Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vận dụng vào việc xây dựng lối sống văn hóa cho sinh viên trường đại học sư phạm Đà Nẵng - Pdf 41

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
_*_

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ VẬN DỤNG
VÀO VIỆC XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn
: T.S Dương Anh Hoàng
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Hồng Duyên
Lớp
: 09SGC

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2013

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được bất kì ai công
bố trước đây. Nếu xảy ra bất kỳ trường hợp nào liên quan đến bản quyền, tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Đà Nẵng, ngày 14 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Lê Thị Hồng Duyên


Lời cảm ơn
Để có được kết quả như ngày hôm nay là nhờ công lao dạy dỗ, chỉ bảo

TS
GS

:
:

Tiến sĩ
Giáo sư

PGS
ĐHSP

:
:

Phó giáo sư
Đại học Sư phạm


1
1.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản
Việt Nam là người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền cách mạng Việt Nam từ một
nước thuộc địa nửa phong kiến bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một kho tàng di

lĩnh vực đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức khi được tiếp cận với nền
khoa học hiện đại. Tuy nhiên, cũng chính ở thời điểm này, nhiều vấn đề tiêu cực
và khủng hoảng về xã hội đã nảy sinh trong đời sống, thế hệ trẻ cũng phải đối
mặt với nhiều luồng tư tưởng mới với lối sống thực dụng đòi hỏi thế hệ trẻ phải
xây dựng cho mình một bản lĩnh chính trị vững vàng trong thời kỳ hội nhập,
phải nhìn nhận lại yêu cầu phát triển bền vững với vai trò, vị trí đặc biệt của văn
hóa.
Vì lẽ đó, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vận dụng
vào việc xây dựng lối sống văn hóa cho sinh viên trường đại học sư phạm Đà
Nẵng” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chúng ta đang sống trong thập kỷ thế giới về văn hóa và phát triển do
UNESCO phát động. Vấn đề văn hóa trở thành trung tâm chú ý của giới nghiên
cứu trên thế giới. Ở nước ta mấy năm gần đây, đặc biệt là từ khi bước vào thời
kỳ đổi mới, vấn đề văn hóa cũng được tập trung đề cập, đặc biệt là văn hóa theo
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiêu biểu phải kể đến một số công trình quan trọng sau:
- Đồng chí Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc,
một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật Hà Nội, 1990.
- GS Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1997.
- GS.TS Đỗ Huy, Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia
Hà Nội, 1997.
- GS. Song Thành, Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất, Nxb Chính trị
quốc gia Hà Nội, 1999.
- GS.TS Đỗ Huy, Cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Nxb
Văn hóa thông tin Hà Nội, 2002.
- Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa Thông tin,
2003.
- Nhiều tác giả, Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ,
Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004.


5. Nét mới của đề tài
Hệ thống hóa lại những quan điểm về văn hóa. Đồng thời nêu lên được sự
cần thiết phải xây dựng lối sống văn hóa cho sinh viên. Đặc biệt là làm rõ thực
trạng lối sống văn hóa của sinh viên và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn


4
hóa vào xây dựng lối sống văn hóa cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng.
6. Ý nghĩa của đề tài
Khóa luận góp phần làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa. Đồng thời, khóa luận này có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong học tập và nghiên cứu môn tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, có thể
làm cơ sở cho nhà trường trong công tác xây dựng lối sống văn hóa cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2 chương
với 5 tiết.


5

NỘI DUNG
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
1.1 Một số quan niệm về văn hóa trong lịch sử
1.1.1 Khái niệm

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần

khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại. Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng
tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ
và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”
[13,5].
Trong từ điển triết học đã đưa ra khái niệm: “Văn hóa là toàn bộ những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã
hội, lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội”
[14,656].
Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học: “Văn hóa là toàn thể những cấu
trúc trong xã hội, tôn giáo ... những biểu thị trí tuệ, nghệ thuật ... đặc định một
xã hội”[7,23].
Còn các nhà tâm lý học, xã hội học cho rằng: “Văn hóa như là thái độ
tổng quát của con người đối với vũ trụ tự nhiên và xã hội và như là vai trò của
con người trong vũ trụ ấy” [7,24].
Tóm lại, văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá
nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại.Qua các thế hệ, hoạt động sáng tạo
ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị văn hóa truyền thống, xác định đặc tính
riêng của mỗi dân tộc.
1.1.2 Quan niệm văn hóa trong triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin
Học thuyết Mác - Lênin về văn hoá được dựa trên những nguyên tắc cơ
bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử về các hình thái kinh tế – xã hội như những
giai đoạn phát triển tuần tự của xã hội loài người, về mối quan hệ tương hỗ giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1.1.2.1 Văn hóa the quan niệm của Mác – Ăngghen
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, không thể tách rời văn hóa với
cuộc sống con người, văn hóa bắt nguồn từ tồn tại xã hội, lao động sản xuất và
từ cuộc đấu tranh chống thiên nhiên của con người. Vì vậy, sự phát sinh, phát
triển của văn hóa được quy định bởi phát sinh, phát triển tồn tại xã hội của con



người, văn hóa chính là phương thức hoạt động đặc thù của con người nhằm
biến đổi hiện thực khách quan cũ, tạo ra hiện thực khách quan mới theo các quy


