Nghiên cứu ứng dụng mô hình kho lưu trữ truy cập mở nội bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
------------

NGUYỄN THỊ HIỀN

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
MÔ HÌNH KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học : QH - 2009 – X

HÀ NỘI – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
------------

NGUYỄN THỊ HIỀN

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
MÔ HÌNH KHO LƯU TRỮ TRUY CẬP MỞ NỘI BỘ
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp
của các thầy cô giáo, các cán bộ thư viện, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu
và những người quan tâm tới đề tài này để làm cơ sở cho tác giả có thể hoàn
thiện, giúp đề tài mang tính thực tiễn cao hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiền


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Từ viết tắt tiếng Việt
STT
1.
2.
3.
4
5.
6.
7.
8.
9.
9.
11.

Từ viết tắt
BST
CNTT
CSDL
ĐHQGHN


CC

Creative Commons

2.

OA

Open Access

3.

OAI - PMH

4.

SPARC

Open Archives Initiative - Protocol for Metadata
Harvesting
Scholarly Publishing and Academic Resources
Coalition

DANH MỤC HÌNH ẢNH


Hình

Tên hình

nội bộ đã tham gia vào ROAR, tính đến ngày 10/3/2013
Hình 2.1

Nhà điều hành Đại học Quốc gia Hà Nội

26

Hình 2.2

Trụ sở chính Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học

27

Quốc gia Hà Nội
Hình 3.1

Mục tiêu của Kho lưu trữ truy cập mở Viện Công nghệ

47

Machachusset
Hình 3.2

Hướng dẫn về cách thức gửi bài lên Kho lưu trữ truy cập

50

mở của trường Đại học Cornell
Hình 3.3



Trang

Biểu đồ 1.1

Hoạt động gửi bài viết lên Kho lưu trữ truy cập mở

16

nội bộ của Trường Đại học Quốc gia Đài Loan qua
các năm
Biểu đồ 1.2

Thống kê của OpenDOAR về số lượng các loại

21


Kho lưu trữ truy cập mở
Biểu đồ 1.3

Thống kê số lượng bài báo truy cập mở được xuất

23

bản bởi các nhóm xuất bản qua các năm 2000,
2005, 2011
Biểu đồ 3.1

Thống kê của OpenDOAR về tỉ lệ sử dụng hai phần

nhiên, hiện tại, khả năng tiếp cận của họ đến những tài liệu này còn nhiều hạn
chế do vấn đề bản quyền. Để việc phổ biến các nguồn thông tin này trở nên sâu
rộng hơn và không còn rào cản truy cập, thiết nghĩ, Trung tâm nên cải thiện cách
thức truyền thông học thuật của các tài liệu này bằng việc triển khai áp dụng mô
hình Kho lưu trữ TCM nội bộ.
Mặc dù, ở Việt Nam, TCM còn là vấn đề mới và ít được đề cập đến trong
các tài liệu chuyên ngành TT - TV cũng như việc ứng dụng mô hình Kho lưu trữ
TCM nội bộ vào thực tiễn chưa nhiều. Tuy nhiên, với những lợi ích và tính khả
thi mà mô hình này mang lại, tôi xin mạnh dạn đề xuất việc ứng dụng mô hình
Kho lưu trữ TCM nội bộ cho Trung tâm TTTV, ĐHQGHN. Vì thế, tôi đã lựa
chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình kho lưu trữ truy cập
mở nội bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Thông qua đề tài này, tôi muốn tìm hiểu sâu sắc những vấn đề lý luận và thực
tiễn về Kho lưu trữ TCM nộ bộ để có cái nhìn tích cực về những lợi ích mà nó
mang lại trong sự nghiệp truyền thông học thuật. Từ đó, tiến hành nghiên cứu
những điều kiện thích hợp để triển khai ứng dụng tại Trung tâm và đưa ra các
giải pháp thực thi mô hình này trong điều kiện, hoàn cảnh của cơ quan.
2. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về Kho lưu trữ TCM nội bộ;
- Nghiên cứu các điều kiện phù hợp cho việc triển khai;
- Đưa ra các giải pháp để tiến hành ứng dụng mô hình Kho lưu trữ TCM
nội bộ tại Trung tâm TTTV, ĐHQGHN trong hoạt động phổ biến các thông tin
khoa học để cải thiện khả năng tiếp cận tài liệu của NDT.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu


- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về Kho lưu trữ
TCM nội bộ;
- Nghiên cứu các điều kiện đảm bảo cho việc ứng dụng Kho lưu trữ TCM
nội bộ tại Trung tâm TTTV, ĐHQGHN;

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về kho lưu trữ TCM nội bộ;
- Ứng dụng mô hình kho lưu trữ TCM nội bộ tại Trung tâm TTTV,
ĐHQGHN
6. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu việc ứng dụng kho lưu trữ TCM nội bộ
trong phạm vi Trung tâm TTTV, ĐHQGHN
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tài liệu và thực tiễn từ năm 1990 đến nay

7. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành niên luận, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở những quan điểm của Chủ nghĩa Mác
– Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công
tác thông tin – thư viện.
- Phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan; Quan sát;
Phỏng vấn
8. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn, lời cam kết, danh mục từ viết
tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung Khóa luận được chia thành 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ


Chương 2: Khả năng ứng dụng mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội
bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Giải pháp ứng dụng mô hình Kho lưu trữ Truy cập mở nội
bộ tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:

truy cập. Tóm lại, nói đến TCM là người ta nhắc ngay đến khả năng truy cập đến
các tài liệu trong môi trường số mà không có bất cứ hàng rào nào về tài chính,
mức độ cho phép và bản quyền cho những mục đích khác nhau có trách nhiệm.
Đôi khi, ở một mức độ nào đó của truy cập, chúng ta phải thừa nhận quyền tác
giả và phải trích dẫn tài liệu theo quy định.
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến Truy cập mở
Kể từ những năm 1960, có một sự gia tăng nhanh chóng số lượng các ấn
phẩm, trong đó bao gồm cả các ấn phẩm định kì. Cùng với sự gia tăng đó, giá cả
của chúng cũng tăng theo một cách chóng mặt. Chỉ trong khoảng thời gian từ năm
1963-1990, giá trung bình của các ấn phẩm định kì hàng năm tăng đến 11,3%[1].
Nguyên nhân chủ yếu là do nền kinh tế thế giới bước vào khủng hoảng, đồng tiền
mất giá, lạm phát tăng cao; cùng với đó là sự độc quyền, tập trung vào lợi nhuận
Tuyên bố Bethesda về Xuất bản truy cập mở là kết quả của Hội nghị về xuất bản truy cập mở được tổ chức
tại trụ sở của Viện Y học Howard Hughes tại Chevy Chase, Maryland, năm 2003. Nội dung của Tuyên bố
đề cập đến khái niệm xuất bản phẩm truy cập mở, cùng các tuyên bố về sự hỗ trợ của các cơ quan tài trợ,
thư viện, nhà xuất bản, cộng đồng khoa học đối với việc xuất bản truy cập mở.
2


của một số nhà xuất bản thương mại lớn trên thị trường xuất bản tạp chí khoa học
như Elsevier, Pergamon, và Springer. Cuối cùng các thư viện đang là những người
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề khi mà giá tạp chí tăng hơn nhiều so với
mức tăng ngân sách thư viện. Ở Bắc Mỹ, giá tạp chí chuyên ngành tăng 9%/năm,
trong khi mức tăng ngân sách của thư viện nghiên cứu chỉ có 7,9%/năm. Kết quả
là, nhiều thư viện đã phải ngừng việc mua một số tạp chí chuyên ngành trong nước
và quốc tế.
Vào cuối thế kỉ 20, các nhà xuất bản danh tiếng với danh sách tạp chí khá
lớn của mình, đã xây dựng chương trình được gọi là Big Deal [9,30]. Theo đó, các
thư viện sẽ mua quyền truy cập đến các tạp chí nằm trong danh sách đó trong
khoảng thời gian hai, ba, hoặc năm năm. Mặc dù được hưởng khuyến mãi từ gói

Tất cả những yếu tố kể trên mà quan trọng hơn cả là vấn đề gánh nặng chi
phí, cùng với sự xuất hiện của Internet từ giữa thập niên 1980 như một điều kiện
cần đã góp phần thúc đẩy TCM ra đời.
Phong trào truy cập mở chính thức bắt đầu từ năm 1990, được đánh dấu bởi
sự ra đời của số báo đầu tiên được xuất bản dưới dạng truy cập mở của một số tạp
chí:

 The Public-Access Computer Systems Review:được thành lập năm
1989, số báo truy cập mở đầu tiên xuất bản vào 3/1/1990
 Bryn Mawr Classical Review, Postmodern Culture, Psycoloquy:
được thành lập vào năm 1990
Đến năm 1991, Paul Ginsparg là người đầu tiên bắt đầu xây dựng một lưu
trữ khoa học trực tuyến miễn phí đầu tiên dành cho các nhà vật lí học, đó là
arXiv.org. Nó cho phép các nhà vật lí học lưu trữ các bản thảo bài báo của mình,
để chia sẻ ý tưởng trước khi chúng được xuất bản. Ba năm sau đó, giáo sư khoa
học Steven Harnad đã đề nghị các nhà nghiên cứu tiến hành tự lưu trữ vào một kho
lưu trữ truy cập công khai, miễn phí dựa trên Internet. Chính đề xuất này của
Harnad đã dẫn đến hàng loạt cuộc tranh luận và hệ quả là sự xuất hiện của phong
trào TCM.


