Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường đại học kiến trúc hà nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
------------------------------------------------

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI CHO SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC.

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2008


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, đạo đức có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc nhân cách con người Việt Nam
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp
hành Trung ương khoá VIII của Đảng đã xác định tư tưởng, đạo đức và lối sống là những
lĩnh vực then chốt của văn hoá hiện đang có những chuyển biến quan trọng. Vì vậy nhiệm
vụ cấp bách hiện nay là: “Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống văn hoá lành mạnh trong
xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, trong các đoàn thể quần
chúng và từ gia đình”[12, tr.16].
Trong sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện cơ chế
thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hóa, một mặt mang lại sức sống mới cho dân tộc,
mặt khác lại có nguy cơ xa rời thậm chí đối lập với các giá trị đạo đức truyền thống. Vì
thế đi vào cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, song phải luôn luôn coi trọng những giá trị
truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không tự đánh mất mình trở thành bóng mờ hoặc

Một số đề tài luận văn, luận án đã đề cập vấn đề này ở những góc độ khác nhau:
“Tìm hiểu lối sống của sinh viên Hà Nội trong thời kỳ đổi mới”, luận văn thạc sỹ của
Phạm Xuân Cảnh, (1996); “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên Việt Nam hiện nay” của Trần Sỹ Phán, (1999); “Vấn đề xây dựng đạo đức
mới cho cán bộ cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Đặng
Thanh Giang, (2001); Vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Đại học Việt
Nam hiện nay” của Vũ Đình Giáp (2003); “Đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam -Thực trạng và giải pháp” của Vũ Thanh Hương, (2004)…
Như vậy, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức, xây
dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay nhưng chưa có một công trình nào
nghiên cứu về giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội. Vì thế,
việc chọn đề tài nghiên cứu “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc
Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại đất nước” cũng nhằm góp phần giải quyết
vấn đề trên.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Qua khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến
Trúc Hà Nội, trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
đạo đức mới cho sinh viên của trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3.2. Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài sẽ là:
- Khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường
Đại học trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.


- Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục đạo đức mới của sinh viên trường Đại học Kiến
Trúc Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho
sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.

trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại đất nước - Thực trạng và những vấn đề đặt ra.

Chương 3. Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội hiện nay.

Chương 1


TẦM QUAN TRỌNG, NỘI DUNG, YÊU CẦU GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

1.1. Đạo đức mới và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên
ở Việt Nam hiện nay.

1.1.1 Đạo đức và đạo đức mới.
Danh từ đạo đức được bắt nguồn từ tiếng Latinh là “mos” (moris), nghĩa là lề thói,
sau đó xuất hiện từ mới là “moralis”, có nội dung liên quan với lề thói, đạo nghĩa. Còn có
một danh từ thường được xem như đồng nghĩa với đạo đức là luân lý học, có gốc từ chữ Hy
Lạp là “Ethicos”, nghĩa là lề thói, tập tục. Như vậy, khi ta nói đến đạo đức là nói đến những
lề thói, tập tục, biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong giao tiếp với nhau
hàng ngày.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đạo đức được hình thành từ trong lao
động và là sản phẩm có ý thức của con người. Đạo đức là hình thái ý thức xã hội đặc thù, nó
hình thành và phát triển cùng với các hình thái ý thức xã hội khác, tác động đến tồn tại xã hội
và có ảnh hưởng qua lại với các hình thái khác.
Quan điểm macxit coi đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và
xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Ý thức đạo đức là sự phản ánh thực tiễn các
quan hệ lợi ích trong xã hội, là sản phẩm của thực trạng kinh tế - xã hội. Nó vận động và phát
triển trong sự đối lập giai cấp khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên, bất luận

toàn bộ đạo đức thì điều quan trọng là phải làm cho lợi ích riêng tư của con người phù hợp
với lợi ích của loài người.
Xét từ quan điểm lợi ích và hệ thống quy tắc, chuẩn mực, G. Bandzeladze coi “đạo
đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện, tự giác của những con
người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ xã hội nói chung” [2, tr.48,104]. Còn các tác
giả trong giáo trình Đạo đức học quan niệm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội [48, tr.12].
Ngày nay, đạo đức được xem xét ở ba phương diện chủ yếu sau:
- Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm toàn bộ những quan
điểm, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con
người với con người, con người với xã hội nhằm đảm bảo quan hệ lợi ích của cá nhân với
cộng đồng.
- Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Những chuẩn mực
(khuôn phép) và quy tắc là những yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định nhằm
điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong quan hệ với nhau và với xã hội. Những chuẩn mực
và quy tắc, hành vi nhất định được công luận xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận,


hướng dẫn các cá nhân hoạt động trong khuôn khổ được phép và tránh những hành vi không
được phép.
- Đạo đức là một hệ thống giá trị. Đó là các giá trị vật chất và tinh thần; các giá trị sản
xuất và tiêu dùng; các giá trị chính trị - xã hội, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo.

