TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
VŨ THỊ HÀ NINH
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU
HÌNH THÁI, NÔNG HỌC CỦA MỘT SỐ
GIỐNG LÚA BẢN ĐỊA CÓ KHẢ NĂNG
KHÁNG RẦY NÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Di truyền học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. KHUẤT HỮU TRUNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận đƣợc nhiều sự giúp đỡ từ các
thầy cô.
Trƣớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Khuất
Hữu Trung, Th.S. Đặng Thị Thanh Hà và tập thể cán bộ thuộc bộ môn Kĩ
thuật Di truyền - Viện Di truyền Nông nghiệp đã hƣớng dẫn tận tình và tạo
điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Nhƣ Toản và toàn bộ các
thầy, cô giáo trong khoa Sinh - KTNN Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã
giúp đỡ và dạy bảo tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ, anh chị em trong gia đình,
bạn bè đã luôn sát cánh, hỗ trợ và động viên cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi
hoàn thành khóa luận này.
Thr
: Panicle Threshability
Exs
: Panicle Exsertion.
SpFert
: Spikelet Fertility.
Mat
: Maturity.
LL
: Leaf Length
LW
: Leaf Width
LBP
: Leaf Blade Pubescence
CmL
LmPb
: Lemma and Palea Pubescence
ANH MỤC ẢNG
Bảng 2.1. Đặc trƣng hình thái và sinh lý tổng quát của 3 nhóm giống lúa....... 5
Bảng 3.1: Kết quả đánh giá các chỉ tiêu đặc tính nông học của 15 giống lúa có
khả năng kháng rầy nâu................................................................................... 33
Bảng 3.2 : Kết quả đánh giá 12 chỉ tiêu đặc tính hình thái của 15 giống lúa có
khả năng kháng rầy nâu................................... Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.3: Kết quả đánh giá 12 chỉ tiêu đặc tính hình thái của 15 giống lúa có
khả năng kháng rầy nâu (tiếp) ......................................................................... 42
ANH MỤC H NH
ình 3.1: ình ảnh mẫu hạt thóc đã ra mộng và rễ ........................................ 28
ình 3.2: ình ảnh gieo hạt của các giống lúa trên đồng ruộng. ................... 29
Hình 3.3: hình ảnh cây mạ sau ngày gieo hạt ................................................. 29
ình 3.4: ình ảnh nhổ mạ và cấy lúa ............................................................ 30
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài. ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.......................................................... 3
5. Dự kiến kết quả nghiên cứu .......................................................................... 3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Lúa gạo là cây lƣơng thực quan trọng đối với con ngƣời. Trên thế giới có
khoảng một nửa dân số sử dụng lúa gạo và các sản phẩm chế biến từ lúa gạo
cho nhu cầu lƣơng thực hàng ngày. Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu
thụ đến 90% sản lƣợng gạo trên thế giới. Trong tƣơng lai xu thế sử dụng lúa
gạo sẽ còn tăng hơn vì đây là loại lƣơng thực dễ bảo quản, chế biến và cho
năng lƣợng khá cao. Đến năm 2030 sản lƣợng lúa của thế giới phải đạt 800
triệu tấn mới có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu lƣơng thực của con ngƣời [20].
