Luận văn Thạc sỹ Kinh tế Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa - Mai Văn Ngha - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
---------------  --------------MAI VĂN NGHĨA

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2010

Footer Page 1 of 16.


Header Page 2 of 16.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
---------------  --------------MAI VĂN NGHĨA

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA

Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 60.31.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

CN

Khu vực công nghiệp và xây dựng

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

DV

Khu vực dịch vụ và thương mại

GDP

Tổng sản phẩm trong nước

GDTX-HN

Giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp

GNP

Tổng sản phẩm quốc dân

HDI

Chỉ số phát triển con người


Ủy ban nhân dân

UNDP

Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc

WB

Ngân hàng Thế giới

Footer Page 4 of 16.


Header Page 5 of 16.

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Bảng 2.2.4: Năng suất lao động xã hội của Thị xã qua các năm ............................ 45
Bảng 2.4.2.1: Xếp hạng kết quả tốt nghiệp THPT các trường ở Thị xã .................. 58
Biểu đồ 1: Đường cong Lorenz ............................................................................. 15
Biểu đồ 2: Mô hình chữ U ngược .......................................................................... 22
Biểu đồ 3: Tăng trưởng GDP của thị xã Bà Rịa 1996-2009 ................................... 38
Biểu đồ 4: Tăng trưởng GDP/người của thị xã Bà Rịa 1995-2009 ......................... 39
Biểu đồ 5: Cơ cấu (%) ngành kinh tế theo giá thực tế của Thị xã .......................... 40
Biểu đồ 6: Cơ cấu lao động (%) theo ngành kinh tế của Thị xã qua các năm ......... 41
Biểu đồ 7: Phát triển dân số thành thị của thị xã Bà Rịa qua các năm .................... 42
Biểu đồ 8: Tỷ trọng (%) chi đầu tư phát triển trong cơ cấu chi NSNN của thị xã Bà
Rịa giai đoạn 1995-2009 ........................................................................................ 44
Biểu đồ 9: Tỷ trọng (%) chi cho giáo dục trong cơ cấu chi NSNN của Thị xã ....... 48
Biểu đồ 10: Tỷ trọng giá trị sản xuất và tỷ trọng giá trị tăng thêm (theo giá thực tế)

1.5.1. Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện công bằng xã hội.................31
1.5.2. Tăng trưởng kinh tế đến đâu phải thực hiện ngay công bằng xã hội đến
đấy ................................................................................................................32
1.5.3. Thực hiện công bằng xã hội phải dựa trên những thành quả của tăng
trưởng kinh tế................................................................................................32

Footer Page 6 of 16.


Header Page 7 of 16.

1.5.4. Công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng nhằm
đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ...................................... 33
Tóm tắt chương 1 ............................................................................................ 34
Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ SỰ KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI THỊ XÃ BÀ RỊA (1995 – 2009) .......................... 35
2.1. KHÁI LƯỢC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI THỊ XÃ BÀ RỊA .......... 35
2.1.1. Về lĩnh vực kinh tế .............................................................................. 35
2.1.2. Về xã hội ............................................................................................. 36
2.1.3. Các chỉ số kinh tế - xã hội cơ bản của thị xã Bà Rịa............................. 37
2.2. Tăng trưởng kinh tế của thị xã Bà Rịa giai đoạn 1995-2009 ................. 38
2.2.1. Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người ....................... 38
2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.................................................................. 39
2.2.3. Vốn đầu tư phát triển ........................................................................... 43
2.2.4. Tăng trưởng năng suất lao động xã hội ................................................ 45
2.3. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội ở thị xã Bà Rịa
(1995-2009)....................................................................................................... 47
2.3.1. Về lao động và việc làm ...................................................................... 47
2.3.2. Về giáo dục và đào tạo ........................................................................ 48
2.3.3. Về y tế ................................................................................................. 50

Tóm tắt chương 3 ............................................................................................ 85
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Footer Page 8 of 16.


Header Page 9 of 16.

