốn sách của các nhà nghiên cứu trƣớc nhƣ Cao
Bằng tạp chí, Cao Bằng Tam trung sự tích biên chí, … vừa là kết quả nghiên cứu
của tác giả Mông Tô Trần. Tác phẩm gồm 49 đầu mục, 72 tờ chữ Hán Nôm đã
cung cấp cho ngƣời đọc những hiểu biết cơ bản về diên cách, điều kiện tự nhiên,
dân cƣ, phong tục tập quán, thần từ cổ tích, phƣơng pháp chữa bệnh, … ở Cao
Bằng, đặc biệt là các chức quan của huyện Thƣợng Lang, phủ Trùng Khánh và các
chức quan đứng đầu tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 1885 -1943. Tác phẩm đã cung
cấp cho chúng ta một vài tƣ liệu mới về thành cổ Nà Lữ và Đền Vua Lê nhƣ chỉ rõ
rằng sau khi Lê Thái Tổ đánh thắng Bế Khắc Thiệu đã để lại một tấm áo bào và một
thanh kiếm sắc để nhân dân thờ phụng. Sau này, khi tiêu diệt quân Mạc, vua Lê Hy
Tông lại ban áo bào và kiếm báu để thờ nhƣ cũ, đồng thời cho thờ Lê Tuân, Lê Tải
trong đền Từ những chi tiết nhƣ thế, chúng ta có đƣợc những hiểu biết rõ ràng hơn
về vùng đất Nà Lữ trong lịch sử.
Thứ tƣ là tập kỷ yếu hội thảo Văn hóa dân gian Cao Bằng do Hội văn nghệ
Cao Bằng xuất bản năm 1993. Đây là một cuộc hội thảo có sự góp mặt của rất
nhiều nhà văn hóa dân gian nổi tiếng nhƣ GS. Tô Ngọc Thanh, PGS. Vũ Ngọc
Khánh, GS. Trần Quốc Vƣợng,… Các tham luận đã cung cấp cho ngƣời đọc
những hiểu biết cơ bản về Folklore Cao Bằng. Đặc biệt, báo cáo Cao Bằng dưới
cái nhìn dân gian về sự giao hòa văn hóa Tày – Việt của GS Trần Quốc Vƣợng
đã đề cập đến vấn đề giao thoa văn hóa giữa ngƣời Tày và ngƣời Việt mà Nà Lữ
là một điển hình.
Thứ năm là cuốn Địa chí Cao Bằng đƣợc xuất bản năm 2000, đề cập đến
các vấn đề lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội Cao Bằng từ nguyên thủy cho đến

hóa xuôi ngƣợc và hiện tƣợng “Kinh già hóa Thổ”. Đó là những vấn đề lâu nay
các nhà nghiên cứu chƣa có điều kiện đi sâu tìm hiểu.
Đề tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu về Nà Lữ với tƣ cách là một xã,
đóng vai trò là trung tâm chính trị, quân sự của Cao Bằng trong giai đoạn lịch sử
từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. Trong giai đoạn đó, Nà Lữ không ngừng đƣợc
mở rộng, ban đầu là một làng, sau đó đƣợc phân tách thành nhiều làng, xóm khác
nhau. Do hạn chế về nguồn tƣ liệu, chúng tôi không thể khảo sát một cách đầy

11
đủ về quá trình thay đổi diên cách của Nà Lữ mà chỉ xác định lãnh thổ của
phƣờng Nà Lữ vào nửa đầu thế kỷ XIX thông qua tƣ liệu địa danh, địa chí, địa
bạ. Do đó, luận văn tập trung nghiên cứu Nà Lữ theo lãnh thổ đã xác định đƣợc,
bao gồm các xóm Làng Đền, Nà Lữ, Bản Giài, Nà Riềm, Khau Luông, Bó Lếch,
Bản Chạp, Bến Đò, Kế Nông thuộc xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng hiện nay, trong đó, Nà Lữ đƣợc coi là làng gốc. Các làng, xóm còn lại của
Hoàng Tung chỉ đƣợc nghiên cứu ở mức độ cần thiết để đối sánh và bổ sung cho
khu vực chính.
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên và xã
hội của Nà Lữ, quá trình lịch sử của vùng đất này cũng nhƣ đời sống kinh tế và
xã hội của cƣ dân Nà Lữ trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. Tuy
nhiên, do hạn chế về nguồn tƣ liệu, nên chúng tôi chƣa thể khôi phục diện mạo
Nà Lữ một cách đầy đủ, nhất là giai đoạn trƣớc thế kỷ XVII. Vì thế, khi nghiên
cứu về đời sống kinh tế và văn hóa, chúng tôi chỉ tập trung vào giai đoạn tồn tại
của phƣờng Nà Lữ từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Nghiên cứu về một địa phƣơng cụ thể nên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn
trong việc tìm kiếm tài liệu, nhất là một địa phƣơng ở xa trung tâm đất nƣớc nhƣ
Nà Lữ. Một vài sự kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa của Nà Lữ đã đƣợc nhắc đến
trong các bộ sử thời phong kiến nhƣ Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử

