Header Page 1 of 148.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra mạnh mẽ là nguyên nhân làm tăng những
bất lợi từ môi trƣờng, ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của nhiều loài cây
trồng. Do sự thay đổi khí quyển với hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ của khí quyển ấm
dần lên, băng tan ở hai cực sẽ tạo sự ngập lụt ở các vùng đất thấp. Lũ lụt, hạn hán và
sự xâm nhập mặn sẽ trở thành vấn đề lớn gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến phát triển
nông lâm nghiệp. Để thích ứng với những biến đổi khí hậu và những hệ quả của
chúng, chiến lƣợc chung của ngành nông lâm nghiệp là ƣu tiên tạo ra những giống
cây trồng chống chịu đƣợc khô hạn, mặn, ngập úng, lạnh và chống chịu với đất có
vấn đề nhƣ acid, thiếu lân, ngộ độc sắt, ngộ độc nhôm.
Những tác động bất lợi từ môi trƣờng nhƣ khô hạn, đất nhiễm mặn, ngập
úng, nhiệt độ cực đoan thƣờng làm mất cân bằng về áp suất thẩm thấu gây ảnh
hƣởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lƣợng của nhiều loài cây trồng (Linhui
et al., 2012). Một trong những phản ứng thƣờng gặp nhất khi cây gặp các điều kiện
bất lợi về nƣớc đó là tăng cƣờng tổng hợp và tích lũy các chất chuyển hóa nhƣ các
loại đƣờng tan, axít amin, v.v. để tăng cƣờng áp suất thẩm thấu cho tế bào. Proline
và glycine betaine đƣợc biết đến là một trong những chất đóng vài trò quan trọng
trong quá trình điều chỉnh áp suất thẩm thấu nội bào khi thực vật sống trong các
điều kiện bất lợi nhƣ khô hạn, mặn, lạnh (Sávio et al., 2012). Trong tế bào thực vật,
glycine betaine (GB) đƣợc tổng hợp từ choline thông qua hai phản ứng liên tiếp
đƣợc xúc tác bởi choline monooxygenase (CMO) và betain aldehyde
dehydrogenase (BADH) (Rathinasbapathi et al., 1997). Cũng giống nhƣ thực vật
bậc cao, ở vi khuẩn E. coli và ở một số động vật, con đƣờng sinh tổng hợp GB cũng
trải qua hai bƣớc là khử choline thành betaine aldehyde và oxy hóa betaine
aldehyde thành GB (Takabe et al., 1998). Ngƣợc lại, con đƣờng sinh tổng hợp GB ở
vi khuẩn Arthrobacter globiformis và Arthrobacter panescens lại rất đơn giản, từ
chịu mă ̣n và băng giá (Ali et al., 1998a, 1998b; Hayashi et al., 1997, 1998;
Sakamoto et al., 2000; Huang et al., 2000), cây cải be ̣ (Brassica juncea) chuyể n gen
codA có khả năng chiụ mă ̣n tố t hơn cây đố i chƣ́ng (Waditee et al., 2005). Tƣơng tự,
cây lúa (Oriza sativa) chuyển gen codA, betA,COX, CMO, cây cà chua, cây hồng,
cây bạch đàn chuyể n gen codA cũng tăng cƣờng kh ả năng chiụ la ̣nh , hạn, mă ̣n và
oxy hóa (Sakamoto et al., 1998, Takabe et al., 1998; Su et al., 2006; Shirasawa et
al., 2006; Mohanty et al., 2002; Park et al., 2004, 2007a; Yu et al., 2009). Cây thuốc
lá chuyển gen COX, betA, CMO, BADH (Lilius et al., 1996; Nuccio et al., 1998;
Yang et al., 2008), cây cà rốt chuyển gen BADH (Kumar et al., 2004); cây bông và
ngô chuyển gen betA (Lv et al., 2007; Quan et al., 2004a, 2004b) cũng đã đƣợc
chứng minh là chống chịu tốt hơn với các điều kiện cực đoan của môi trƣờng. Kết
quả nghiên cứu chuyển gen P5CS, P5CR, -OAT tham gia sinh tổng hợp proline
vào cây thuốc lá, lúa nƣớc, lúa mì, cà rốt, chanh, đậu tƣơng, Arabidopsis cho thấy
cây chuyển gen chống chịu tốt hơn với điều kiện môi trƣờng sống bị mặn, hạn, oxy
hóa, nhiệt cao và băng giá (Kavi Kishor et al., 1995; Zhu et al., 1998; Hong et al.,
Footer Page 2 of 148.