Truy cập mở (Open Access) ra đời như một trào lưu trên thế giới và đến
ngày nay vẫn còn là một chủ đề được nhiều người người quan tâm, đặc biệt là
những người làm việc trong các lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu khoa học, thư viện,
xuất bản và nhiều tổ chức xã hội khác.
1.1.3 Lợi ích
TCM mang lại lợi ích cho nhiều người trong cộng đồng học thuật nói chung
và trong lĩnh vực thông tin – thư viện nói riêng. Người sử dụng ở mọi nơi có thể
truy cập tự do ở nhiều cấp độ khác nhau và miễn phí đến các nguồn tài nguyên
điện tử trên toàn thế giới như: tạp chí, sách điện tử, cơ sở dữ liệu. Các tài liệu

những nhà nghiên cứu dễ dàng định vị được tài liệu trong một ngành khoa học bất
kì liên quan đến vấn đề mình đang nghiên cứu. Dường như rào cản giữa các lĩnh
vực đã được loại bỏ trong TCM. Thông qua quá trình phản biện, những vấn đề
đúng đắn trong khoa học sẽ được khẳng định và phát huy; những vấn đề còn thiếu
xót sẽ tiếp tục được cải thiện và xây dựng. Quan trọng hơn hết, TCM nâng cao khả
năng tác động của các bài báo nghiên cứu. Tất cả các hành vi xem, đọc, tải, tái sử
dụng để tạo sản phẩm phái sinh, trích dẫn, áp dụng những kết quả nghiên cứu đó
vào thực tiễn góp phần cải tạo thế giới được gọi chung là khả năng tác động. Khi
khả năng hiển thị được nâng cao, mọi người tiếp cận đến nó dễ dàng thì khả năng
tác động sẽ càng cao. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá chất
lượng và năng suất của nghiên cứu. Trong tất cả các yếu tố tác động, thì tác động
trích dẫn đáng chú ý hơn cả. Khi tiếp cận đến các tài liệu TCM đến một mức độ
nào đó, người dùng phải trích dẫn thông tin về tài liệu gốc. Khi đó, chúng ta sẽ có
cơ hội để nâng cao khả năng tiếp cận đến những bài viết có chất lượng khoa học


mà chúng ta chưa từng biết đến. Trong báo cáo của Harnad và Brody vào năm
2004 đã cho thấy rằng, các bài báo về toán học và vật lí học đã được xuất bản và
được cung cấp khả năng TCM bởi việc tự lưu trữ từ phía tác giả trong kho lưu trữ
arXiv.org có tần số trích dẫn cao gấp 2-3 lần so với các bài báo không được cung
cấp khả năng TCM [15]. TCM góp phần quan trọng đối với sự tiến bộ của khoa
học nói riêng và sự phát triển của nhân loại nói chung.
Đặc biệt, các cơ quan TTTV cũng được hưởng lợi rất lớn từ TCM. Khi các
nhà xuất bản tạp chí học thuật áp dụng mô hình TCM, việc tiếp cận đến nội dung
trong tạp chí sẽ là miễn phí và tự do. Thư viện sẽ thoát khỏi cơn khủng hoảng về
giá cả tạp chí khi không còn phải duy trì mua tạp chí khoa học với giá cả đắt đỏ
theo định kì để phục vụ cho nhu cầu bạn đọc đọc. Không dừng lại ở đó, TCM còn
giúp cho thư viện có thể nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của NDT. Thư viện
chính là bộ phận có chức năng chính trong việc phổ biến các thông tin học thuật
đến với NDT của bất cứ một trường đại học, cơ quan hay tổ chức nghiên cứu, có

hay gián tiếp từ cơ quan chính phủ hoặc các tổ chức như: trường đại học, bệnh
viện, bảo tàng, trung tâm nghiên cứu, và nhiều tổ chức khác. Một số trường đại
học đã duy trì quỹ để trả phí xuất bản thay cho các nhà nghiên cứu của họ. Ngoài
ra, nhiều tạp chí còn thu được lợi nhuận từ các ấn phẩm phi truy cập mở, quảng
cáo, dịch vụ phụ trợ.