tôi tiến hành thu thập tƣ liệu từ điều tra thực địa tại Nà Lữ và các vùng lân cận.
Kết quả, nguồn tài liệu thu đƣợc rất phong phú, góp phần quan trọng trong việc
hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Chúng tôi tạm thời chia thành ba loại nhƣ sau:
- Nguồn tài liệu thƣ tịch sƣu tầm đƣợc gồm văn bia, câu đối đền Vua Lê, gia
phả các dòng họ, quy định của các hội hữu ƣớc trong làng xã, sách Then …
Những tài liệu này phản ánh cụ thể tình hình kinh tế, tín ngƣỡng, phong tục tập
quán… của cƣ dân địa phƣơng.
- Nguồn tài liệu vật chất: Bao gồm các di tích nhƣ thành Nà Lữ, đền Vua
Lê, gạch ngói nhà Mạc, đạn đá thời nhà Mạc, nhà cửa, các công cụ sản xuất, …
Đây là những chứng tích vật chất còn lại giúp chúng ta nhận thức đúng đắn hơn
về Nà Lữ trong quá khứ.
- Nguồn tài liệu truyền miệng: Bao gồm các truyền thuyết dân gian, ca dao,
tục ngữ, hát ru, đồng dao, các cách giải thích địa danh của Nà Lữ … Những tƣ
liệu này tuy mang tính ƣớc lệ, thiếu độ chính xác nhƣng nếu biết so sánh, đối

13
chiếu với các nguồn tƣ liệu khác một cách nghiêm túc thì nó lại cung cấp cho
chúng ta nhiều thông tin bổ ích để nghiên cứu về Nà Lữ.
Nguồn tƣ liệu khảo sát thực địa sau khi đƣợc xử lý theo phƣơng pháp khoa
học là nguồn tài quan trọng bổ sung cho tài liệu thƣ tịch, giúp chúng tôi bƣớc
đầu khôi phục diện mạo của Nà Lữ trong lịch sử.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, trƣớc hết chúng tôi chú ý khai thác tài liệu thƣ tịch,
kể cả những tài liệu của nhà nƣớc phong kiến và tƣ nhân còn đƣợc lƣu giữ đến
ngày nay. Nhƣng không phải lúc nào nguồn tƣ liệu gốc cũng có sẵn. Để khắc
phục sự khuyết thiếu đó, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp hồi cố, lấy kết quả từ
quá trình điều tra thực địa với mong muốn khôi phục diện mạo Nà Lữ trong giai
đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX. Ngoài phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử,
phƣơng pháp lôgic, tác giả còn sử dụng phƣơng pháp liên ngành nhƣ văn hóa
học, văn hóa dân gian, nhân học, địa lý học … để nghiên cứu Nà Lữ một cách

nhà nghiên cứu về Cao Bằng và sinh viên khi học bộ môn Lịch sử địa phƣơng,
Nhân học, Văn hóa học…
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết kuận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng:
- Chƣơng 1: Nà Lữ: Mấy nét khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và
xã hội. Chƣơng này tập trung làm rõ duyên cách và vị trí địa lý phƣờng Nà Lữ
cũng nhƣ nguồn gốc dân cƣ và quá trình tộc ngƣời diễn ra ở đây trong giai đoạn
từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX.
- Chƣơng 2: Quá trình lịch sử. Chƣơng này làm rõ lịch sử Nà Lữ từ thời
nguyên thủy cho đến giữa thế kỷ XIX, nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản về
những biến động chính trị, xã hội đã xảy ra ở vùng đất này.
- Chƣơng 3: Đời sống kinh tế phường Nà Lữ. Chƣơng này tập trung phân
tích địa bạ đầu thời Nguyễn, nhằm làm rõ chế độ sở hữu ruộng đất phƣờng Nà
Lữ, đồng thời phác họa mô hình kinh tế truyền thống của phƣờng Nà Lữ.
- Chƣơng 4: Đời sống văn hóa phường Nà Lữ. Chƣơng này tập trung nghiên
cứu đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cƣ dân địa phƣơng, từ đó làm rõ
sự giao thoa văn hóa Tày – Việt trong lịch sử.
15

