MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ............................................................................................. 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................................ 1
1.2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ......................................................................................... 2
1.3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU .......................................................... 2
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................................................... 3
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 3
1.6 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN ............................................................................ 4
CHƯƠNG 2 ..................................................................................................................... 5
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA......................................................................... 5
2.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.......... 5
2.1.1
Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của nó trong nền kinh tế ................... 5
2.1.2
Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................... 9
2.2 NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ....................................................... 14
Khả năng tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
điều kiện nền kinh tế vẫn còn nhiều bất ổn ............................................................ 14
CHƯƠNG 3 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV TẠI CHI NHÁNH ĐINH
TIÊN HOÀNG ............................................................................................................... 15
3.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ DONGA BANK .................................................... 15
3.1.1
Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của DAB ............................ 16
3.1.2
NHỮNG MẶT TÍCH CỰC ............................................................................. 43
4.2
NHỮNG MẶT HẠN CHẾ............................................................................... 44
4.3
NHỮNG NGUYÊN NHÂN XUẤT PHÁT TỪ PHÍA DNVVN .................... 45
4.4
KIẾN NGHỊ ĐỂ CẢI THIỆN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN ...................... 46
4.5
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 50
Trang vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò
ngày càng quan trọng trong việc giúp nền kinh tế các quốc gia trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng được vận hành hiệu quả. Đặc biệt là ở Việt Nam, một quốc gia
Trang 1
nhiên, ngoài những khó khăn chung như vậy thì DAB bên cạnh đó còn vấp phải một trở
ngại lớn trong năm 2015, sẽ được đề cập trong những phần sau, khiến cho hoạt động tín
dụng càng bị ảnh hưởng nặng nề hơn.
Qua trên cho thấy, trong giai đoạn kinh tế vẫn còn nhiều bất ổn thì cả hoạt động
của DNNVV và hệ thống ngân hàng đều gặp nhiều khó khăn, trong đó hoạt động tín
dụng đối với phân khúc DNNVV là một trong những vấn đề cấp thiết cần được giải
quyết vì ngân hàng và DNNVV đều là những chủ thể kinh tế quan trọng nhất. Chỉ khi
cả ngân hàng và DN hoạt động ổn định và tăng trưởng thì bức tranh ảm đạm của nền
kinh tế nước ta mới trở nên sáng sủa hơn.
1.2
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói, trong sự vận hành của một ngân hàng thì tín dụng là một hoạt động
không thể thiếu. Đây là một lĩnh vực phức tạp, tuy nhiên, nghiên cứu về lĩnh vực này
trong mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ đem lại nhiều kiến thức cũng như cái
nhìn mới về chức năng quan trọng nhất của một ngân hàng thương mại là “trung gian
tín dụng”, về những vấn đề liên quan đến việc một ngân hàng sẽ cho vay như thế nào
để đem lại lợi ích như kỳ vọng.
Đặt tín dụng trong mối tương quan với DNNVV để thấy được sự tác động lẫn
nhau của chúng cũng như ảnh hưởng đến nhiều hoạt động khác của một nền kinh tế và
qua phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu đã nêu trên thì tín dụng đối với DNNVV thực
sự là một vấn đề rất quan trọng để dành thời gian tìm hiểu.
Và một trong những lý do quan trọng dẫn đến việc lựa chọn đề tài “Hoạt động
tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của DongA Bank – chi nhánh Đinh Tiên
Hoàng” là vì DAB là một ngân hàng thương mại cổ phần phát triển theo chiến lược là
lý; phân tích các số liệu liên quan đến đề tài để đi đến các kết luận, đánh giá, kiến nghị.
Việc thu thập số liệu được thực hiện chủ yếu bằng cách hỏi, tham vấn từ người
hướng dẫn tại đơn vị thực tập. Các bảng số liệu được cung cấp từ phòng kế toán, phòng
tín dụng của chi nhánh Đinh Tiên Hoàng và từ các báo cáo tài chính đã công bố của
DAB.
Phân tích các số liệu đã xử lý chủ yếu bằng phương pháp so sánh, đối chiếu kết
quả giữa các năm, cụ thể là ba năm gần nhất. So sánh theo chiều ngang để thấy được sự
tăng trưởng, theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của các chỉ tiêu kết hợp với việc sử
dụng các sơ đồ, đồ thị để từ đó nêu lên những nhận định, đánh giá cá nhân cũng như
giúp làm tăng tính trực quan cho khóa luận.