Header Page 3 of 148.
3
2000; Anoop et al., 2003; Su & Wu, 2004; Sawahel & Hassan, 2002; Han &
Hwang, 2003; Hur et al., 2004; Molinari et al., 2004; De Ronde et al., 2004).
Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động mạnh mẽ của việc biến
đổi khí hậu, do đó hạn hán và đất nhiễm mặn hoang hóa đang ngày một gia tăng,
đây sẽ là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lƣợng cây
trồng nông lâm nghiệp và thu hẹp diện tích đất canh tác. Vì vậy, viê ̣c triể n khai các
nghiên cƣ́u nhằ m ta ̣o ra đƣơ ̣c các giố ng cây trồ ng nông lâm nghiệp có khả năng
4
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung:
Thông qua công nghệ chuyển gen để nghiên cứu khả năng tăng cƣờng tính
chống chịu các điều kiện môi trƣờng bất lợi trên đối tƣợng cây Xoan ta nhằm bổ
sung thêm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc tạo giống cây trồng lâm nghiệp có
khả năng chống chịu tốt với điều kiện môi trƣờng bất lợi.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
(1) Xây dựng đƣợc quy trình chuyển gen vào cây Xoan ta đạt hiệu suất cao để làm
công cụ nghiên cứu;
(2) Đánh giá đƣợc hoạt động của promoter rd29A cảm ứng hạn ở các dòng Xoan ta
chuyển gen;
(3) Đánh giá đƣợc khả năng chịu hạn của các dòng Xoan ta chuyển gen P5CS đột
biến loại bỏ hiệu ứng phản hồi ngƣợc (P5CSm);
(4) Đánh giá đƣợc khả năng chịu hạn, mặn của các dòng thuốc lá và Xoan ta chuyển
gen codA.
3. Nội dung nghiên cứu
(1) Xây dựng và tối ƣu hóa quy trình chuyển gen vào cây Xoan ta thông qua
Agrobacterium tumefaciens;
(2) Tạo các dòng Xoan ta chuyển gen mang cấu trúc gen rd29A::gus intron và đánh
giá hoạt động của promoter rd29A điều khiển biểu hiện gen gus trong điều kiện bình
thƣờng và xử lý hạn nhân tạo;
(3) Tạo các dòng Xoan ta chuyển gen mang cấu trúc gen rd29A:: P5CSm và đánh
giá kiểu hình, đặc tính sinh lý, sinh hóa của cây chuyển gen trong điều kiện xử lý
hạn nhân tạo;
Footer Page 4 of 148.
một chỗ, không di chuyển từ nơi sống này đến nơi sống khác trong suốt quá trình
phát triển. Do đó, khác với động vật, thực vật thƣờng xuyên đối mặt trực tiếp với
các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, tác động lên quá trình sinh trƣởng và phát triển.
Những tác động bất lợi từ môi trƣờng có thể gây ra những biến đổi sinh lý, hóa sinh
và hình thái; từ đó ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng cây trồng.
1.1.1. Tác hại của hạn đến sinh trƣởng và phát triển của cây trồng
Hạn hán là một nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất và chất lƣợng
sản phẩm của cây trồng. Khi môi trƣờng hạn hán cây bị stress mất nƣớc dẫn đến
nhiều hậu quả nghiêm trọng (Abdullah et al., 2011; Belkheiri & Mulas, 2013): (i)
Gây nên hiện tƣợng co nguyên sinh và làm cho cây bị héo. Sự co nguyên sinh chất
xảy ra khi tế bào bị stress nƣớc làm cho nƣớc trong tế bào thất thoát ra ngoài nên
khối nguyên sinh chất của tế bào co lại, thể tích không bào bị thu hẹp. Khi cây sống
trong môi trƣờng thiếu nƣớc kéo dài, tế bào mất nƣớc dẫn đến các mô trở nên mềm
yếu và sự héo xảy ra. Mô thực vật bị héo tạm thời nhƣng cũng có thể vĩnh viễn nếu
sự thiếu nƣớc xảy ra nghiêm trọng và trong thời gian dài. (ii) Môi trƣờng sống bị
khô hạn cản trở sự vận chuyển nƣớc trong mạch gỗ. Khi thiếu nƣớc do khô hạn sự
cung cấp nƣớc cho rễ không đủ trong đêm để thủy hóa các mô đã bị thiếu nƣớc ban
ngày, dẫn đến các lông hút bị tổn thƣơng lớp ngoài vùng vỏ bị phủ chất sáp
(suberin) làm giảm áp suất rễ nên ảnh hƣởng đến đẩy cột nƣớc lên cao trong mạch
gỗ. Đặc biệt khi thiếu nƣớc sẽ hình thành nhiều bọt khí trong mạch gỗ dẫn đến phá
vỡ tính liên tục của cột nƣớc nên cột nƣớc trong mạch gỗ không đƣợc đẩy lên liên
tục. (iii) Hạn hán làm dày lớp cutin trên bề mặt lá làm giảm sự thoát hơi nƣớc qua
biểu bì. (iv) Sự thiếu nƣớc làm giảm cƣờng độ quang hợp. Khi hàm lƣợng nƣớc
Footer Page 6 of 148.