Mặc dù năng suất tiềm năng của cây lúa là 10 tấn/ha nhƣng thực tế
ngƣời dân chỉ thu đƣợc trung bình 5 tấn/ha. Sự khác biệt về năng suất này là do
các bệnh gây hại ở lúa. Trong các tác nhân gây bệnh trên lúa thì rầy nâu hại lúa
(N. lugens Stal) là một trong những đối tƣợng gây hại nguy hiểm nhất vì ngoài
việc chích hút gây hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus cho
lúa nhƣ bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. Theo Reissig Henrichs, sự gia tăng về số
lƣợng và thành phần nhóm rầy hại thân do nguyên nhân, mở rộng diện tích
trồng lúa, tạo điều kiện cho rầy phát tán và lây lan trên diện rộng. Tăng số vụ
lúa trong năm tạo điều kiện cho rầy phát triển thành dịch, cơ cấu giống thƣờng
xuyên đƣợc thay đổi, thay thế các giống chống chịu tốt năng xuất thấp thay
bằng các giống cho năng xuất cao nhƣng ngƣợc lại tính chống chịu sâu, bệnh
lại kém. Trồng nhiều giống mới và thay giống liên tục làm phát sinh nhiều loài
rầy mới gây hại mạnh hơn. Ngoài ra, rầy lƣng trắng và rầy xám cũng thƣờng
xuyên xuất hiện trên các giống lúa đặc biệt trên các giống nhiễm cùng với rầy
nâu và đƣợc coi là những dịch hại quan trọng đối với trồng lúa nhiệt đới và cận
nhiệt đới ở Châu Á (Reissig Henrichs, 1993) [41].
Việt Nam đƣợc coi là một trong những trung tâm khởi nguyên của cây
lúa, tài nguyên di truyền lúa của nƣớc ta phong phú cả về số lƣợng và chất
1
Số đăng
Tên giống lúa
TT
kí
1
2
3
4
5
6
7
8
1529
6171
6179
7092
9448
9591
9596
9602
Số đăng
Tên giống lúa
kí
Kháu hạng đòn
Thƣớc đục
Kháu Ô môn
Tẻ nƣơng
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ýn
ĩa k oa ọc
Cung cấp thêm dữ liệu, thông tin khoa học hữu ích cho việc hình thành cơ
sở dữ liệu phenotype của các giống lúa bản địa có khả năng kháng rầy nâu tạo
cơ sở lý luận cho việc chọn lọc, phục tráng để nâng cao tiềm năng di truyền của
các giống lúa có khả năng kháng rầy nâu trong sản xuất.
Ýn
ĩa t ực tiễn
Góp phần vào công tác bảo tồn và chọn giống lúa có phẩm chất gạo tốt,
năng suất cao, có khả năng kháng rầy nâu.
5. Dự kiến kết quả nghiên cứu
Đánh giá đƣợc 18 chỉ tiêu hình thái và các đặc tính nông học của 15
giống lúa có khả năng kháng rầy nâu.
3
Chƣơng I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
“javanica” để đặt tên cho giống lúa cổ truyền của Indonesia là “bulu” và
“gundil”. Từ “Janvanica” có gốc từ chữ Java là tên của một đảo của Indonesia.
Từ “Japonica” có lẽ xuất xứ từ chữ Japan là tên nƣớc Nhật Bản. Còn “Indica”
có lẽ có nguồn gốc từ India (Ấn Độ). Nhƣ vậy, tên gọi của 3 nhóm thể hiện
nguồn gốc xuất phát của các giống lúa từ 3 vùng địa lý khác nhau. Bảng 2.1 so
sánh đặc tính của 3 nhóm này.
ảng 2.1. Đặc trƣng hình thái và sinh lý tổng quát của 3 nhóm giống lúa
Hai giống lúa indica và japonica chiếm gần hết tổng diện tích trồng lúa
trên thế giới và 100% ở châu Á. Từ đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã cố
gắng phân loại lúa đang trồng của loài sativa, bằng phƣơng pháp quan sát, đo
đếm, tuy nhiên, các phƣơng pháp này thiếu tính chất khoa học. Mãi cho đến
giữa thập niên 1980, với phát triển và sáng tạo các kỹ thuật cấp cao, các nhà
khoa học áp dụng kỹ thuật nghiên cứu cấp tế bào để xếp loại lúa, nên các công
5
trình phân tích, đánh giá và phân loại đƣợc chính xác hơn và nhiều ngƣời chấp
nhận hơn.