1.5
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu: Khóa luận chủ yếu nghiên cứu về hoạt động tín dụng đối
với DNNVV tại DAB, chi nhánh Đinh Tiên Hoàng.
Phạm vi về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu tại chi nhánh Đinh Tiên
Hoàng của DAB.
Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu là ba năm 2013, 2014, 2015.
1.6
HẠN CHẾ CỦA KHÓA LUẬN
Hạn chế của khóa luận là không có số liệu cụ thể về DAB năm 2015. Số liệu về
dư nợ theo ngành nghề kinh tế chỉ mang tính tương đối. Việc phân tích chủ yếu dựa vào
phương pháp so sánh, chưa kết hợp thêm các phương pháp khác.
Trang 3
năm.
Ở Việt Nam, khái niệm về DNNVV được quy định, định nghĩa theo hướng ngày
càng càng cụ thể hơn, kết hợp nhiều tiêu chí hơn trong các văn bản pháp luật của Chính
phủ. Đầu tiên, trong công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ,
DNNVV được định nghĩa đơn giản là DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao
động hình quân hàng năm dưới 200 người. Công văn này khẳng định các tiêu chí đánh
giá trên chỉ mang tính quy ước hành chính nhằm quản lý và vận dụng chính sách hỗ trợ
phát triển cho DM. Vì vậy, cùng với sự ra đời của các bộ luật, chính sách hỗ trợ cho sự
hoạt động của DN như Luật doanh nghiệp, các thay đổi về luật thuế đã giúp cho các DN
có nhiều thay đổi tích cực nên công văn trên đã không còn thích hợp với tình hình DN
ở nước ta lúc bấy giờ. Đến ngày 23/11/2001, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp
phát triển DNNVV ra đời, định nghĩa lại loại hình DN này với hai tiêu chí tương tự như
Công văn 681/1998/CP-KTN nhưng với phạm vi lớn hơn, cụ thể “Doanh nghiệp nhỏ và
vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện
hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm
không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa
phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt
áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.”
Tuy nhiên, khái niệm DNNVV lại được tiếp tục phát triển sau một thời gian nước
ta nghiên cứu và tiếp thu các khái niệm từ các quốc gia khác trên thế giới, tổ chức quốc
tế để lại lần nữa định nghĩa lại DNNVV theo một cách cụ thể hơn, phù hợp hơn với sự
kết hợp của nhiều chỉ tiêu đánh giá. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/06/2009 qui
định “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
Trang 5
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, và vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu
tiên), cụ thể như sau:
đến 200 người
đến 100 tỷ đồng
đến 300 người
nghiệp và xây xuống
dựng
III.
Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 người từ trên 10 tỷ đồng từ trên 50 người
mại và dịch vụ xuống
trở xuống
đến 50 người
đến 50 tỷ đồng
đến 100 người
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP
2.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bên cạnh những đặc tính vốn có của một DN hoạt động trong nền kinh tế thị
trường thì DNNVV cũng có những đặc điểm riêng phản ánh những khía cạnh thuận lợi
cũng như bất lợi trong sự so sánh với các DN lớn. Theo Nguyễn Văn Lê (2014), DNNVV
có các đặc điểm nổi bật như sau:
Quy mô hoạt động và tiềm lực tài chính nhỏ
Nguồn vốn đầu tư ít cộng với số lao động không quá nhiều (tối đa là 300
người) giúp cho DNNVV dễ dàng thành lập, bộ máy quản lý đơn giản, khả năng thu hồi
vốn cao.