CHƢƠNG 1
NÀ LỮ: MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ,
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Nà Lữ là một cánh đồng cổ của Cao Bằng, đã xuất hiện trong truyền thuyết

Hoàng Tung hiện nay là: xóm Làng Đền, Nà Lữ, Bản Giài, Nà Riềm, Khau
Luông, Bó Lếch, Bản Chạp, Bến Đò, Kế Nông. Các xóm này nằm về phía Đông
của xã, giáp sông Bằng.
Nà Lữ là cách gọi theo tiếng Việt, biến âm từ tiếng Tày cổ “Nà Lậc” mà
thành. “Nà Lậc” nghĩa là ruộng sâu, lầy thụt. Theo các cụ già địa phƣơng kể lại,
Nà Lữ ngày xƣa là một vùng đất trũng ven sông, quanh làng Nà Lữ đã có 12
giếng nƣớc tự nhiên. Nhiều khu ruộng cao của Hoàng Tung hiện nay xƣa là đầm
lầy nhƣ khu Nà Ó (ruộng cây sậy) (nay thuộc Bản Chạp). Đầu thế kỷ XX, nhân dân
mới khai phá vùng Nà Ó, cải tạo thành ruộng lúa. Hơn nữa, những địa danh có tiền
tố “ao” nay đã trở thành ruộng cao, dùng để cày cấy nhƣ Ao Quan, Ao Cả, Ao Xe,
Thâm Rạng (Ao voi) Nà Lữ còn có tên gọi là Nà Lự hay Na Lữ. Đây là các cách
phát âm khác của cƣ dân địa phƣơng và các vùng lân cận. Có tên gọi là Nà Lự bởi
trong phát âm của ngƣời Tày không có dấu ngã, nên những từ có dấu đó nhiều khi
chuyển thành dấu nặng.
Nà Lữ nằm ở trung tâm khu vực lòng máng sông Bằng (cánh đồng Hoà An
hiện nay), có độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển là 250 - 350m. Do nằm
giữa hai dãy núi đá vôi Bảo Lạc - Tắp Ná và Lục Khu Hà Quảng - Trà Lĩnh, ở
giữa có sông Bằng chảy qua, nên Nà Lữ cũng nhƣ khu vực Hoà An có một vùng
đất rộng rãi với những cánh đồng phì nhiêu nằm xen với đồi núi.
Đồi núi ở Nà Lữ nằm trong dãy núi đất bắt nguồn “từ xã Triều Vũ huyện
Nguyên Bình chạy đến núi Thiên Mã (núi đất) xã Phúc Tăng, tản đi các xã Phúc
Cơ, Hà Đàm, Nà Lữ, An Ninh rồi hết, dài khoảng 20 dặm” [89, tr.661]. Vì thế, ở
Nà Lữ núi đất là chủ yếu, chiếm khoảng 20% diện tích tự nhiên của vùng, tạo
thành những rừng cây um tùm, rậm rạp, cung cấp cho cƣ dân địa phƣơng nhiều
lâm sản. Các loại gỗ quý nhƣ lim, táu, nghiến, lát sả kài, cáng lò, bồ đề dùng

17
để làm nhà cửa và các vật dụng gia đình; các loại cây hƣơng liệu và thuốc quý
nhƣ kim mao cẩu tích, sa nhân, hà thủ ô, tam thất, mộc nhĩ, nấm hƣơng, ; các
loại rau, thực phẩm nhƣ măng, rau ngót rừng, rau dển, củ nâu, củ chàm Mây,