Header Page 7 of 148.
7
Header Page 8 of 148.
8
thấp. Cây sẽ bị chết nếu bị tác động của môi trƣờng nhiễm mặn cao hay nhiễm mặn
trong thời gian dài (Jouyban, 2012).
1.1.3. Tác hại của nhiệt độ cao đến sinh trƣởng và phát triển của cây trồng
Thực vật là sinh vật biến nhiệt nên nhiệt độ môi trƣờng có ảnh hƣởng lớn đến
hoạt động sống của cây. Biên độ nhiệt độ sinh lý của cây khoảng 1 – 45oC. Stress
nhiệt do nhiệt độ môi trƣờng xung quanh cao là một mối đe dọa nghiêm trọng đối
với cây trồng sản xuất trên toàn thế giới (Hall, 2001; Harrison et al., 2011). Nhiệt độ
cao gián đoạn hoặc liên tục là nguyên nhân gây ra một loạt thay đổi về hình thái giải
phẫu, sinh lý và sinh hóa ở thực vật, ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng và phát triển của
thực vật và có thể dẫn đến suy giảm sản lƣợng.
Sự tiếp xúc của thực vật tới nhiệt độ cao, hạt giống có thể đẩy nhanh quá trình
lão hóa, làm giảm sự đậu quả, trọng lƣợng hạt giống và làm giảm năng suất. Điều
này là do thực vật có xu hƣớng chuyển hƣớng các nguồn năng lƣợng để chống lại
stress do nhiệt và do đó hạn chế sinh trƣởng và sinh sản. Một ảnh hƣởng khác của
stress do nhiệt cao cho nhiều loài thực vật là gây ra vô sinh khi nhiệt cao tác dụng
ngay trƣớc hoặc trong khi nở hoa. Cây họ đậu đặc biệt nhạy cảm với stress do nhiệt
ở giai đoạn nở hoa, chỉ có một vài ngày tiếp xúc với nhiệt độ cao (30 – 35oC) có thể
gây ra tổn thất nặng cho năng suất thông qua giảm lƣợng hoa hoặc tình trạng không
phát triển đầy đủ của vỏ quả. Ở nhiệt độ rất cao gây tổn thƣơng tế bào nghiêm trọng
và thậm chí làm cho tế bào bị chết trong vòng vài phút, dẫn đến sự sụp đổ nhanh
chóng của các tổ chức tế bào (Schoffl et al., 1999). Ở nhiệt độ cao vừa phải, tổn
thƣơng hoặc chết chỉ có thể xảy ra sau khi tiếp xúc lâu dài. Tổn thƣơng trực tiếp do
nhiệt độ cao bao gồm sự biến tính protein và sự kết tụ, tăng tính lƣu động của màng
lipid. Tổn thƣơng gián tiếp hoặc tổn thƣơng nhiệt chậm hơn bao gồm bất hoạt các
gây ra bởi điều kiện bất lợi mang lại sự suy yếu của năng lƣợng khi mà các phân tử
ATP đòi hỏi để tái tổng hợp NAD+ (Zidenga, 2005). Cuối cùng, có thể nói rằng
việc chống chịu nhiệt độ của cây là một quá trình tiêu tốn nhiều năng lƣợng nội bào
đáng kể để đối phó nhiệt độ cao. Nói chung các phản ứng đó làm suy yếu năng
lƣợng và tăng cƣờng sản xuất ROS, rốt cuộc có thể gây chết tế bào, mô và cả cơ thể
(De Block et al., 2005).
Footer Page 9 of 148.
Header Page 10 of 148.