8
luật của cái đẹp. Mác viết: “Cố nhiên con vật cũng sản xuất, nhưng con vật chỉ
sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện;
con vật sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản
xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc và chỉ khi không bị nhu
cầu đó ràng buộc thì con người mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của nó;
con vật chỉ sản xuất bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự
nhiên; sản phẩm của con vật trực tiếp gắn với cơ thể thể xác nó, còn con người
thì đối diện một cách tự do với sản phẩm của mình. Con vật chỉ xây dựng theo
kích thích và nhu cầu của loài của nó, còn con người có thể sản xuất theo kích
thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình
vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo các quy luật của cái đẹp”
[8,137].
Có thể nói trong quan niệm của Mác, văn hóa chính là khái niệm phản
ánh tính đặc thù của hoạt động con người và sự tồn tại của con người nói chung
trong thế giới. Văn hóa là khái niệm phản ánh việc con người tự ý thức về vai
trò độc lập của mình, về khả năng lao động sáng tạo của mình trong thế giới
hiện thực. Bằng hoạt động lao động sản xuất của mình, con người không chỉ cải
tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, mà còn cải tạo chính bản thân mình. Trong qúa trình
đó con người ngày càng nhận thức một cách rõ ràng sức mạnh sản xuất xã hội
của lao động và họ cũng ngày càng ý thức đầy đủ hơn năng lực sáng tạo đích
thực của chính mình. Bằng cách đó với sự tồn tại của chính mình trong thế giới
hiện thực, con người đã xác định được ranh giới phân biệt phương thức hoạt
động sống của mình với phương thức hoạt động sinh tồn của loài vật đó là “văn
hóa”.
Văn hóa thể hiện sức mạnh xã hội của hoạt động lao động sản xuất của

tại của con người, nhờ những hoạt động của con người, trong đó có cả sản xuất
vật chất và tinh thần. Văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt
động sống của con người.
1.1.2.2 Văn hóa theo quan niệm của Lênin
Kế thừa và phát triển những luận điểm của Mác – Ăngghen trong giai
đoạn mới, Lênin coi văn hóa là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, có khả năng
vừa tác động đến lý trí, vừa tác động trực tiếp đến tâm hồn tình cảm của con
người. Văn hóa là nguồn gốc của đời sống xã hội, gắn liền với quá trình lao
động và đấu tranh với con người. Ngay từ buổi đầu bình minh của lịch sử, văn
hóa đã hình thành từ lao động do nhu cầu phát triển của xã hội.


10
Lênin đã khẳng định: “Văn nghệ không có gì khác hơn là tấm gương của
đời sống xã hội và thiên nhiên. Đời sống là nguồn của mọi giá trị văn nghệ”
[5,6]. Song cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, văn hóa không phải là
một tấm gương thụ động mà nó tác động mạnh trở lại đời sống xã hội. Bằng các
hình tượng nghệ thuật phản ánh chân lý cuộc sống, văn hóa tác động nâng cao
nhận thức, tư tưởng, tình cảm con người, hướng họ vào những hoạt động cao
đẹp.
Khi nói về văn hóa, Lênin đã nhấn mạnh đến yếu tố đạo đức, coi đạo đức
cộng sản là yếu tố hợp thành văn hóa tinh thần của giai cấp vô sản. Lênin cho
rằng: Văn hóa và đạo đức không phải là cái gì đó nảy sinh từ hư vô, chúng có
nguồn gốc khách quan và chủ quan xác định. Lênin nói: “Đạo đức của chúng ta
là từ những lợi ích cuộc đấu tranh giai cấp vô sản mà ra” [9,12]. Điều đó có
nghĩa là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đã sản sinh ra một nội dung
khách quan của đạo đức cộng sản được biểu hiện dưới hình thức chủ quan là ý
thức và hành vi đạo đức của những người tham gia vào hoạt động thực tiễn cách
mạng, được tạo nên bằng giáo dục và rèn luyện thường xuyên. Đạo đức cộng
sản sinh thành, vận hành, phát triển và hoàn thiện của cuộc cách mạng của giai

trị do con người làm ra. Đó không chỉ là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần,
mà còn là các giá trị phát triển chính bản thân con người.
1.1.3 Quan niệm văn hóa trong tư tưởng văn hóa dân tộc Việt Nam
Ở Việt Nam, từ “văn hóa” xuất hiện muộn, vào chừng đầu thế kỷ XX;
trước đó, từ “văn hiến” tương ứng với văn hóa, thấy dùng trong bài “Bình Ngô
đại cáo” do Nguyễn Trãi viết năm 1428. “Văn hiến” (văn là tốt đẹp, hiến là phép
nước) hoặc “văn hóa” (văn là tốt đẹp, hóa là biến cải) dù không ứng nhau hoàn
toàn, song đều chứa đựng sự đối lập, sự khắc phục cái nguyên thô của tự nhiên.
Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa
của người Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh
của người Việt.
Quan niệm thứ hai: Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt
Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có
văn hóa dân tộc.
Quan niệm thứ ba: Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc, đây
là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người.
Quan niệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà


12
nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam, vì vậy nội dung
về văn hóa Việt Nam sẽ được trình bày theo quan niệm thứ ba, văn hóa Việt
Nam theo hướng văn hóa dân tộc.
Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng có những quan niệm khác nhau về
văn hóa. Đào Duy Anh là người đầu tiên đưa ra ý niệm về văn hóa: “Người ta
thường cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân
thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải là
như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa, nhưng
phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục

quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù
xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu giai cấp – xã hội, nhưng
truyền thống này vẫn bền vững. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh
của truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái thể hiện tập trung
trong bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh).
Thứ ba, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu
đời. Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình,
tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa. Hồ Chí Minh là hiện thân của
truyền thống lạc quan đó.
Thứ tư, dân tộc Việt Nam là dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng
tạo, ham học hỏi và mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Người Việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thói bài ngoại cực đoan.
Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu,
cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của
mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó.
Hồ Chí Minh đã sớm khai thác và tiếp thu những giá trị truyền thống của
dân tộc một cách chọn lọc. Người kế thừa một cách tinh túy, sáng tạo chứ không
phải là sự sao chép, rập khuôn một cách máy móc.
Tóm lại, Hồ Chí Minh kế thừa từ truyền thống văn hóa dân tộc tinh thần
khoan dung, lối sống giản dị, … Sự kế thừa và phát huy của Hồ Chí Minh càng
làm cho nền văn hóa Việt Nam ngày thêm phong phú đa dạng và trở thành bộ
phận không thể thiếu của văn hóa nhân loại.
1.2.1.2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được
hấp thụ một nền Quốc học và Hán học khá vững vàng. Khi ra nước ngoài,
Người có thể viết văn Anh, văn Pháp sắc sảo như một nhà báo phương Tây thực
thụ, nhưng khi có nhu cầu “tự bạch” thì Người làm thơ bằng chữ Hán. Chính


14

Chí Minh vẫn tìm hiểu thêm về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Hồ Chí
Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương
Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Người.


15
b)Tư tưởng và văn hóa phương Tây:
Ngay từ khi còn học ở Trường tiểu học Đông Ba rồi vào Trường Quốc
học Huế, Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hóa Pháp. Đặc biệt, Người rất ham
mê môn lịch sử, và say sưa tìm hiểu cuộc Đại cách mạng Pháp 1789.
Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở New York, làm thuê
ở Béclin và thường đến thăm khu Haclem của người da đen. Người thường suy
nghĩ về tự do, độc lập, quyền sống của con người... được ghi trong Tuyên ngôn
độc lập 1776 của nước Mỹ.
Đến Pháp, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà
tư tưởng khai sáng như: Tinh thần pháp luật của Môngtétxkiơ, Khế ước xã hội
của Rútxô... Tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng lớn tới tư
tưởng của Người.
Hồ Chí Minh hình thành phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống
thực tiễn. Người học được cách làm việc dân chủ trong cách sinh hoạt khoa học
ở Câu lạc bộ Phôbua, trong sinh hoạt chính trị của Đảng xã hội Pháp.
Tóm lại, nhờ sự thông minh, óc quan sát, ham học hỏi và được rèn luyện
trong phong trào công nhân Pháp, trên hành trình cứu nước Hồ Chí Minh đã biết
làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, của văn hóa Đông, Tây,
từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới,
vận dụng và phát triển. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách
mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để
lại” [20,46]. “Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại như việc Mác
đã tiếp thu hạt nhân biện chứng trong triết học Hêghen [25,212].
1.2.1.3 Tiếp thu tư tưởng văn hóa của chủ nghĩa Mác – Lênin

không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển.
1.2.1.4 Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh
Trước hết, đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, cộng với đầu óc phê
phán tinh tường, sáng suốt trong nghiên cứu, tìm hiểu. Đó là sự khổ công học
tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu
tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế.
Đó là ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách
mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ
sẵn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do,
hạnh phúc của đồng bào.
Chính những phẩm chất cá nhân cao đẹp đó đã quyết định việc Hồ Chí
Minh tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hóa phát triển những tinh hoa của dân tộc và
thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình.