1.2. Một số đặc tính tổng quát của lúa
Nhiều chuyên gia cho rằng cây lúa xuất hiện ở vùng chân núi Hymalaya
và một số trung tâm khác và sau đó trải qua quá trình tiến hóa với ba đƣờng lối
khác nhau: (i) cây lúa japonica từ phía bắc chân núi Hymalaya di chuyển đến
Trung Quốc và Triều Tiên, (ii) cây lúa di chuyển từ trung tâm lúa trồng nguyên
thủy ở miền tây nam Trung Quốc và miền Thƣợng du Bắc Việt tiến về phƣơng
bắc Trung Quốc dƣới loại indica để rồi tiến hóa thành lúa japonica thích nghi
với khí hậu lạnh của vùng ôn đới, và (iii) cây lúa indica di chuyển về phía nam
và tiến hóa thành japonica nhiệt đới (javanica) ở Indonesia. Hiện nay, Trung
Quốc canh tác độ 8,8 triệu ha lúa Japonica ở các tỉnh miền Bắc.
sinh trƣởng, phát triển của cây lúa bắt đầu từ hạt và cây lúa cũng kết thúc một
chu kỳ của nó khi tạo ra hạt mới. Quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây
lúa có thể đƣợc chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn sinh trƣởng đƣợc tính từ thời
kì mạ đến đẻ nhánh; Giai đoạn sinh thực tính từ thời kì làm đốt đến hạt chín.
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về các đặc tính
nông học của rất nhiều giống lúa. Các giống lúa có đặc tính nông học tốt
thƣờng có các đặc điểm nhƣ cây thấp có khả năng chống chịu gió lớn, ngắn
ngày phù hợp với thâm canh tăng vụ, chiều dài và số hạt trên bông lớn cho
năng suất cao... Theo tiêu chuẩn đánh giá của IRRI (1996) [34], các đặc tính
nông học của cây lúa đƣợc đánh giá thông qua các đặc điểm: sức sinh trƣởng,
khả năng đẻ nhánh, độ cứng cây, độ yếu của cây, chiều cao cây, độ tàn lá, độ
thoát cổ bông, độ rụng hạt, độ thụ phấn của bông, ngoại hình chấp nhận, thời
gian sinh trƣởng và năng suất hạt. Thang điểm đƣợc thiết kế bằng cách chia
toàn bộ những biểu hiện bên ngoài các tính trạng của cây lúa ra nhiều lớp. Việc
phân cấp bằng mắt thƣờng mang tính logarit. Khi các tính trạng thể hiện càng
rõ thì sai số càng giảm. Vì trí tuệ của con ngƣời không thể nhanh chóng phân
7
biệt đƣợc 10 cấp cho một tính trạng, nên ngƣời ta có thể sử dụng thang điểm 3
cấp hoặc 5 cấp để đánh giá các mẫu giống trong tập đoàn nghiên cứu chi tiết,
ngƣời ta có thể sử dụng thang 10 điểm nếu cần thiết.
Việc đánh giá chính xác các đặc tính nông học của từng giống lúa sẽ đánh
giá đƣợc khả năng cho năng suất của từng giống lúa. Tuy ảnh hƣởng của các
đặc tính nông học không thể hiện ngay tác động của nó lên năng suất chất
lƣợng của giống lúa nhƣ ảnh hƣởng của dịch bệnh, song nếu không chú ý tới
đặc điểm nông học của giống lúa canh tác thì khó để đạt đƣợc năng suất tối đa
của giống lúa.
1.3.1. Một số các chỉ t u đán
nở trƣớc, các hoa ở gốc bông thƣờng nở cuối cùng, những bông nở cuối cùng
nếu gặp điều kiện không thuận lợi sẽ dễ bị lép hoặc khối lƣợng hạt thấp, điều
này ảnh hƣởng không nhỏ tới năng suất sau khi thu hoạch.
- Thời gian sinh trưởng: Thời gian sinh trƣởng của các giống lúa bắt đầu
từ khi gieo đến khi thu hoạch đƣợc chia làm nhiều giai đoạn khác nhau, các
giai đoạn sinh trƣởng luôn biến động theo giống, mùa vụ tác động của con
ngƣời thông qua các biện pháp kỹ thuật trong quá trình sản xuất. Sinh trƣởng,
phát triển là một chỉ tiêu quan trọng liên quan chặt chẽ với năng suất lúa. Quá
trình sinh trƣởng, phát triển của lúa thể hiện trên đồng ruộng là kết quả của sự
phản ánh tính bền vững của giống về mặt di truyền, đồng thời cũng phản ánh
đƣợc khả năng phản ứng của giống với điều kiện ngoại cảnh. Hay nói cách
khác, các giống khác nhau thì đặc tính của từng giống là khác nhau.