Trong lịch sử, Nà Lữ đã từng đóng vai trò là kinh đô, là trung tâm chính trị
của một vùng nên giao thông rất thuận lợi, có cả đƣờng bộ và đƣờng thuỷ. Sách
Đồng Khánh địa dư chí có nhắc đến một con đƣờng nhỏ đi từ phủ lỵ Hoà An
(tức là Cao Bình, xã Hƣng Đạo hiện nay) theo hƣớng Tây Nam qua các xã Nà
Lữ, Lân Chỉ (huyện Thạch Lâm), các xã Gia Bằng, Bằng Đức (huyện Nguyên
Bình) đến xã Vân Tòng giáp giới huyện Cảm Hoá (tỉnh Thái Nguyên) [89,
tr.658]. Nà Lữ còn nhiều đƣờng mòn, có thể sử dụng những phƣơng tiện thô sơ
nhƣ ngựa, xe trâu nối liền các bản với nhau, các bản với rừng và đồng ruộng.
Nhiều con đƣờng đã đƣợc nhân dân cải tạo thành đƣờng lớn, ô tô có thể vào
đƣợc nhƣ đƣờng nối liền từ Làng Đền, Nà Lữ qua Bến Đò, Bản Chạp, Kế Nông,
Bó Lếch, đến Bản Tấn có một đƣờng đi Quốc lộ 3; một đƣờng đi Hào Lịch, đến
Lam Sơn (xã Hồng Việt) lại có một đƣờng qua cầu Hoằng Bó lên Thị trấn Nƣớc
Hai, một đƣờng đi Minh Tâm, Nguyên Bình.
Nà Lữ nằm ở khu vực trung tâm cánh đồng Hòa An, lại có sông Bằng chảy
qua nên cũng đƣợc coi là một trong những đầu mối giao thông về đƣờng thuỷ,
thuận tiện cho việc thông thƣơng với các địa phƣơng trong tỉnh và với Trung
Quốc. Trên con sông này, những chiếc thuyền mành và bè mảng thƣờng xuyên
chuyên chở khách du lịch và thƣơng nhân đi lại buôn bán giữa Trung Quốc và
Cao Bằng [135, tr.181]. Thƣơng nhân ngƣời Hoa có thể đi thuyền từ Long Châu
(Trung Quốc) sang buôn bán ở các chợ dọc sông Bằng. Qua khảo sát thực tế cho
thấy, Nà Lữ từng có 3 bến đò (thuộc các xóm Làng Đền, Nà Lữ và Bến Đò). Từ
đây, ngƣời dân địa phƣơng có thể đi thuyền mảng lên buôn bán ở Háng Cáp
(Nƣớc Hai), Nà Giàng (Hà Quảng), Mỏ Sắt (xã Dân Chủ), có thể sang phố Cao
Bình (Háng Shéng), hoặc xuôi xuống Mục Mã cũng nhƣ các chợ miền Đông Cao
Bằng, thậm chí sang tận Long Châu (Trung Quốc). Tuy nhiên, sông Bằng thƣờng
bị cạn nƣớc vào mùa đông, và lòng sông luôn ẩn chứa những ghềnh đá nguy
hiểm vào mùa hè [135, tr.181]. Do đó, càng về sau, giao thông đƣờng thủy càng
mất vai trò của mình trong việc thông thƣơng với Trung Quốc.

19

C. Nhƣng nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm
rất lớn. Ban ngày, trời quang, nắng ấm, nhiệt độ lên khá cao nhƣng ban đêm
giảm xuống rất thấp, biên độ trung bình ngày từ 8 -10
0
C, nhất là vào thời gian
giao mùa [6, tr.12-13]. Vì thế, vào khoảng tháng 3, 4 và tháng 7-8 (âm lịch),
ngƣời dân Nà Lữ đêm ngủ vẫn phải đắp chăn bông. Ngƣời dân thƣờng có câu ca:
“Bƣơn chất dân rẻt rẻt - Bƣơn pét dân rịu rịu” (tức là tháng 7 mới chớm rét,
tháng 8 đã thấy lạnh buốt). Vào mùa nóng, nhiệt độ thấp nhất là 25
0
C, cao nhất
có thể lên tới 37
0
C. Thời gian nóng nhất trong năm là tháng 5, tháng 6.
Do ở xa biển, nên lƣợng mƣa trung bình hàng năm của Nà Lữ đạt từ 1300 -
1500mm. Song lƣợng mƣa không phân bố đều trong các tháng, mùa mƣa chỉ kéo