17
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tổng hòa của những điều kiện
khách quan và chủ quan, của truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa
nhân loại, thực tiễn dân tộc và thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tư
tưởng Việt Nam hiện đại.
1.2.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người con của dân tộc Việt Nam, những cống
hiến lớn lao của Người về văn hóa đã được cả thế giới biết đến và để lại những
dấu ấn không thể phai mờ trong quá trình phát triển của nhân loại cũng như của
dân tộc. Hồ Chí Minh, “Người đã đem lại ánh sáng, ánh sáng văn hóa, ánh sáng
cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều
nước khác, để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói
nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức” [27,43].
1.2.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của văn hóa
Mang trong mình truyền thống văn hoá phương Đông lại được tiếp thu

cho ta” [28,6].
Như vậy, văn hóa cách mạng ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội,
có quan hệ quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.
1.2.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính chất của văn hóa mới
Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc xây dựng nền văn hóa mới, coi đó là
một trong những nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Ngay sau khi nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào việc xây dựng
một nền văn hoá mới. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời do Người
chủ trì (3–9–1945), đã nêu rõ 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây
dựng nền văn hoá mới. Nhiều vấn đề về văn hoá đã được đặt ra và giải quyết
trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, như giải quyết nạn dốt, giáo
dục nhân dân tinh thần cần, kiệm, liêm, chính; cấm hút thuốc phiện, lương giáo
đoàn kết và tự do tín ngưỡng… Như vậy nền văn hoá mới ra đời đã gắn liền với
nước Việt Nam mới. Nền văn hóa Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống
thực dân Pháp là nền văn hóa kháng chiến, kiến quốc, nền văn hoá dân chủ mới.
Khi miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền văn hóa được
xây dựng là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song nền văn hoá mới mà
chúng ta xây dựng theo Hồ Chí Minh luôn bao hàm ba tính chất: dân tộc, khoa
học và đại chúng.


19
Tính chất dân tộc của nền văn hóa: là cái “cốt”, cái tinh tuý bên trong rất
đặc trưng của nền văn hoá dân tộc. Nó là “căn cước” của một dân tộc, để phân
biệt không nhầm lẫn với văn hoá của dân tộc khác. Người cho rằng, để được như
vậy, phải “trau dồi cho văn hóa, văn nghệ có tinh thần thuần túy Việt Nam”,
phải “lột tả cho hết tinh thần dân tộc”. Đó là chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc
lập, tự lực tự cường, đoàn kết; nhân nghĩa… của dân tộc. Người cho rằng, “nếu
dân tộc hóa mà phát triển đến cực điểm thì tức là đến chỗ thế giới hóa nó, vì lúc

hèn có thể có trong tư tưởng, tình cảm của mỗi người. Tư tưởng và tình cảm rất
phong phú, văn hóa phải đặc biệt quan tâm tới bồi dưỡng tư tưởng và tình cảm
lớn chi phối đời sống tinh thần của mỗi con người và cả dân tộc cụ thể:
Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cao cả độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Lý tưởng là điểm hội tụ của những tư tưởng lớn của một Đảng,
một dân tộc. “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân,
của dân tộc làm cơ sở; phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài
tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham
nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc
lập” [31,342]. Một khi lý tưởng này phai nhạt thì không thể nói đến thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ ra chức năng hàng
đầu của văn hoá là phải làm thế nào cho ai cũng có tinh thần vì nước quên mình,
vì lợi chung mà quên lợi ích riêng.
Bồi dưỡng tình cảm lớn là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con
người, yêu tính trung thực, chân thành thuỷ chung, ghét những thói hư tật xấu,
… Tình cảm đó thể hiện trong nhiều mối quan hệ với gia đình, với quê hương,
với bạn bè, anh em, đồng chí… thông qua các mối quan hệ tốt đẹp. Tư tưởng và
tình cảm có mối quan hệ gắn bó với nhau, làm cho con người ngày càng hoàn
thiện. Văn hoá phải góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin vào bản thân,
tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân và tin vào tiền đồ của cách mạng.
Hai là, mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí:
Nói đến văn hoá phải nói đến dân trí. Đó là trình độ hiểu biết, là vốn kiến
thức của người dân. Nâng cao dân trí phải dần dần từng bước một, từ thấp đến
cao, phải bắt đầu từ chỗ biết đọc, biết viết, đến hiểu biết các lĩnh vực khác của
đời sống xã hội như: kinh tế. chính trị, lịch sử,… từng bước nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học – kĩ thuật, thực tiễn Việt Nam và thế
giới… Vấn đề nâng cao dân trí thực sự chỉ có thể thực hiện sau khi chính trị đã
được giải phóng, toàn bộ chính quyền đã về tay nhân dân.



phù hoa, xa xỉ, văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi” [29,64].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status