Tuy nhiên, hạn chế về tiềm lực tài chính cũng khiến cho DNNVV gặp khó
khăn trong việc đầu tư mở rộng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu hoặc
nâng cao dây chuyền, công nghệ sản xuất nên sản phẩm, dịch vụ tạo ra bị hạn chế về số
lượng cũng như chất lượng, dẫn đến thị phần của mỗi DNNVV không cao vì vậy khả
năng cạnh tranh với các DN lớn là rất ít. Hơn nữa, khả năng tài chính có hạn và thường
có thời gian hoạt động chưa lâu hoặc mới thành lập nên các DNNVV thường ít đầu tư
vào hoạt động marketing, truyền thông nên không có nhiều cơ hội thâm nhập vào thị
Bên cạnh đó, trong thời đại mà nền khoa học kỹ thuật, công nghệ mới ra đời
liên tục thì việc tiếp cận được các thay đổi đó sẽ là một trong những yếu tố quan trọng
giúp cho DN có thể nâng cao chất lượng cũng như sản lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết
kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường. Tuy nhiên, do quy mô vốn
bị hạn chế mà các DNNVV khó bắt kịp được những thay đổi về khoa học kỹ thuật, công
nghệ đó nên họ đánh mất những lợi thế trên.
- Bộ máy điều hành đơn giản nhưng năng lực quản lý chưa tốt
Vì sở hữu một lực lượng lao động không lớn nên các DNNVV có bộ máy
quản lý khá đơn giản, không có nhiều bộ phận trung gian nên việc đưa ra quyết định
thường khá nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của DN. Tuy nhiên, các nhà quản trị
DNNVV thường đảm nhiệm cùng lúc nhiều vai trò nên thiếu sự quản lý chuyên sâu, các
quyết định dễ trở nên không chính xác và hiệu quả không cao. Bên cạnh đó, tài chính
hạn hẹp khiến cho các DNNVV khó thu hút được nguồn lao động có năng lực, tay nghề
cao và việc đào tạo lao động cũng không được đẩy mạnh và chú trọng như ở các DN
lớn.
-
Hoạt động phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh
Trang 7
Quy mô vốn nhỏ, thị phần ít, chiến lược kinh doanh ngắn hạn, mang tính thời
vụ khiến cho các DNNVV dễ dàng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của môi trường kinh
doanh. Nếu thị trường diễn biến xấu thì các DN này bị tác động rất nhiều, nguy cơ thu
hẹp quy mô, dừng hoạt động hoặc thậm chí là phá sản là rất cao vì mọi tiềm lực của các
DN này đều yếu hơn so với DN lớn.
2.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
Ở những nước phát triển vượt bậc, nơi có những DN lớn mang tầm quốc tế thì sự
tồn tại của DNNVV cũng là đáng kể, ví dụ như tỷ lệ DNNVV ở Mỹ, Trung Quốc hay
Trang 8
tài nguyên và lao động của từng vùng, đặc biệt là các ngành nông – lâm – hải sản và
ngành công nghiệp chế biến. DNNVV cũng chính là chủ thể tác động tích cực nhất vào
việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống như mây tre đan, gốm sứ, dệt...Vì
vậy, có thể nói DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc công nghiệp
hóa – hiện đại hóa nông thôn góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và
nông thôn, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ, tiểu thương phát triển góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.”
Thứ ba, DNNVV tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp,
ổn định xã hội. Với một phạm vi hoạt động dày đặc ở hầu hết các quốc gia cộng với sự
đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nên DNNVV thu hút một lực lượng lao
động rất lớn, đặc biệt là nguồn lao động tại địa phương. Số liệu thống kê cho thấy, ở
Việt Nam, hàng năm các DNNVV tạo thêm nửa triệu lao động mới, sử dụng tới 51%
lao động xã hội, còn ở các nước như Mỹ, Trung Quốc hay Singapore thì DNNVV tạo ra
hơn 60% tổng việc làm cho nền kinh tế. Điều đó cho thấy, DNNVV góp phần không
nhỏ trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, thậm chí là những lao động ở
các vùng kinh tế chưa phát triển, giúp họ có nguồn thu nhập ổn định, xóa đói giảm
nghèo, tăng cường an sinh xã hội.