1.3.2. Một số p ươn p áp đán
á đặc tính nông học ở lúa
Để đánh giá các các yếu tố về đặc tính nông học ảnh hƣởng đến năng suất
và chất lƣợng lúa trên thế giới thƣờng sử dụng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá
cây lúa (SES) theo tiêu chuẩn IRRI,1996; Riêng tại Việt Nam còn có thêm hệ
thống đánh giá theo thang điểm của tiêu chuẩn ngành quy phạm khảo nghiệm
giống lúa 10 TCN 558 – 2002 [1, 34].
Phƣơng pháp đánh giá theo IRRI, 1996 [34] giúp các nhà nghiên cứu lúa
trên thế giới có một tiếng nói chung trong công tác đánh giá đặc tính của cây
lúa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập, xử lý và phân tích các số liệu
trong những thí nghiệm đa môi trƣờng, tăng cƣờng phƣơng pháp tiếp cận đa
lĩnh vực trong công tác cải thiện giống lúa, thang điểm SES đánh giá hàng loạt
9
10
giống HT1 là giống đã đƣợc công nhận giống quốc gia và gieo trồng khá phổ
biến ở Vĩnh Phúc. Sau khi đánh giá các đặc tính nông học, hình thái và chất
lƣợng, khả năng chống chịu bệnh, các giống lúa đã đƣợc đƣa vào sản xuất đại
trà và cho kết quả tốt.
Tại tỉnh Tuyên Quang, ngƣời ta cũng tiến hành đánh giá một số giống lúa
với 3 nhóm là lúa tẻ thƣờng, lúa chất lƣợng và lúa lai. Sử dụng chỉ tiêu và
phƣơng pháp theo dõi theo quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng
của giống lúa 10 TCN 558 – 2002 theo quyết định số 143/2002/BNN – KHCN
ngày 6/12/2002. Các yếu tố dùng để đánh giá chỉ tiêu về nông học cũng giống
nhƣ các yếu tố đánh giá của IRRI.
Tác giả Abifarin và cs (1972) [19], nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và
năng suất trong điều kiện nƣớc trời và có tƣới nƣớc tiến hành theo dõi các đặc
điểm liên quan đến khả năng chịu hạn nhƣ độ cuốn lá, độ khô lá, độ tàn lá, khả
năng trỗ thoát, khả năng chịu hạn, khả năng phục hồi sau 7 ngày khi kết thúc
đợt hạn tự nhiên (khi có mƣa trở lại) theo thang điểm của IRRI (1996).
Glenn et al (1997) [31], thanh lọc mặn các thông số biểu hện nhƣ đẻ
nhánh kém, hạt lép cao, số hạt/bông ít, khối lƣợng 1000 hạt thấp,triệu trứng:
trắng đầu lá và sau đó cháy, lá vàng và chết, sinh trƣởng còi cọc, đẻ nhánh
kém, lép, chỉ số thu hoạch thấp, số hạt trên bông ít, khối lƣợng 1000 hạt thấp,
năng suất thấp, thay đổi thời gian trỗ, cuốn lá, vết trắng lá, rễ sinh trƣởng kém,
ruộng sinh trƣởng loan lổ . Đƣợc ghi nhận chống chịu mặn của giống thanh lọc
theo tiêu chuẩn IRRI, 1996.
1.4. Đặc điểm hình thái của các giống lúa
- Một số các chỉ tiêu đánh giá của đặc điểm hình thái của các giống lúa.