20
dài trong vòng 5 tháng nhƣng tập trung tới 70 - 80% tổng lƣợng mƣa của năm.
Thời gian mƣa nhiều nhất là tháng 6, tháng 7, lƣợng mƣa trung bình tháng có thể
lên tới 300mm. Những tháng mùa khô thì khác hẳn, lƣợng mƣa chỉ đạt từ 4 -
50mm. Trong thời gian này thƣờng xảy ra hạn hán trầm trọng, có khi 4 tuần liền
không có mƣa. Ví dụ vào tháng 2, 3 năm 1962 ở Hoà An có tới 53 ngày liền
không mƣa gây ra nạn hạn hán kéo dài [6, tr.31-32]. Thỉnh thoảng ở Nà Lữ cũng
xuất hiện những thiên tai khác nhƣ sƣơng muối, mƣa đá gây ảnh hƣởng không
nhỏ đến sản xuất.
Ở Nà Lữ, độ ẩm tƣơng đối cao, trung bình từ 75 - 85%. Độ ẩm có thể giảm
xuống dƣới 30%, nhất là vào khoảng tháng 12 và tháng 1. Nhƣng sang thời kỳ
mƣa phùn vào tháng 2, 3 độ ẩm có thể đạt tới hơn 90% .
Khí hậu trên đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt và sản

Tỷ lệ (%)
Ghi chú
1
Tày
2710
83,00

2
Nùng
327
10,02

3
Kinh
211
6,46

4
Mông
11
0,34

5
Dao
6
0,18

Tổng
3265
100,00

nhật tập, Bế Huỳnh đã chia ngƣời Thổ (ngƣời Tày) thành bốn loại là Thổ ty (con
cháu công thần triều Lê đƣợc phân phong thế tập cai quản ở đây), Phụ Đạo
(ngƣời Tày bản địa đƣợc triều đình phong làm phụ đạo), Thổ trƣớc (dân Tày bản
địa) và Biến Thổ (ngƣời ở dƣới đồng bằng hoặc đi việc vua, đi dạy học mà tới,
dân tứ xứ đến buôn bán cùng con cháu bề tôi nhà Mạc, những ngƣời phò giúp
Tây Sơn an trí ở đây …) [36, tr.2]. Hiện nay, gia phả của các dòng họ đều phản
ánh hiện tƣợng này.
Vào thế kỷ XV, vua Lê Thái Tổ đem quân lên đánh Bế Khắc Thiệu - một vị
tƣớng của ngƣời Tày đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Sử
cũ chép “Thành Nà Lữ từ khi Thái Tổ nhà Lê lên đánh Bế Khắc Thiệu, đóng lại
ở thành ấy, sau làm điện để thờ sống, sai dân làng ấy phải quét dọn điện ấy” [22,
tr.48]. Không chỉ lập sinh từ, vua Lê còn cho hai võ tƣớng là Lê Tuân, Lê Tải ở
lại, đóng trong thành Nà Lữ, trông coi trấn ải Cao Bằng. Gia phả dòng họ Lê ở
Nà Giƣởng (xã Hồng Việt) và Nà Lữ (xã Hoàng Tung) còn ghi rõ Lê Vĩnh Tải,
ngƣời Thanh Hóa theo Lê Lợi khởi nghĩa chống Minh giành thắng lợi, đƣợc
phong tƣớc, đặt phủ tại Bắc Ninh. Năm 1430, hai ông theo vua Lê Thái Tổ lên
đánh Bế Khắc Thiệu, sau đó đƣợc lệnh ở lại trấn giữ vùng Cao Bằng. Trên hoành
phi bàn thờ họ Lê còn khắc: “Nguyên tự Bắc Ninh phù ngự giá” [31]. Ban đầu
họ Lê ở Nà Lữ, nhƣng khi nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long, lên Cao Bằng, định đô
ở Nà Lữ (sau mở rộng sang Cao Bình) vào cuối thế kỷ XVI đã đẩy dòng họ này
sang tận Nà Giƣởng, sát chân dãy núi Thiên Mã (Lam Sơn ngày nay). Lúc này, Nà
Lữ lại đƣợc bổ sung thêm một lớp cƣ dân mới thuộc dòng dõi con cháu, quan
quân của nhà Mạc.