Đạo đức có những chức năng cơ bản sau:
Trước hết, là chức năng điều chỉnh hành vi. Đạo đức là một phương thức
điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức làm cá nhân và xã hội
cùng tòn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng.

Triết học, (6).
8. Bộ Giáo dục đào tạo (2003), Báo cáo tổng kết công tác sinh viên giai đoạn
1998 - 2002, Hà Nội.
9. Bộ Lao động thương binh xã hội (1996), Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng
kinh tế, Nxb Lao động.
10. Báo điện tử Vietnamnet.com.vn (26/12/2006), Trò chuyện với nguyên Tổng
Bí Thư Đỗ Mười về lớp trẻ hôm nay.
11. C. Mác, Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội,
tr. 128, 262.
12. C. Mác, Ăng ghen (1997), Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
tr. 681.
13. Phạm Khắc Chương (1997), “Thực trạng và một số giải pháp giáo dục đạo
đức cho thanh niên sinh viên hiện nay”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên
nghiệp (2), tr. 14.
14. Đinh Thị Vân Chi (2003), Nhu cầu giải trí của Thanh Niên, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, tr. 192 - 193.


15. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi của
các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí triết học
(1).
16. Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KX - 06 (1990 - 1995), Báo cáo
tổng quan, tr.134 -135.
17. Lương Minh Cừ (2003), “Một số ý kiến về công tác giáo dục chính trị, tư
tưởng cho sinh viên hiện nay”, Tạp chí giáo dục (2).
18. Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) (2002), Giá trị
truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.

hiện nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr. 76.
34. Đoàn Nam Đàn (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
35. Đặng Thanh Giang (2001), Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ cơ sở
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ triết
học.
36. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 115.
37. Phạm Minh Hạc (1995), Giáo dục con người cho hôm nay và ngày mai, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, tr. 207.
38. Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2003), Về phát triển văn
hoá và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính
trị Quốc Gia, Hà Nội, tr. 248 - 249.
38. Phạm Minh Hạc (1994), Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới, Hà
Nội, tr. 122.
39. Nguyễn Văn Hòa (1997), “Đôi điều trăn trở về môn học”, Tạp chí Đại học
và giáo dục chuyên nghiệp (1), tr.19.


40. Nguyễn Minh Hiển (2000), Tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt đáp ứng nhu
cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Giáo dục Đào
tạo, Hà Nội.
41. Đoàn Đức Hiếu (2003), Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
42. Nguyễn Phương Hoa (2003), “Cách tiếp cận tâm lý học trong giáo dục và
rèn luyện đạo đức”, tạp chí Tâm Lý học (8).
43. Đỗ Lệ Hằng (1997), “Tìm hiểu hiện tượng quay cóp trong sinh viên hiện
nay”, Chuyên đề sinh viên (7) tr. 6.
44. Nguyễn Thị Hằng (2004), Tìm hiểu lối sống của sinh viên TP Hồ Chí Minh
qua việc sử dụng thời gian rỗi, Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia

60. Hồ Chí Minh (1990), Vấn đề giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
61. Đỗ Mười (1996), “Phát triển mạnh giáo dục đào tạo, phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục
(2), tr 2.
62. Nguyễn Chí Mỳ (1999), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền
kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý mới ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 68 - 69.
63. Nguyễn Văn Phúc (2006), “Về một số giải pháp xây dựng nhân cách đạo
đức hiện nay”, Tạp chí triết học (6), tr. 2
64. Nguyễn Văn Phúc (1996), “Về vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát
triển nhân cách trong cơ chế thị trường”, Tạp chí triết học (10), tr. 15.
65. Nguyễn Văn Phúc (2006), “Khía cạnh đạo đức của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”, Tạp chí triết học (4), tr. 6.
66. Nguyễn Duy Quý (2003), Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
67. Nguyễn Duy Quý (chủ biên) (2006), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay.
Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 117,179.
68. Đinh Ngọc Quyên, Hồ Thị Thảo, Lê Ngọc Triết, Giáo trình Đạo đức học
Mác - Lênin.
69. Đặng Quang Thành (2005), Xây dựng lối sống văn hoá của thanh niên
Thành phố Hồ chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 32.


70. Đặng Quang Thành (2005), Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên
thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội.
71. Đoàn Văn Thái (2004), Nhiệm vụ cơ bản của thanh niên Việt Nam trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.27.
72. Trung tâm khoa học xã hội nhân văn (1996), Những vấn đề đạo đức trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status