10
1.1.4. Tác hại của nhiệt độ thấp đến sinh trƣởng và phát triển của cây trồng
Nhiệt độ thấp làm cho lá cây bị héo mặc dù môi trƣờng vẫn đủ nƣớc do nhiệt
độ thấp ức chế sự hút nƣớc của hệ rễ và sự vận chuyển nƣớc của hệ mạch. Nhiệt độ
thấp cũng gây ức chế quá trình quang hợp của lá, làm giảm hô hấp, ức chế các quá
trình tổng hợp nhất là tổng hợp các phân tử protein do các enzyme hoạt động yếu. Ở
nhiệt độ thấp làm cho màng nguyên sinh chất bị tổn thƣơng dẫn đến tăng tính ngoại
thấm nên thất thoát chất dinh dƣỡng của tế bào ra bên ngoài. Nhiệt độ thấp ảnh
hƣởng đến cấu trúc và chức năng của hệ rễ. Sự hút nƣớc và chất khoáng bị giảm
mạnh làm cho cây thiếu nƣớc và chất dinh dƣỡng. Nhiệt độ thấp còn làm tổn hại
màng lục lạp, ty thể dẫn đến ảnh hƣởng nghiêm trọng đến các quá trình sinh lý của
cây nhƣ quá trình quang hợp, hô hấp. Nói chung nhiệt độ thấp làm giảm mạnh sinh
trƣởng, năng suất và chất lƣợng sản phẩm của cây trồng (Gulzar et al., 2011).
1.1.5. Phản ứng của thực vật đối với các điều kiện môi trƣờng bất lợi
Các yếu tố cực đoan nhƣ nhiệt độ cao, băng giá, ánh sáng, oxy hóa,v.v.
thƣờng tác động lên lá. Hạn, úng và mặn muối thƣờng tác động lên bộ rễ. Các yếu
tố cực đoan thƣờng gây ra diện rộng về các phản ứng của thực vật, từ việc thay đổi
hiện các gen liên quan đến tổng hợp các chất thứ cấp nhƣ các loại đƣờng tan,
proline, glycine betaine, v.v. để tăng cƣờng áp suất thẩm thấu của tế bào (Khan et
al., 2009; Szabados & Savoure´, 2009) hoặc biểu hiện các gen mã hóa cho các
protein chịu hạn, mặn nhƣ protein LEA (Porcel et al., 2005). Đối với hiện tƣợng
nhiệt độ cao, chúng sẽ tăng cƣờng mức độ biểu hiện các gen mã hóa cho các protein
sốc nhiệt (Hsp – heat shock protein) (Simões-Araújo et al., 2003).
Thời gian, mức độ khốc liệt của các yếu tố cực đoan ảnh hƣởng khác nhau đến
khả năng phản ứng của cây trồng. Hiện tƣợng mất nƣớc cục bộ chỉ gây thiệt hại cho
một nhóm nhỏ, nhƣng hạn hán, nhiễm mặn kéo dài sẽ gây thiệt hại cho nhiều loài cây
trồng trên một vùng rộng lớn, ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng sản phẩm cây
trồng (Trần Thị Phƣơng Liên, 2010). Ngoài ra, các cơ quan, các mô tế bào khác nhau
sẽ phản ứng với các yếu tố cực đoan không giống nhau. Các loài thực vật khác nhau
sẽ có khả năng chống chịu khác nhau với các yếu tố cực đoan của môi trƣờng phụ
thuộc vào bản chất di truyền (hệ gen) của chúng. Vì vậy, khi đối mặt trực tiếp với các
yếu tố bất lợi của môi trƣờng có loài cây có thể chống chịu đƣợc để tồn tại, sinh
trƣởng và phát triển, có loài cây sẽ bị chết. Ngay trong cùng một loài cây, các cá thể
khác nhau cũng có mức độ phản ứng khác nhau với yếu tố cực đoan của môi trƣờng
(Buchanan et al., 2000).
Footer Page 11 of 148.
Header Page 12 of 148.
12
1.2. TÍNH CHỐNG CHỊU VỚI CÁC ĐIỀU KIỆN MÔI TRƢỜNG BẤT LỢI CỦA
THỰC VẬT
1.2.1. Cơ chế chống chịu các điều kiện môi trƣờng bất lợi
Điều kiện bất lợi từ môi trƣờng sống - stress (điều kiện bất lợi phi sinh học
Header Page 13 of 148.