Thứ tư, DNNVV là tiền đề tạo ra những DN lớn, đồng thời làm lành mạnh
môi trường đầu tư và kinh doanh. Với những DN thành công, quy mô của họ sẽ được
mở rộng và nhiều trong số này dần dần sẽ trở thành các DN lớn hoặc các tập đoàn kinh
tế đa quốc gia vì xét cho cùng thì các DN lớn nổi tiếng thế giới hiện nay cũng đều xuất
phát từ một cơ sở kinh doanh nhỏ ví dụ như Honda khởi đầu chỉ là một nhà xưởng bình
thường làm bằng gỗ do ông Soichiro Honda thành lập tại Nhật Bản vào năm 1948, hay
thậm chí chỉ là từ một nơi nào đó rất nhỏ với vỏn vẹn vài chiếc máy tính như trường hợp
của Facebook, Mark Zuckerberg. Ngoài ra, với số lượng lớn, rào cản tham gia thị trường
không lớn thì sẽ luôn có nhiều DN mới tham gia vào thị trường, đồng thời cũng có nhiều
DN sẽ bị phá sản do hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Đối với một DN quy mô
Theo giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại của Nguyễn Minh Kiều (2012), giáo
trình Quản trị ngân hàng thương mại của Nguyễn Thị Mùi (2006) và Luật các Tổ chức
tín dụng số 47/2010/QH12 thì các phương thức tín dụng đối với DNNVV sẽ như sau:
-
Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng
Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là các khoản cấp tín dụng thời hạn tối đa là 12 tháng. DN sử
dụng tín dụng ngắn hạn thường xuất phát từ hai nhu cầu là tài trợ ngắn hạn thường xuyên
và tài trợ ngắn hạn thời vụ. Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên xuất phát từ sự chênh
lệch hoặc không ăn khớp nhau về thời gian và quy mô giữa dòng tiền vào và dòng tiền
ra của DN, còn nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ xuất phát từ đặc điểm thời vụ của hoạt
động sản xuất kinh doanh khiến cho nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến. Có nhiều
phương thức cấp tín dụng ngắn hạn ví dụ như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức,
thấu chi, bao thanh toán, chiết khấu giấy tờ có giá,…
Tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung và dài hạn là các khoản cấp tín dụng thời hạn trên 12 tháng. Tín
dụng trung hạn là từ 12-60 tháng còn dài hạn là trên 60 tháng. DN cần được hỗ trợ tín
dụng trung dài hạn khi họ có nhu cầu đầu tư vào tài sản cố định và một phần tài sản lưu
động thường xuyên. Nói cách khác, tín dụng trung - dài hạn cho DN chủ yếu phục vụ
Trang 10
cho việc thực hiện các dự án đổi mới, mở rộng sản xuất - kinh doanh và đầu tư xây dựng
cơ bản mới. Vì thời hạn dài nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi
ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Các hình thức cho vay trung - dài hạn bao gồm: cho vay
theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho thuê
tài chính…
-
trả cho ngân hàng theo thỏa thuận.
Trang 11
Bao thanh toán
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho bên bán hàng hoặc
bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc
các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo theo hợp
đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Cho thuê tài chính
Là việc ngân hàng xuất tiền mua tài sản để cho DN thuê theo những thỏa thuận
của hợp đồng cho thuê. Sau thời gian nhất định, DN phải trả đủ gốc và lãi cho ngân
hàng. Đây là phương thức vay tài sản thông qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa
đơn phương bán cho DN thuê một giá nhất định sau thời hạn cho thuê (có tính đến số
tiền thuê đã trả).
-
Căn cứ vào bảo đảm tín dụng
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản
Cho vay có đảm bảo là việc vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ
trả nợ của DNNVV được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài
sản hình thành từ vốn vay của DNNVV hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Loại
cho vay này thường áp dụng đối với các DN có uy tín không cao đối với ngân hàng. Sự
bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho
nguồn thu nợ thứ nhất (nguồn thu từ hiệu quả dự án, phương án đầu tư sản xuất kinh
doanh mang lại) thiếu chắc chắn.
Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản
Cho vay không có đảm bảo là việc ngân hàng cho DNNVV vay vốn không có tài
sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng cho vay chỉ
bày được phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi, phương án đó phải nâng cao
hiệu quả hoạt động, đem lại lợi nhuận để thực hiện tốt các điều khoản trong hợp đồng
tín dụng, đảm bảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng. Do vậy, tín dụng ngân
hàng thúc đẩy DN phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận
phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá
trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc DN
phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
- Tín dụng ngân hàng giúp hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNNVV
Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để DN tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với các DNNVV do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó
khăn vì nguồn vốn này hạn chế. Nếu chỉ sử dụng nguồn vốn này thì giá trị sử dụng vốn
sẽ cao, sản phẩm khó được thị trường chấp nhận, hơn nữa khó có khả năng đầu tư mở
rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Do vậy, để có một cơ cấu vốn hiệu quả,
kết cấu hợp lý là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn
bình quân rẻ nhất.
- Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các DNNVV
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng
vững đòi hỏi các DN phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt đối với các DNNVV,
do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các DN
Trang 13
lớn trong nước và ngoài nước là một vấn đề khó khăn. Xu hướng hiện nay của các DN
này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang
bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu
tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất
nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như
vậy để có thể đáp ứng kịp thời, tìm đến nguồn tín dụng ngân hàng là một điều phù hợp.
giao dịch và ký thác ngân hàng cũng sẽ giúp DNNVV hoạt động hiệu quả hơn và tạo
điều kiện cho họ thuê thêm dịch vụ bên ngoài để thực hiện các chức năng tài chính. Rõ
ràng, đối với các DN quy mô nhỏ và vừa, việc hỗ trợ tài chính qua ngân hàng là nguồn
hỗ trợ bên ngoài quan trọng nhất. Như vậy, có thể nói sự khác biệt về tiếp cận tín dụng
Trang 14
ngân hàng giữa DN lớn và DNNVV bắt nguồn phần nhiều từ phía nguồn cung (các ngân
hàng). Vậy lý do gì đã khiến các ngân hàng hạn chế trong việc cung cấp tín dụng cho
DNNVV so với DN lớn khi kinh tế một quốc gia bị bất ổn? Theo Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế OECD (2006), điều này bắt nguồn từ hồ sơ vay vốn tiềm ẩn rủi ro và
sự bất cân xứng thông tin giữa DNNVV với ngân hàng. Sẽ rất khó cho các DN nhỏ
thuyết phục ngân hàng ủng hộ kế hoạch kinh doanh của mình, đặc biệt là với các DN
mới khởi sự và cần một sự nỗ lực đáng kể để thiết lập uy tín với ngân hàng khi kinh tế
khó khăn. Về phía ngân hàng, việc quản lý rủi ro đối với các khách hàng có quy mô nhỏ,
với tần suất cao hơn và các giao dịch có giá trị thấp hơn sẽ tăng thêm mức độ phức tạp,
dẫn đến hai vấn đề chính là rủi ro tín dụng và chi phí phục vụ khách hàng lớn. Đây là
một vấn đề quan trọng vì DNNVV thường không có khả năng cung cấp thông tin tài
chính có thể xác minh được. Do tình trạng thiếu thông tin, đa số các khoản vay ngân
hàng đối với DNNVV đều yêu cầu có tài sản thế chấp, đặc biệt khi kinh tế trong giai
đoạn suy thoái hoặc đình trệ. Nhưng các DN này thường không đáp ứng được yêu cầu
này dẫn đến khả năng tiếp cận khoản vay bị hạn chế. Chi phí phục vụ khách hàng quá
cao là do các ngân hàng không chắc chắn về mô hình hoạt động hiệu quả nhất để phục
vụ khách hàng DNNVV. Mặc dù khách hàng DN được phân loại theo các giao dịch có
giá trị cao và thấp, các DNNVV thường đòi hỏi nhiều giao dịch hơn ở mức giá trị thấp
hơn. Tuy nhiên, khu vực này có thể yêu cầu mức độ giao tiếp khách hàng cao hơn so
với dịch vụ ngân hàng bán lẻ vì DNNVV có nhiều nhu cầu hơn và nhu cầu cũng đa dạng
hơn. Việc chi phí phục vụ cao hơn sẽ dẫn đến doanh thu thấp hơn. Như vậy, khả năng
tiếp cận tín dụng ngân hàng của khu vực DNNVV còn thấp do những đặc điểm vốn có
về quy mô, phương thức hoạt động của những DN này, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế
từ Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và vì thế ngân hàng ngày càng đẩy
mạnh tín dụng vào các DNNVV. Song song với việc phát triển hoạt động của ngân hàng
thì đây cũng là năm đánh dấu việc tham gia vào hoạt động thể thao với việc nhận chuyển
giao đội báng Công an TP.HCM, lập câu lạc bộ Bóng đá Ngân hàng Đông Á, với mục
đích giúp các cán bộ nhân viên cùng tham gia để giải tỏa những áp lực công việc, để
phát huy tinh thần đoàn kết cùng nhau phát triển vững mạnh.