23
Sau 85 năm đóng đô ở Cao Bình - Nà Lữ, năm 1677, nhà Mạc bị quân Lê -
Trịnh đánh bại. Con cháu nhà Mạc phải đổi họ và phần lớn chạy đi nơi khác sinh
sống nhƣ dòng họ Ma, Mạc ở Minh Tâm (Nguyên Bình), họ Mông ở Đức Hồng,
Phong Châu (huyện Trùng Khánh), họ Ma ở Chí Thảo (Quảng Uyên) Một bộ
phận nhỏ con cháu nhà Mạc lấy họ mẹ là họ Phạm ở lại sinh sống tại Nà Lữ. Lớp

viết: “Hậu duệ của Nùng thị ngày nay trong tỉnh hạt không còn. Duy truyền rằng,
nghe nói thời kỳ chiến tranh giữa nhà Trần với nhà Nguyên, có cháu tằng tôn của
Nùng Trí Cao tên là Hùng Công, từ tỉnh Vân Nam của Bắc quốc dắt gia quyến
ngầm trở về nƣớc ta lập nghiệp ở Bảo Lạc, tức là hậu duệ của Trí Cao” [38,
tr.68]. Song ông cũng nghi vấn về điều này. Hiện nay, dòng họ Nông ở Bảo Lạc
vẫn truyền đời lại mình là con cháu của Nùng Trí Cao và viết thành cuốn gia phả
của dòng họ Nông (họ Nùng) bắt đầu từ đời Nông Dân Phú [29]. Rất có thể,
cùng với tiến trình lịch sử tiếp diễn về sau, từ tên gọi tộc họ đã chuyển hoá thành
tộc danh để chỉ tộc ngƣời sinh sống trên địa bàn lãnh thổ họ Nùng trƣớc kia (tức
là Cao Bằng và một vài tỉnh Đông Bắc của nƣớc ta). Nhƣ vậy, vào khoảng thời
gian từ thế kỷ VIII cho đến thế kỷ XI, ở Nà Lữ đã có tộc ngƣời Nùng sinh sống.
Sau sự biến Nùng Trí Cao, họ đã dần hoà nhập vào cộng đồng Tày địa phƣơng, trở
thành những ngƣời Tày bản địa. Bởi, hai tộc ngƣời Tày và Nùng có chung nguồn
gốc lịch sử, chung hệ ngôn ngữ và có văn hoá về cơ bản giống nhau, nên rất dễ diễn
ra quá trình hòa hợp tộc ngƣời.
Trong khi đó, ở bên kia biên giới sau ngày nƣớc Cộng hoà Nhân dân
Trung Hoa thành lập, tộc ngƣời Nùng đã hợp nhất vào cộng đồng ngƣời Choang
và tộc danh Nùng để chỉ bộ phận ngƣời Choang ở các khu vực Tây và Tây Nam
Quảng Tây, Trung Quốc nhƣ Bình Quả, Đô An, Mục Biên, Đức Bảo và các
vùng Đông Nam Vân Nam nhƣ Văn Sơn cùng một số vùng thuộc vùng biên giới
Trung- Việt thuộc tỉnh Quảng Tây và Vân Nam. Tộc ngƣời Nùng ở Việt Nam
ngày nay là bộ phận ngƣời Nùng ở bên kia biên giới nhập cƣ sang. Ở Cao Bằng,
“ngoài ngƣời Nùng Mấn và Nùng Vảng là ngƣời bản địa vốn có, còn lại đều là
loại hai ba trăm năm hoặc năm sáu mƣơi năm trƣớc mới từ phƣơng bắc di cƣ
xuống đây, ở lẫn lộn với ngƣời Thổ, ngƣời Nùng bản địa. Họ khai khẩn đất đai
mà canh tác nộp thuế nên đều trở thành ngƣời Nùng bản địa” [36, tr.3]. Thực ra,
các nhóm Nùng sang nƣớc ta sớm nhất là cách ngày nay khoảng từ 300- 400
năm, cũng có nhóm mới sang đƣợc mấy đời và ngày nay vẫn còn giữ đƣợc mối
quan hệ họ hàng với ngƣời đồng tộc ở bên kia biên giới.
Cả tỉnh Cao Bằng hiện nay có 13 nhóm Nùng khác nhau nhƣng ở xã

hạng 3 nhƣng do nằm giáp sông Bằng, lại có hệ thống suối dày đặc, đảm bảo
nguồn nƣớc tƣới thƣờng xuyên nên ruộng đất của Nà Lữ đƣợc khai phá sớm, ít bị
bỏ hoang. Nà Lữ không chỉ có ruộng đồng mà còn có núi rừng, sông suối, thuận
lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng kết hợp với kinh tế khai thác tự
nhiên