13
tử trung hòa về điện, có kích thƣớc rất nhỏ, đóng vai trò quan trọng giúp các phân
tử protein và màng tế bào chống lại sự biến tính dƣới tác động của các điều kiện bất
lợi phi sinh học (Trần Thị Phƣơng Liên, 2010). Chất bảo vệ áp suất thẩm thấu hay
các chất hòa tan tƣơng thích đƣợc chia làm 4 nhóm chất sau đây: (1) glycine betaine
(là dẫn xuất methyl hóa nhóm nitơ của axít amin), (2) proline và ectoine (axít amin),
(3) polyols và trehalose (là một hợp chất polyme không phải đƣờng) và (4) các loại
đƣờng tan: glucose, sucrose, fructan, manitol và pinitol.
Glycine betaine, proline và các nhóm đƣờng thực hiện chức năng nhƣ các
chất điều chỉnh áp suất thẩm thấu và bảo vệ tế bào khỏi bị mất nƣớc. Quá trình này
liên quan đến một số enzyme chức năng đã đƣợc phân lập và phân tích về mặt sinh
hóa nhƣ các enzyme chủ chốt tham gia sinh tổng hợp và chuyển hóa các chất điều
hòa áp suất thẩm thấu, các enzyme giải độc và các loại protease khác. Protein vận
chuyển nƣớc qua màng, chất vận chuyển các đƣờng đơn, proline và glycine betaine
đƣợc xem nhƣ có chức năng chuyển nƣớc, proline, glycine betaine, các chất đƣờng
đơn qua màng nguyên sinh chất và màng không bào để điều chỉnh áp suất thẩm thấu
khi gặp điều kiện môi trƣờng cực đoan.
1.2.2. Cơ chế phân tử liên quan đến tính chống chịu điều kiện môi trƣờng bất lợi
Dƣới tác động của yếu tố cực đoạn của môi trƣờng, đầu tiên tế bào thực vật sẽ
nhận biết tín hiệu, cảm ứng với điều kiện môi trƣờng, tiếp đến tổng hợp các hormone
nhƣ ABA, sau đó hoạt hóa các yếu tố phiên mã – TF (transcrition factor). Phần lớn các
protein cảm ứng với ABA đƣợc xếp vào nhóm RAB. Tuy nhiên, có một số gen có thể
biểu hiện trong điều kiện thiếu ABA. Đa số các gen cảm ứng điều kiện môi trƣờng bất
lợi đều đáp ứng với xử lý ABA ngoại sinh, một số khác thì không (Ingram & Barttels,
1996; Shinozaki et al., 1997). Vì vậy, sự biểu hiện gen liên quan đến các đặc tính
việc nhận biết và hoạt hóa quá trình khởi động đƣợc đặc biệt quan tâm. Trong quá
trình này, có thể đồng thời tham gia của nhiều gen tổng hợp cùng một lúc nhiều loại
protein điều hòa phiên mã cũng nhƣ các protein/enzyme liên quan đến tính chống
chịu. Phần lớn các gen cảm ứng với điều kiện khô hạn đều cảm ứng với các điều
kiện lạnh, mặn (điều kiện mất nƣớc sinh lý). Sự điều hòa biểu hiện gen đƣợc điều
khiển ở nhiều bƣớc khác nhau, từ trƣớc phiên mã, sau phiên mã và dịch mã. Nhƣng
nhìn chung, kiểu điều hòa cơ bản nhất là ở giai đoạn khởi đầu phiên mã. Gen đƣợc
biểu hiện khi RNA-polymerase có thể liên kết vào vùng promoter (trình tự khởi
động) của nó và tiến hành tổng hợp bản phiên mã mRNA chứa vùng mã hóa của
gen. Mức độ biểu hiện của gen trong tế bào đƣợc xác định bằng mức gắn kết (ái
lực) của RNA-polymerase và các yếu tố phiên mã với promoter.
Promoter hay vùng gen khởi động là trình tự DNA rất cần thiết để biểu hiện
gen. Phần lớn các gen đều đƣợc biểu hiện mạnh hay yếu dƣới sự điều khiển của các
yếu tố phiên mã – TF (transcription factor). TF là các protein có khả năng nhận biết
các trình tự cis đặc hiệu trên promoter và hoạt hóa sự phiên mã. Các đoạn trình tự
cis – yếu tố cis còn đƣợc gọi là các yếu tố điều hòa (regulatory element).
Yếu tố điều hòa phiên mã – TF có rất nhiều loại khác nhau thích hợp với
nhiều loại đoạn trình tự cis, các nghiên cứu ở cây đậu tƣơng cho thấy có trên
Footer Page 14 of 148.
Header Page 15 of 148.