+ Hình thái lá lúa: Nghiên cứu, đánh giá hình thái lá lúa đƣợc tiến hành
bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau, mỗi phƣơng pháp cung cấp cho ngƣời sử
dụng các loại thông tin khác nhau. Việc lựa chọn phƣơng pháp đánh giá phụ
yếu tố này ảnh hƣởng mạnh vào thời kỳ phân hóa đòng. Số bông trên một
12
khóm cũng là yếu tố ảnh hƣởng lớn đến năng suất, yếu tố này tỷ lệ thuận với
năng suất khi số bông trên khòm càng nhiều thì năng suất của giống lúa đó
càng tăng.
nh thái Hạt lúa: các chỉ tiêu đánh giá liên quan đến hạt lúa nhƣ chiều
dài hạt, chiều rộng hạt, màu sắc hạt... là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá
chất lƣợng của gạo. Chỉ tiêu chất lƣợng rất quan trọng trong quá trình lai tạo và
chọn giống. Theo các nhà khoa học thì những giống có hạt gạo thon, dài
thƣờng đƣợc đánh giá cao về chất lƣợng gạo.
1.5. Tổng quan về rầy nâu
Rầy là một trong những loài sâu gây hại lớn nhất cho lúa. Rầy đƣợc chia
thành 6 loài khác nhau gồm rầy nâu (brown planthoper); rầy lƣng trắng
(whitebacked), rầy xanh lá, (leafhopper (GLH), zigzag leafhopper (ZLH),
small brown planthopper (SBP ), and green rice leafhopper (GR )), trong đó
phổ biến là rầy nâu và rầy lƣng trắng, hai loài này gây thiệt hại rất lớn về năng
suất cũng nhƣ chất lƣợng lúa (Brar và cs., 2009) [36].
Rầy nâu đƣợc xem là một trong những đối tƣợng nguy hiểm gây hại trên
lúa, có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal, thuộc giống Nilaparvata, họ
rầy Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh
đều Homoptera (BVTVwiki, 2012) [23]. Nilaparvata lugens đƣợc đặt tên đầu
tiên vào năm 1854 là Delphax lugens Stal. Sau đó đƣợc đổi tên thành
Nilaparvata lugens bởi Muir và Giffard vào năm 1924 (Ecoport, nd). Tại Sri
Lanka, Nilaparvata lugens đƣợc biết đầu tiên với tên Nilaparvata greeni
Distant (Fernando và ctv, 1979) [29]. Tại Đài Loan, rầy nâu đƣợc biết đến với
cái tên đầu tiên là Liburnia oryzae (Fukuda, 1934) [30], sau đó là Nilaparvata
oryzae Matsumra (Anonymous, 1944) [20] và trở thành Nilaparvata lugens
(Mochida, 1970b)
[38]. Lúa nƣớc là ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian không trồng lúa
hoặc để ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lƣợng rầy cho vụ tiếp
theo. Cây dại thuộc họ hoà thảo và lúa chét là ký chủ phụ thích hợp cho rầy
sinh sống và đẻ trứng. Thí nghiệm của Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế (IRRI,
1979) [35] cho biết: cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp phần làm tăng số lƣợng rầy
14
khi lúa gần chín, là do đã tạo đƣợc môi trƣờng có thảm cây rậm rạp. Tuy nhiên,
có một số tác giả khác cho rằng, các ký chủ khác ngoài cây lúa chỉ là nơi trú
ngụ tạm thời của rầy nâu (Hinekly, 1963) [33]. Trƣớc năm 1960 rầy nâu chỉ là
đối tƣợng dịch hại thứ yếu, trong thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 khi cuộc
“cách mạng xanh” diễn ra thì rầy nâu đã trở thành đối tƣợng sâu hại quan trọng
bậc nhất ở hầu hết các nƣớc trồng lúa trên thế giới (Bharathi và Chellianh,
1991) [22]. Nạn dịch rầy nâu đƣợc coi là loại dịch quan trọng nhất trên cây lúa
sau sự bùng nổ và lan rộng của dịch rầy năm 1977 ở Malaixia (Ooi, 1992) [40].