Hình 1.2: Top 10 tạp chí truy cập mở nổi tiếng trên thế giới[1]
 Truy cập mở trì hoãn (Delayed Open Access)
Truy cập mở trì hoãn (Delayed Open Access) là một mô hình TCM, trong
đó, các tạp chí thương mại cho phép truy cập miễn phí đến nội dung tạp chí,
nhưng không phải là ngay lập tức sau khi xuất bản mà sau một thời gian trì hoãn
hoặc cấm vận nhất định. Có thể thấy, các tạp chí này cũng quan tâm đến lợi ích
của truy cập mở, nhưng lại không sẵn sàng từ bỏ hoàn toàn lợi nhuận mà họ sẽ
thu được từ mô hình xuất bản truyền thống. Vì vậy, đối với họ, đây chính là sự
lựa chọn tốt nhất để họ vừa tiếp tục duy trì nguồn thu nhập mà vẫn thực hiện truy
cập mở nhiều nội dung đến đông đảo bạn đọc.
 Truy cập mở qua tự lưu trữ (Open Access via self-archiving)
Bên cạnh các tạp chí TCM, chúng ta vẫn còn mô thức khác là các kho lưu
trữ TCM hay còn gọi là con đường truy cập mở xanh (Green OA). Những bài
viết hay tài liệu được tác giả tự lưu trữ vào một Kho lưu trữ nào đó, và làm cho
các tài liệu chứa trong đó khả năng TCM.
TCM qua tự lưu trữ có thể được chia thành:
* Kho lưu trữ nội bộ (Institutional repositories);
* Kho lưu trữ chuyên ngành (Disciplinary repositories);
* Kho lưu trữ tích hợp (Aggregating repositories);
* Kho lưu trữ chính phủ (Governmental repositories)
1.2. Khái quát về mô hình Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
1.2.1. Khái niệm, lợi ích, các dạng tài liệu trong Kho lưu trữ truy cập mở nội bộ
Như đã trình bày ở trên, Kho lưu trữ TCM nội bộ là một dạng thức trong

đông đảo người dùng trong phạm vi rộng lớn;


Tối đa hoá khả năng hiển thị và tác động của nghiên cứu;



Sưu tập và quản lí các kết quả nghiên cứu trong môi trường số;



Quản lí và đánh giá hoạt động đào tạo và nghiên cứu của tổ chức;



Khuyến khích và nâng cao khả năng tiếp cận liên ngành trong nghiên



Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và chia sẻ các nguồn học

cứu;

liệu;




Trợ giúp người học bởi việc cung cấp khả năng truy cập đến các luận



Biểu đồ 1.1: Thống kê hoạt động gửi bài viết lên Kho lưu trữ truy
cập mở nội bộ của Trường Đại học Quốc gia Đài Loan qua các năm [48]


1.2.2. Vấn đề bản quyền và cấp phép
Kho lưu trữ TCM nội bộ chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta có sự cho
phép của người nắm giữ bản quyền đối với các tác phẩm của họ và mạng toàn
cầu. Cơ sở luật pháp của nó chính là sự cho phép mang tính tự nguyện từ phía
người nắm giữ bản quyền. Trong TCM, người nắm giữ bản quyền không cần
chuyển nhượng bản quyền tác phẩm cho bất cứ ai, hay tổ chức nào mà bản quyền
tác phẩm vẫn luôn luôn thuộc về tác giả. Khi tác giả mong muốn gửi bài viết, tài
liệu của mình lên Kho lưu trữ TCM để chia sẻ nó cho người dùng thông qua
phương thức TCM, thì họ sẽ phải cấp phép sử dụng tài liệu cho người dùng thông
qua một giấy phép nhất định.
Mặc dù, bản chất đều là cấp phép sử dụng tác phẩm, tuy nhiên, việc cấp
phép trong các mô hình TCM nói chung và Kho lưu trữ TCM nội bộ nói riêng
linh hoạt hơn nhiều so với việc chuyển nhượng bản quyền tác phẩm cho nhà xuất
bản thương mại trong phương thức xuất bản truyền thống. Với các mô hình TCM
nói chung và Kho lưu trữ TCM nội bộ nói riêng, tác giả có quyền lựa chọn cho
phép một số quyền chứ không bắt buộc phải tất cả. Tác giả có thể cho phép
người dùng tất cả các quyền như: tìm kiếm, đọc, tải, sao chép, in ấn, chia sẻ,
phân phối, tạo tác phẩm phái sinh, thậm chí là chỉnh sửa tác phẩm hoặc họ cũng
có thể chỉ cho phép một vài quyền trong số đó.
Đối với những công trình nghiên cứu khoa học chưa từng được xuất bản,
tác giả có thể tự quyết định lưu trữ chúng trong bất kì kho lưu trữ TCM nội bộ
nào mà không cần xin phép bất cứ ai, vì bản quyền tác phẩm vẫn hoàn toàn thuộc
về tác giả. Tuy nhiên, đối với những bài viết đã từng được xuất bản thì tác giả
cần phải xem xét lại chính sách của nhà xuất bản đó về việc có cho phép tác giả
thực hiện quyền lưu trữ bài viết dưới dạng TCM hay không? Tác giả có thể vào

• Không tác phẩm phái sinh (No Derivative Works - ND): Cho
phép tái phân phát với mục đích thương mại hoặc phi thương mại,
miễn là nó không bị thay đổi và giữ toàn vẹn, với sự đồng ý của
bạn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status