15
1.200 loại TF đặc hiệu cho các loại mô và trong các điều kiện ngoại cảnh môi
trƣờng khác nhau. Trong đó, biết đến có trên 180 loại TF đặc hiệu ở mô rễ liên
quan đến tính chịu hạn, mặn, v.v.. Khoảng 5,9% hệ gen của cây Arabidopsis
mã hóa cho trên 1.500 loại TF (Trần Thị Phƣơng Liên, 2010). Các protein tham
Siripornadulsi et al., 2002). Mức độ tích lũy proline ở các loài thực vật khác nhau là
khác nhau và có thể cao hơn 100 lần so với cây sống trong điều kiện bình thƣờng.
Chính vì vậy, sự tích lũy proline đƣợc khẳng định là có vai trò rất quan trọng trong các
cơ chế chống chịu với các điều kiện môi trƣờng bất lợi của thực vật. Proline đƣợc cho
là phản ứng nhƣ một loại chất trao đổi thích ứng và là chất để cây dự trữ nguồn carbon
và nitơ (Hare & Cress, 1997). Proline còn là một chất có chức năng khử các gốc oxy
phản ứng sinh ra trong tế bào khi tế bào gặp các điều kiện bất lợi oxy hóa (oxidative
stress) (Smirnoff & Cumbes, 1989). Ngoài ra, proline cũng giữ chức năng trong quá
trình ổn định các cấu trúc protein và tạo ra trạng thái cân bằng pH và oxy hóa khử của
tế bào. Với những chức năng của proline nêu trên, nó đƣợc xem là tham gia vào cơ
chế truyền tín hiệu của tế bào trong các đáp ứng thích ứng (Maggio et al., 2002).
Ngoài những chức năng nêu trên, proline còn đóng vai trò quan trọng trong
quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây trồng mặc dù proline không phải là một
trong những axít amin không thay thế. Sự tích lũy proline đƣợc xác nhận ở các loại
mô và cơ quan sinh sản của khá nhiều loài cây, bởi vậy proline còn có vai trò trong
quá trình phát triển các loại cơ quan sinh sản ở thực vật. Hai quá trình phát triển đã
đƣợc chứng minh đó là proline tham gia vào quá trình kéo dài cuống hoa và thời
gian nở hoa (Mattioli et al., 2009).
Proline đƣợc xem là một chất thẩm thấu có vai trò bảo vệ các cấu trúc nội
bào và các đại phân tử (DNA, protein) khi tế bào bị tác động bởi các điều kiện bất
Footer Page 16 of 148.
Header Page 17 of 148.
17
lợi về áp suất thẩm thấu (Szabados & Savoure, 2009). Tuy nhiên, sự tích lũy proline
trong tế bào có thể ảnh hƣởng đến khă năng chống chịu của cơ thể thực vật theo
tính của thủy ngân thông qua quá trình phân cắt các gốc oxy phản ứng nhƣ
hydroperoxide (Wang et al., 2009). Khi nghiên cứu trên hệ màng thylakoid cũng
nhận thấy rằng proline có vai trò ức chế hiệu ứng phá hủy của các gốc oxy tự do
tới bộ máy quang hợp II (Alia & Mohanty, 1997). Tác động tiêu cực của tia phóng
xạ đến các tế bào tảo và cây thuốc lá chuyển gen P5CS tăng cƣờng sinh tổng hợp
và tích lũy proline cũng bị giảm mạnh (Hong et al., 2000; Siripornadulsil et al.,
2002).
Mặc dù những dẫn chứng về vai trò bảo vệ và phân cắt các gốc oxy tự do
trong tế bào của proline là khá đầy đủ, ngƣợc lại những bằng chứng về khả năng
duy trình sự ổn định trạng thái cân bằng nội bào còn rất hạn chế. Sự tích lũy của các
enzyme P5CS1 và P5CR trong lục lạp cho thấy, trong các điều kiện khắc nghiệt của
môi trƣờng, quá trình sinh tổng hợp proline tăng lên ở lạp thể (Székely et al., 2008).
Khi cây gặp các điều kiện bất lợi thì tốc độ chu trình Calvin giảm đi nhằm mục đích
giảm thiểu quá trình oxy hóa NADPH và dự trữ NAPD+. Khi kết hợp với ánh sáng,
dòng điện tử trong chuỗi vận chuyển điện tử bị ức chế bởi không đủ lƣợng NADP+,
điều này dẫn đến sự tăng cƣờng sản xuất các gốc oxy tự do ở trung tâm hệ quang
hợp I và tích lũy các gốc oxy phản ứng (ROS) (Chaves et al., 2009). Vì quá trình
sinh tổng hợp proline là quá trình khử và cần có NADPH để khử glutamate thành
P5C và từ P5C thành proline, nên quá trình này sẽ tạo ra nhiều phân tử NADP+.