26
Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, Nà Lữ sớm trở thành nơi tập trung
đông dân cƣ và là trung tâm chính trị, quân sự của Cao Bằng trong quá khứ. Trải
qua các giai đoạn lịch sử, thành phần dân cƣ, dân tộc của Nà Lữ có nhiều xáo
trộn. Trƣớc sự kiện vua Lê Thái Tổ mang quân lên đánh Bế Khắc Thiệu, dân cƣ
địa phƣơng hầu hết là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, trong đó
ngƣời Tày là chủ yếu. Nhƣng từ thế kỷ XV, đặc biệt là thế kỷ XVI – XVII, trải
qua những biến động chính trị, cƣ dân gốc còn lại rất ít, thay vào đó là lớp cƣ
dân mới, chủ yếu là ngƣời Kinh từ miền xuôi lên theo nhà Mạc và nhà Lê –
Trịnh. Do cùng sinh sống lâu dài trong một địa vực nhất định mà quá trình hòa
hợp giữa tộc ngƣời Kinh và tộc ngƣời Tày ở đây đã diễn ra và trở thành điển
hình cho hiện tƣợng “Kinh già hóa Thổ”. Song, dù là ngƣời bản địa hay di cƣ từ
nơi khác đến, có nguồn gốc, phong tục và ngôn ngữ khác nhau nhƣng khi tới địa
phƣơng sinh sống đều thƣơng yêu đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết gắn bó, cùng đấu
tranh chống thiên tai, giặc giã, xây dựng quê hƣơng mới ngày càng giàu đẹp hơn.

Hoàng Tung. Đây là một tropper đƣợc ghè hai nhát lớn từ hai phía để tạo thành
mũi nhọn [91, tr.96-97]. Những công cụ này thuộc dạng của văn hoá Sơn Vi
hang động Tây Bắc [79, tr.28]. Dấu tích của nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn
cũng đƣợc tìm thấy nhiều ở các huyện của Cao Bằng. Ngay tại Ngƣờm Bốc, cách
Nà Lữ không xa, các nhà khảo cổ học đã đào thám sát, thu đƣợc một khối trầm
tích Canxi Cácbonnat có chứa hóa thạch động vật và vỏ ốc suối khá lớn hầu hết đã
đƣợc chặt đít, 11 hiện vật bằng đá. Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ khẳng định
đây là một di tích cƣ trú của ngƣời nguyên thủy sống vào giai đoạn chuyển tiếp
giữa thời đại đá cũ và đá mới, tƣơng đƣơng với giai đoạn văn hóa Hòa Bình sớm
[18, tr.3-5].
Những vết tích thời đại đá ở khu vực này tuy còn rải rác nhƣng cũng cho ta
thấy sự phát triển liên tục của các nền văn hoá khảo cổ tại Cao Bằng… Mặc dù
chƣa tìm đƣợc tầng văn hóa nhƣng rõ ràng, ngƣời nguyên thủy đã có mặt ở Hòa
An và có thể xem giai đoạn “Pú Luông Quân” là giai đoạn xã hội thị tộc nguyên
thủy của ngƣời Tày - Thái mà sử cũ gọi là bộ lạc Tây Âu.

28
Trải qua lao động và sáng tạo, xã hội loài ngƣời ngày càng phát triển. Vào
giai đoạn hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí, công xã thị tộc dần tan rã, công xã nông
thôn dần đƣợc hình thành. Truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa của đồng bào Tày
Cao Bằng phản ánh một xã hội phụ hệ đang mạnh bƣớc tới ngƣỡng cửa văn
minh, của sự hình thành nhà nƣớc. “Nƣớc Nam Cƣơng” nằm ở phía Nam Trung
Quốc và vùng đất Cao Bằng ngày nay, giáp với nƣớc Văn Lang, do Thục Chế -
cha của Thục Phán - làm vua, kinh đô đặt ở Nam Bình (tức Cao Bình thuộc xã
Hƣng Đạo, Hòa An hiện nay). Đó là một liên minh bộ lạc gồm mƣời mƣờng, mỗi
chúa cai quản một xứ nhƣng lệ thuộc vào mƣờng trung tâm của Thục Chế, cứ ba
năm tiến cống một lần. Khi Thục Chế chết, Thục Phán còn nhỏ tuổi, các chúa
mƣờng kéo quân đến vây kinh thành đòi nhƣờng ngôi. Thục Phán tổ chức cuộc
thi tài giữa các chúa, ai thắng cuộc sẽ nhƣờng ngôi cho. Bằng tài trí thông minh
của mình, Thục Phán đã khéo tìm cách làm cho các chúa phải thua cuộc, giữ vững