Trong những năm từ 2003-2007, DAB ghi nhận con số 2 triệu khách hàng sử
dụng Thẻ Đa năng chỉ sau 4 năm phát hành thẻ, dẫn đầu về tốc độ phát triển dịch vụ thẻ
và ATM tại Việt Nam, thành lập hệ thống Vietnam Bankcard (VNBC) kết nối hệ thống
thẻ giữa các ngân hàng; kết nối thành công với tập đoàn China Union Pay (Trung Quốc).
Cũng trong thời gian này, ngân hàng triển khai thành công dự án chuyển đổi sang core
– banking, giao dịch online toàn hệ thống. Đây là một bước ngoặt để cả hệ thống hoạt
động một cách kết nối, hiệu quả hơn và rủi ro được hạn chế đến mức tối thiểu. Một số
thành tựu đạt được là doanh số thanh toán quốc tế vượt 2 tỷ USD và đạt con số 2 triệu
khách hàng, đứng trong Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do Chương trình phát
triển Liên hiệp quốc (UNDP) bình chọn.
Giai đoạn từ 2008-2012, DAB tự hào là ngân hàng có số lượng khách hàng đạt
kỷ lục, với trên 6 triệu người, và cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích khổng lồ, từ các dịch
vụ ngân hàng truyền thống đến các dịch vụ qua các kênh Thanh toán tự động, Ngân
Hàng Điện Tử eBanking, các sản phẩm khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp,
Trang 16
kiều hối, thanh toán quốc tế… DAB cũng không ngừng mở rộng mạng lưới rộng khắp
từ thành thị, đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trong nỗ lực mang các dịch vụ ngân hàng
đến gần hơn với người dân Việt Nam. Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch, điểm 24h
tính đạt 240 điểm cùng với 1.400 máy ATM và 1.500 máy POS, kết nối thành công với
3 hệ thống liên minh thể VNBC, Smarklink và Banknetvn.
Năm 2013-2014 tiếp tục là những năm khó khăn chung của nền kinh tế, ngành
tài chính ngân hàng nói chung và DAB nói riêng, khi mà tỉ lệ nợ xấu tăng cao và hầu
Giữ ổn định và gia tăng doanh số từ khách hàng hiện hữu và chú trọng tiếp cận,
phát triển khách hàng mới là các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, các cá
nhân có lợi thế cạnh tranh tốt tại từng địa bàn kinh doanh.
Phát triển khách hàng cá nhân bằng cách đổi mới, cải tiến quy trình cung cấp các
sản phẩm dịch vụ Khách hàng cá nhân như cải tiến những cái hiện hữu, triển khai sản
phẩm dịch vụ mới trên hệ thống Ebanking – Ngân hàng điện tử, giúp khách hàng thực
hiện các giao dịch hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn; triển khai dịch vụ thu hộ Ngân sách
nhà nước đối với khách hàng cá nhân thông qua tài khoản mở tại DAB. Đồng thời, ngân
hàng cũng gia tăng rà soát các sản phẩm chuẩn, các sản phẩm cho vay nhanh; rà soát
hạn mức phê duyệt tín dụng của từng cán bộ theo các cấp thẩm quyền được phê duyệt
nhằm giảm thiểu thời gian xét duyệt.
Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc
đóng thuế nội địa, thuế xuất khẩu và các loại phí, lệ phí liên quan đến ngân sách Nhà
nước thông qua việc kết nối hệ thống và phối hợp với Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải
quan.
Tăng trưởng tính dụng và kiểm soát chất lượng tín dụng bằng cách phấn đấu tăng
trưởng tín dụng theo kế hoạch đã đề ra bằng các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng,
không hạ chuẩn cho vay, tăng trưởng đều theo từng kỳ thay vì tăng tập trung vào cuối
kỳ.
Định hướng phát triển của DongA Bank
“Tiếp tục đổi mới – Phát triển bền vững”. Tiếp tục bám sát Chiến lược 20132017 và Phương án tái cơ cấu giai đoạn 2013-2015 đã được NHNN phê duyệt nhằm
giúp DAB phát triển bền vững, hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong quản trị.