Bên cạnh đó, quá trình phosphoryl hóa glutamate thành glutamic semialdehyde tiêu
thụ ATP và tạo ra ADP, các phân tử ADP này sau đó có thể làm cơ chất cho quá
trình sinh tổng hợp ATP thông qua quá trình quang hợp. Chính vì vậy nếu tăng
cƣờng tốc độ sinh tổng hợp proline trong lục lạp khi tế bào gặp các điều kiện bất lợi
có thể giúp duy trì trạng thái cân bằng của NADPH:NADP+, do đó ổn định dòng
điện tử, trạng thái oxy hóa khử và ngăn ngừa những hƣ tổn đến bộ máy quang hợp
(Hare et al., 1997). Ở các dòng đậu tƣơng chuyển gen đối mã với P5CR cho thấy
Footer Page 18 of 148.
định hoạt động của các enzyme khử độc, bộ máy vận chuyển protein và kích thích
Footer Page 19 of 148.
Header Page 20 of 148.
20
sự tích lũy các protein có chức năng bảo vệ. Ở các loài cây ƣa mặn khác nhƣ
Camphorosma annua và Limonium spp hàm lƣợng proline tích lũy không cao
nhƣng thay vào đó ở các loài cây này lại tích lũy mạnh nhiều chất thẩm thấu khác
nhƣ các loại carbohydrate hay các chất tổng hợp từ betain (Murakeözy et al., 2003).
Các nghiên cứu này cho thấy rằng, sự tích lũy proline trong tế bào thƣờng đi kèm
với những đặc tính chống chịu ở các loài cây bởi vậy có thể cho rằng quá trình tích
lũy proline là để giúp cây tăng cƣờng tính chống chịu với điều kiện môi trƣờng bất
lợi. Tuy nhiên, sự tích lũy proline không phải là một yếu tố quá cần thiết cho sự
thích ứng của các loài thực vật khác nhau khi sống trong điều kiện môi trƣờng bất
lợi (Szabados & Savoure, 2009).
1.2.3.2. Con đƣờng sinh tổng hợp proline ở thực vật
Hình 1.3: Con đƣờng sinh tổng hợp proline ở thực vật bậc cao (Delauney & Verma, 1993)
Con đƣờng sinh tổng hợp proline ở thực vật bậc cao có thể đƣợc thực hiện
qua hai con đƣờng hoặc từ glutamate hoặc từ ornithine (hình 1.3). Proline đƣợc sinh
tổng hợp từ tiền chất glutamate đƣợc coi là một trong những chu trình sinh tổng hợp
quan trọng nhất của thực vật ở những điều kiện sinh lý nhất định, khi thực vật bị
Footer Page 20 of 148.
Footer Page 21 of 148.
Header Page 22 of 148.
22
cũng cho rằng sự tích lũy proline theo con đƣờng sinh tổng hợp từ ornithine có vai
trò đối với tính chống chịu của một số loài thực vật khi gặp các điều kiện môi
trƣờng bất lợi về áp suất thẩm thấu (Trovato et al., 2008).
1.2.3.3. Sự điều hòa quá trình trao đổi proline ở thực vật
Việc nghiên cứu về quá trình trao đổi proline ở thực vật đã đƣợc thực hiện
nhiều, nhƣng đến nay kiến thức về cơ chế điều hòa quá trình trao đổi proline vẫn
còn rất hạn chế. Sơ đồ hình 1.4 mô tả cơ chế và các tác nhân có vai trò trong quá
trình điều hòa trao đổi proline ở thực vật. Quá trình sinh tổng hợp proline đƣợc hoạt
hóa và quá trình dị hóa proline bị hạn chế khi cây trồng bị xử lý hạn. Khi cung cấp
đủ nƣớc trở lại cho cây trồng sau xử lý hạn thì các quá trình này sẽ hoạt động theo
hƣớng ngƣợc lại, nghĩa là quá trình di hóa proline đƣợc hoạt hóa mạnh và quá trình
tổng hợp bị hạn chế (Xue et al., 2009).
Hình 1.4: Cơ chế điều hòa quá trình trao đổi proline ở thực vật (Szabados & Savoure,
2009). Đường màu xanh lá cây là tổng hợp và đường màu đỏ là dị hóa proline.