đƣợc gọi là ngƣời Lão. Vua Đƣờng Thái Tông lên ngôi, muốn kiểm soát chặt chẽ
hơn vùng Tả, Hữu Giang nên “ở Quế Tây lập 36 châu “ki mi”, ở An Nam đô hộ
phủ lập 41 châu “ki mi” Từ đấy nhân dân Tày - Nùng dần chịu sự thống trị của
phong kiến Hán tộc. Do đó, các thủ lĩnh Tày - Nùng ở Tây Nguyên lần lƣợt nổi
dậy phản kháng, nổi tiếng nhất là các cuộc nổi dậy của Hoàng động” [115, tr.80].
Cũng trong thời gian này, các bộ tộc ở phía Nam Quý Châu, Vân Nam (Trung
Quốc) đã nổi dậy chống ách đô hộ của phong kiến Hán, lập thành một quốc gia
riêng vào khoảng giữa thế kỷ VIII, mà sử sách gọi là nƣớc Nam Chiếu. Tháng 12
năm thứ 12 niên hiệu Đại Trung đời Tuyên Tông (năm 858), “thổ Man đem quân
Nam Chiếu đến đánh úp bản phủ, hạ đƣợc phủ thành”. Lý Hộ lúc bấy giờ là Đô
hộ An Nam đã bỏ chạy về Vũ Châu Đến năm thứ 2 niên hiệu Hàm Thông
(năm 861), Lý Hộ “chiêu tập thổ binh đánh lũ Man, lấy lại đƣợc phủ thành”
[114, tr.34]. Nhƣng sau đó, quân Nam Chiếu lại quay trở lại cƣớp phá, đến năm
thứ 4 niên hiệu Hàm Thông (863) “Nam Chiếu lại đem 5 vạn quân Man tới đánh,
hạ đƣợc phủ thành” [114, tr.35]. Năm 864, vua Đƣờng Ý Tông liền cử Cao Biền
làm “An Nam đô hộ phủ Kinh lƣợc Chiêu thảo sứ, đƣợc giao phó hết quân lính
của Trƣơng Nhân đem đi” [114, tr.35-36]. Tháng 9 năm đó, Cao Biền thống suất
quân đội tấn công quân Nam Chiếu, “chém đƣợc tƣớng Man là Đoàn Thiên Tù
và chém quân thổ Man tới 3 vạn đầu” [114, tr.36]. Sau khi đánh thắng quân Nam
Chiếu, nhà Đƣờng bỏ Đô hộ phủ và đặt Tĩnh Hải quân, phong Cao Biền làm Tiết
độ sứ. Tháng 4 niên hiệu Hàm Thông 7 (năm 866), “Biền sai đắp thành Đại La
và đắp hai thành Nà Lữ, Phục Hoà” [22, tr.48-49]. Theo Cao Bằng thủ hiến liệt
phương danh, vào khoảng đời từ Tự Đức đến Thành Thái, có ngƣời ở các thành
Nà Lữ, Phục Hòa cày cấy đào đƣợc các đồ dao đồng, đấu đồng mấy mƣơi món,
đều có niên hiệu Hàm Thông thứ 7” [99, tr.118]. Sự kiện này phần nào chứng tỏ
vai trò quan trọng của Nà Lữ trong vùng biên cƣơng của Tổ quốc vào thế kỷ VIII -

30
IX. Thành Nà Lữ đƣợc xây dựng nhƣ thế nào? Hiện nay, chúng tôi chƣa tìm đƣợc
nguồn tài liệu cụ thể. Dấu tích của thành ở khu vực Làng Đền (Nà Lữ) không còn

biên giới Việt - Trung gần nhƣ bị xoá bỏ trong phân định các khu vực hành chính
đƣơng thời. “Về phía Tây Cao Bằng, dân Man sống thành từng động không hẳn

Trích đoạn Trung tâm cát cứ của Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao thế kỷ Quân thành thế kỷ Kinh đô nhà Mạc cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ Đồn binh và phường Nà Lữ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ Tình hình sở hữu ruộng đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status