3.1.3 Giới thiệu cơ cấu tổ chức của DongA Bank
DAB có 1 Hội sở chính, 1 Sở giao dịch, 50 chi nhánh, 163 phòng giao dịch, 17
quỹ tiết kiệm và 1 điểm giao dịch. Ngân hàng được tở chức thành 6 khối chức năng
gồm: khối khách hàng cá nhân, khối khách hàng doanh nghiệp, khối kinh doanh, khối
hỗ trợ, khối quản trị nguồn nhân lực, khối giám sát. DAB có 2 công ty thành viên:
Công ty TNHH Một thành viên Kiều hối Đông Á, Công ty TNHH Một thành viên
Chứng khoán Ngân hàng Đông Á.
Hiện tại, DAB có 4.183 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 4.112 lượt cán bộ
ĐỐC
KHỐI
KHÁCH
HÀNG
DOANH
NGHIỆP
KHỐI
KHÁCH
HÀNG
CÁ
NHÂN
KHỐI
KINH
DOANH
VÀ
NGUỒN
VỐN
KHỐI
TÍN
DỤNG
KHỐI
VẬN
HÀNH
VĂN PHÒNG
QUẢN
TRỊ
NGUỒN
NHÂN
LỰC
KHỐI
CÔNG
NGHỆ
KHỐI
CHIẾN
LƯỢC
Nguồn: website của DAB, dongabank.com.v
3.2
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DAB GIAI
ĐOẠN 2013-2015
Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Đinh
Tiên Hoàng giai đoạn 2013-2015
Đơn vị: triệu đồng
Trang 19
Chênh lệch
2014-2013
Chỉ tiêu
(17,98)
(39.662)
(30,00)
Thu từ hoạt động tín dụng
107.964
57.974
56.453
(49.990)
(46,30)
(1.521)
(2,62)
Thu từ hoàn dự phòng
10.839
20.965
13.882
83.690
(26.286)
(17,60)
(39.383)
(32,00)
Chi phí huy động vốn
98.630
102.235
64.768
3.605
3,66
(37.467)
(36,65)
Chi phí thuê mặt bằng
6.000
2.134
1.986
1.952
(148)
(6,94)
(34)
(1,71)
Chi phí dự phòng
33.957
8.890
7.564
(25.067)
(73,82)
(1.326)
(14,92)
(3,05)
Nguồn: Phòng kế toán chi nhánh Đinh Tiên Hoàng
Trước khi phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Đinh Tiên
Hoàng thì kết quả kinh doanh của toàn DAB sẽ được trình bày sơ lược qua sơ đồ dưới
đây để có được cái nhìn tổng quát tình hình hoạt động của DAB, từ đó liên hệ với tình
hình của chi nhánh và rút ra nhận xét chung.
Trang 20
Hình 3.2: Kết quả kinh doanh của DAB năm 2012-2014
Tỷ đồng
2500.0
2.494
2.227
2000.0
1.483
Thu nhập lãi thuần
1500.0
Lợi nhuận trước thuế
Lợi nhuận sau thuế
777
Nguyên nhân của việc sụt giảm đáng kể năm 2014 là do DAB đã phải trích lập
các khoản dự phòng rủi ro tín dụng khá lớn, trong năm 2013 thì tỷ lệ dự phòng này là
56,51% tổng lợi nhuận chưa trích dự phòng, và năm 2014 tỷ lệ là 94,02%. Giải thích
cho việc trích lập dự phòng này thì trong các báo cáo KQ HĐKD của DAB, ngân hàng
đưa ra các lý do như sau. Trước hết là do tăng trưởng tín dụng thấp trong khi huy động
vốn vẫn tăng cao, các kênh đầu tư khác như liên ngân hàng, trái phiếu thấp hơn lãi suất
huy động nên chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và đầu ra giảm mạnh, và không thể không
nhắc đến là nợ xấu, một yếu tố rất quan trọng tác động lớn đến việc trích lập dự phòng
rủi ro tín dụng nhiều đến như vậy. DAB cho là dù việc làm này ảnh hưởng không tốt
đến lợi nhuận của ngân hàng tuy nhiên đây cũng là việc nên làm để bảo đảm cho hoạt
động của toàn hệ thống DAB được an toàn hơn trước tình hình khó khăn chung của toàn
thị trường.