Quá trình sinh tổng hợp proline đƣợc kiểm soát chính bởi sử biểu hiện của 2
gen (P5CS1, P5CS2) mã hóa cho enzyme P5CS. Hai gen này có độ tƣơng đồng rất
cao về trình tự mã hóa nhƣng biểu hiện gen lại rất khác nhau trong những điều kiện
Footer Page 22 of 148.
Quá trình chuyển hóa tiền chất pyrroline-5-carboxylate (P5C) thành proline không
phải là bƣớc giới hạn trong chu trình sinh tổng hợp proline. Bởi vậy, sự điều hòa
hoạt tính của enzyme P5CR cho thấy sự phức tạp trong cơ chế điều hòa sự biểu hiện
của gen P5CR. Kết quả phân tích trình tự đoạn promoter điều khiển hoạt động của
Footer Page 23 of 148.
Header Page 24 of 148.
24
gen P5CR phân lập từ cây Arabidopsis đã xác định đƣợc một đoạn trình tự có chiều
dài 69 bp quy định hoạt động đặc hiệu mô của gen này. Đến nay, các nhà khoa học
vẫn chƣa xác định đƣợc các nhân tố tác động dạng trans liên kết đặc hiệu với đoạn
trình tự cis này (Hua et al., 1999).
Quá trình sinh tổng hợp proline ở thực vật bị kích hoạt bởi ánh sáng và các
yếu tố bất lợi về áp suất thẩm thấu (hạn, mặn). Ngƣợc lại, quá trình dị hóa proline
lại đƣợc hoạt hóa trong điều kiện môi trƣờng sống không có ánh sáng và điều kiện
môi trƣờng bình thƣờng. Quá trình di hóa proline đƣợc kiểm soát bởi hai enzyme là
proline dehydrogenase (PDH) và pyrroline-5-carboxylate dehydrogenase (P5CDH)
(hình 1.4). Quá trình biểu hiện của gen PDH mã hóa cho enzyme PDH đƣợc hoạt
hóa bởi chính proline khi cây đƣợc cung cấp đủ nƣớc sau khi bị hạn. Sự phiên mã
của gen PDH lại bị ức chế khi cây bị stress nƣớc do đó đảm bảo proline không bị
phân giải khi cây sống trong môi trƣờng bị stress nƣớc. Sự biểu hiện của gen PDH
bị ức chế vào ban ngày nhƣng lại đƣợc hoạt hóa vào buổi tối do đó hoạt động của
gen này ngƣợc với hoạt động của gen P5CS1. Kết quả phân tích promoter điều
khiển hoạt động của gen PDH đã xác định đƣợc nhân tố cảm ứng với trạng thái
thẩm thấu và proline, là nhân tố giữ vai trò rất quan trọng đối với quá trình hoạt hóa
của gen này (Satoh et al., 2002). Yếu tố phiên mã liên kết với promoter điều khiển
đƣờng và lúa mạch, nhanh chóng tích lũy GB xảy ra trong quá trình cây bị căng
thẳng (stress) với muối, hạn hán và nhiệt độ thấp (Bohnert et al., 1995). GB bảo vệ
cây bằng cách hoạt động nhƣ một chất hữu cơ có ảnh hƣởng đến thẩm thấu
(osmolyte), duy trì cân bằng nƣớc giữa các tế bào thực vật và môi trƣờng, ổn định
các đại phân tử dƣới điều kiện khô hạn và nồng độ muối cao (Papageorgiou &
Murata, 1995).
GB tích lũy ở nồng độ cao không gây cản trở chức năng của tế bào chất và
có tác dụng đảm bảo tính ổn định cấu trúc và chức năng của các đại phân tử. GB
xuất hiện nhƣ một yếu tố quyết định tới khả năng chống chịu điều kiện bất lợi ở cây
trồng. Chất này có hiệu quả lớn và liên quan mật thiết đến khả năng sinh trƣởng của
cây trồng trong điều kiện môi trƣờng hạn hán và nhiễm mặn. Mức độ tích lũy GB
tƣơng quan với khả năng chống chịu điều kiện bất lợi. GB đƣợc tích lũy chủ yếu
trong lục lạp, nó đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh và duy trì màng thylacoid,
do đó duy trì hiệu quả quang hợp (Yang et al., 2003).
Trong nhiều loài cây trồng, sự tích lũy tự nhiên của GB đủ để cải thiện tác
động tiêu cực của tình trạng mất nƣớc gây ra bởi những vấn đề môi trƣờng khác
nhau. Bên cạnh đó, một số loài cây trồng nhƣ lúa, khoai tây, cà chua, thuốc lá, v.v.
Footer Page 25 of 148.