Nạn cháy rầy ở lúa cũng đã đƣợc ghi nhận ở Thái Lan vào năm 1990, gây thất
thu hoàn toàn 0.5 triệu ha lúa.
Ở Việt Nam, rầy nâu đã đƣợc ghi nhận nhƣ một loài sâu hại lúa quan
trọng từ những năm 1931-1932 (Chiu, 1979) [27]. Nhƣng cũng chỉ trong
khoảng 30 năm trở lại đây chúng mới trở thành đối tƣợng dịch hại chủ yếu và
thƣờng xuyên ở nhiều vùng. Theo tài liệu đã ghi nhận đƣợc ở phía Bắc thì năm
1969, rầy nâu đã phá hại mạnh ở Thái Bình và một số tỉnh Trung bộ. Những
năm sau đó (1971-1974) rầy nâu đã phát triển ở nhiều vùng thuộc Duyên hải
Trung bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Diện tích bị rầy nâu gây hại năm 1974 lên tới
97.860 ha. Trong những năm 1976-1978, các đợt dịch rầy nâu đã liên tiếp xẩy
ra ở các tỉnh Bắc bộ và ven biển miền Trung. Trong hai năm 1977-1978 rầy
và tăng cƣờng tính chống gãy bông. Ở những giống lúa địa phƣơng, bông
thƣờng có hạt xếp dày và rõ nét, khối lƣợng hạt cao. Một đặc điểm đặc trƣng
cho lúa nƣơng địa phƣơng là khả năng sản sinh ra những bông hoàn toàn tốt
phù hợp cho việc làm đẫy căng hạt, thậm trí cả sau khi bị hạn nhẹ.
Theo nghiên cứu của Chang T. T. và Vergara B. S, (1972) [26] thì lúa
đƣợc canh tác ở khu vực có độ ẩm đất thấp đã hình thành các dạng lúa nƣơng
có thời gian sinh trƣởng ngắn, khả năng đẻ nhánh thấp, thân to và dày, bộ lá và
thân bị già cỗi nhanh chóng ở thời kỳ lúa chín. Vì vậy chúng thƣờng bị đổ vào
giai đoạn chín, rễ phát triển ăn sâu trong lòng đất và thƣờng có khả năng chịu
16
hạn cao, phản ứng với mức nghèo nitơ của đất. Lúa nƣơng đã trở nên khác biệt
với dạng hình lúa nƣớc tổ tiên và thƣờng sống tốt hơn trong điều kiện đất
thoáng khí. Trong quá trình tiến hoá có thể việc chọn lọc tự nhiên trong điều
kiện ngập nƣớc và khô hạn đã hình thành nhóm giống lúa nƣớc sâu và lúa
nƣơng chịu hạn, còn các giống lúa đƣợc trồng trong điều kiện nƣớc ổn định đã
tạo ra các loại hình lúa ruộng. Theo tác giả, khoảng 75% các giống lúa trồng
thuộc nhóm lúa nƣơng thƣờng đƣợc gieo trồng theo phƣơng thức chọc lỗ tra
hạt hoặc gieo vãi.
Chang và Bardenas, (1972) [25] nghiên cứu gieo hai loại lúa nƣơng và lúa
nƣớc bằng hạt khô đã nhận xét: Các giống lúa nƣơng nhiệt đới mọc và sinh
trƣởng khoẻ hơn các giống lúa nƣớc, điều này giúp cho chúng có khả năng
cạnh tranh tốt hơn với cỏ dại. Nhóm các giống lúa nƣơng có tỷ lệ rễ/thân lá cao
hơn các giống lúa nƣớc đáng tin cậy ở cả hai điều kiện đủ nƣớc và hạn. Sự sản
xuất chất khô cao hơn ở các giống lúa chịu hạn và thấp hơn ở các giống mẫn
cảm với hạn trong điều kiện thiếu nƣớc. Tỷ lệ gạo/vỏ trấu đều bị giảm đi khi bị
hạn đối với tất cả các giống lúa nƣơng và lúa nƣớc, song lúa nƣơng có tỷ lệ này
cao hơn lúa nƣớc.