Trong năm 2015, DAB đặt kế hoạch lợi nhuận là 200 tỷ thay vì 500 tỷ như năm
2014 và trong 7 tháng đầu năm 2015 mà DAB đạt khoảng 105.900 triệu đồng lợi nhuận
Trang 21
trước thuế sau khi trích dự phòng nhưng với tình hình nợ xấu tăng đòi hỏi phải trích lập
dự phòng cao nên lợi nhuận cuối năm không cao như kỳ vọng. Hơn nữa, vào thời gian
giữa tháng 8/2015 DAB bị rơi vào diện kiểm soát đặc biệt, nhiều vị trí trong hội đồng
quản trị bị miễn nhiệm, thay đổi. Đây có thể xem như là một biến động lớn khiến cho
hoạt động tín dụng cũng như hoạt động huy động vốn bị ảnh hưởng rất nhiều.
Trong mối liên hệ với tình hình chung của DAB, bảng 3.1 cho thấy lợi nhuận của
chi nhánh Đinh Tiên Hoàng cũng giảm liên tục trong 3 năm 2013, 2014, 2015. Cụ thể,
năm 2014 lợi nhuận giảm 2.699 triệu đồng, tương đương giảm 22,81% so với năm 2013.
Năm 2015 lợi nhuận giảm 279 triệu đồng, tức giảm 3,05% so với năm 2014.
Năm 2014, trong các nguồn thu thì nguồn bị giảm nhiều nhất là nguồn “thu từ
hoạt động tín dụng”, giảm 46,3% so với 2013, ngược lại “thu từ hoàn dự phòng” tăng
đến 93,42%. Điều đó cho thấy trong năm 2014, chi nhánh Đinh Tiên Hoàng tập trung
vào công tác xử lý nợ xấu hơn là vào hoạt động cấp tín dụng và kết quả 93,42% đó phần
Ocean Bank. Những cổ đông của DAB đã và đang phải chịu thiệt thòi từ kết quả trên,
họ không nhận được bất cứ điều gì trong 3 năm qua ngoài lời xin lỗi của người đứng
đầu HĐQT.
3.3
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH ĐINH
TIÊN HOÀNG
Trước hết, để một ngân hàng có thể hoạt động thì ngoài nguồn vốn chủ sở hữu
bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối thì nguồn vốn huy
động từ tiền gửi của các TCTD khác, từ vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, từ việc phát hành
giấy tờ có giá và từ tiền gửi của khách hàng đóng vai trò rất quan trọng. Trong đó, nguồn
vốn được huy động từ tiền gửi của khác hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp,
chẳng hạn như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán hay tiền gửi có kỳ hạn…, là nhân
tố tất yếu quyết định đến sự hoạt động liên tục của một ngân hàng, lợi ích của các cổ
đông và khả năng cạnh tranh của cá nhân ngân hàng đó. Thật vậy, trong tổng giá trị huy
động vốn của một ngân hàng thì nguồn vốn này luôn chiếm tới 70-80%. Hiện nay, để
huy động được nguồn vốn này thì các ngân hàng phải cạnh tranh thực sự gay gắt, vì vậy
trước khi đi vào phân tích tình hình tín dụng đối với DNVVN của chi nhánh Đinh Tiên
Hoàng thì việc phân tích khái quát tình hình huy động vốn của DAB nói chung và tình
hình huy động tiền gửi của khách hàng nói riêng tại chi nhánh Đinh Tiên Hoàng sẽ cho
thấy được nguồn vốn đầu vào của chi nhánh diễn biến như thế nào để đồng thời so sánh
với hoạt động tín dụng, đưa ra nhận xét toàn diện hơn về hoạt động tín dụng đối với
DNNVV của chi nhánh này.
Bảng 3.2: Huy động vốn của DAB và chi nhánh ĐTH giai đoạn 2013 – 2015.
Năm
Chỉ
tiêu
67.420.536
79.953.746
-
12.533.210
18,59
-
-
ĐTH
1.898.664
2.191.407
1.643.552
292.743
15,42
(547.852)
(25)