1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công cuộc đổi mới ở nước ta trong hơn hai thập kỷ qua đã đem lại
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, trong đó tốc độ tăng trưởng kinh
tế thuộc loại khá cao so với mức tăng trưởng của các nước trong khu vực và
trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn thì đồng thời những đòi hỏi
về công bằng xã hội cũng lớn hơn. Đây chính là vấn đề phức tạp đang đặt ra
cho đất nước ta đúng như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã
chỉ rõ: “Lý luận chưa giải quyết được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối
quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội” [12; tr. 69].
Thật vậy, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội không phải là một vấn đề đơn giản. Trong thực tiễn đã có nhiều bằng
chứng cho thấy sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
Tăng trưởng thường làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng và không công
bằng vì những người giàu sẽ được hưởng nhiều lợi ích hơn do tăng trưởng
đem lại. Nếu lấy kết quả tăng trưởng để giải quyết vấn đề công bằng xã hội do

ta nói chung và ở mỗi địa phương nói riêng. Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề
tài “Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa”.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã có nhiều công trình
nghiên cứu, nhiều lý thuyết và mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội, nhiều bài báo, hội thảo khoa học .v.v… đề cập đến
vấn đề này ở các khía cạnh cũng như cách tiếp cận khác nhau. Một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay như: “Đặc trưng của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS. Vũ Đình
Bách-GS.TS. Trần Minh Đạo (đồng chủ biên); “Phân phối trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của GS. TS. Nguyễn Công Nghiệp
(Chủ biên); sách chuyên khảo “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của

Footer Page 10 of 16.


Header Page 11 of 16.

3

PGS.TS. Trần Thọ Đạt; “Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại
Thành Phố Hồ Chí Minh” của Phạm Mỹ Duyên (Luận văn Thạc sĩ kinh tế năm 2006, Khoa kinh tế – ĐHQG. TP.HCM). Đặc biệt là các ấn phẩm, báo
cáo khoa học, các bài viết của Ngân hàng thế giới (WB) , của Chương trình
phát triển của Liên Hiệp quốc (UNDP), của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
trung ương (CIEM) và của Viện kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh phân tích
sâu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta
hiện nay có giá trị khoa học và thực tiễn.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
hoàn chỉnh và toàn diện về vấn đề kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công
bằng xã hội ở cấp quận, huyện, thị xã nói chung và ở thị xã Bà Rịa nói riêng

và thực tiễn, chủ yếu là sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội tại thị xã Bà Rịa giai đoạn 1995 – 2009.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ vận dụng cách tiếp cận theo phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, vận dụng những quan điểm của Đảng ta về nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về phân phối và tái phân phối, về
tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp tiếp cận khác như :
mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng, thống kê … để làm rõ thực
trạng các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại thị xã
Bà Rịa.
5.2. Nguồn tài liệu
Ngoài những sách chuyên khảo, các giáo trình kinh tế, các nghị quyết
của Đảng, tạp chí, báo cáo khoa học – hội thảo, các bài viết trên các phương
tiện thông tin xoay quanh đề tài tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tác
giả sử dụng các báo cáo của Đảng bộ, HĐND và UBND thị xã Bà Rịa trong

Footer Page 12 of 16.


Header Page 13 of 16.

5

các nhiệm kỳ và hàng năm; các số liệu từ Niên giám thống kê tình hình kinh
tế – xã hội tại thị xã Bà Rịa trong giai đoạn 1995 – 2009 của Phòng thống kê,
Phòng Giáo dục, Trung tâm y tế, Ban chỉ đạo giảm nghèo Thị xã và của các
phòng, ban có liên quan (như Tài chính – kế hoạch, Ban Bảo vệ chăm sóc sức
khỏe bà mẹ trẻ em của Thị xã .v.v…).

CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1.1. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế, Phát triển kinh tế và Phát triển bền vững
1.1.1.1. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự
thịnh suy của một quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang suy
giảm mạnh như hiện nay thì tăng trưởng kinh tế dường như đã và đang trở
thành một lối sống. Chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình
cho tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn
đề khác, đặc biệt là các vấn đề xã hội như: tạo công ăn việc làm, nâng cao
mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, xóa đói - giảm nghèo,
thực hiện công bằng xã hội… Tăng trưởng kinh tế thực sự là cần thiết.
Khái niệm Tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều
cách khác nhau, song hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung
nhất về tăng trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu
nhập thực tế hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”.
Như vậy, Tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ diễn tả động thái biến
đổi về số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo
thời gian, nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với xã hội.
1.1.1.2. Phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là cần thiết nhưng chưa đủ để làm cho phúc lợi
được phân phối rộng rãi. Sự phát triển của một quốc gia không chỉ là sự gia

Footer Page 14 of 16.


Header Page 15 of 16.

7

Header Page 16 of 16.

8

Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề toàn cầu cực kỳ phức tạp, nan
giải và ngày càng trầm trọng đòi hỏi cả cộng đồng nhân loại phải chung sức
giải quyết như: vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu
nghèo, bất bình đẳng xã hội, tắc nghẽn giao thông, thiên tai, dịch bệnh, chiến
tranh, khủng bố…. Tác giả Joseph E. Stiglitz - nhà kinh tế học nhận giải
Nobel năm 2001 - cũng đã bày tỏ lo ngại rằng: “kể cả những nước có được
một chút tăng trưởng cũng thấy rõ là lợi ích chủ yếu tích tụ trong tay những
người giàu và đặc biệt là tầng lớp cực giàu, khoảng 10% giàu nhất, trong khi
nghèo đói vẫn hoành hành và thậm chí trong một số trường hợp, thu nhập của
những người dưới đáy còn tụt giảm”[16; tr. 25].
Vì vậy, một khái niệm mới về phát triển đã ra đời, mang nội hàm phản
ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh
tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững. Năm 1987, Ủy
ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED: World Commission on
Environment and Development) đã công bố báo cáo “Tương lai chung của
chúng ta”, trong đó phát triển bền vững được định nghĩa “là sự phát triển
thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thỏa
mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [44].
Cụ thể hơn, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm có:
(1) phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế) , (2) phát triển xã hội
(mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải
quyết việc làm) và (3) bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô
nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và
chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).


Vì vậy, xu hướng gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập là một thách
thức lớn của các quốc gia hiện nay, mà nguyên nhân chủ yếu của xu hướng
này chính là vấn đề công bằng xã hội.

Footer Page 17 of 16.


Header Page 18 of 16.

10

1.1.2.2. Công bằng xã hội
Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệm hoàn toàn khác
nhau. Trong công bằng xã hội có thể có bình đẳng (là sự ngang bằng, bằng
nhau), và có thể có bất bình đẳng. Chẳng hạn, trước pháp luật, mọi công dân
đều bình đẳng, không phân biệt đối xử (về chủng tộc, giới tính, văn hóa, tôn
giáo hay tín ngưỡng..); sự bình đẳng trong trường hợp này là một yêu cầu của
công bằng xã hội. Ngược lại, trên phương diện kinh tế, sự thụ hưởng của mỗi
cá nhân không thể bằng nhau (dựa trên nguyên tắc làm nhiều-hưởng nhiều;
làm ít-hưởng ít; không làm-không hưởng; hoặc gây thiệt hại-phải bồi thường);
sự chênh lệch hay bất bình đẳng trong trường hợp này được pháp luật thừa
nhận, xã hội đồng thuận và cũng là một yêu cầu của công bằng xã hội.
Công bằng xã hội được xem xét trên nhiều phương diện: kinh tế, chính
trị, xã hội, văn hóa, đạo đức…Công bằng xã hội không phải là vấn đề cá
nhân, mà là mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội (giữa cá nhân với cá nhân,
cá nhân với tập thể, với cộng đồng xã hội, giữa công dân với nhà nước, giữa
các nhóm xã hội…). Khái niệm về công bằng xã hội, vì vậy, có nhiều ý kiến
khác nhau tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi xã hội nên mang tính chủ quan,
tương đối và đa diện. Có thể nêu ra một vài quan niệm khác nhau về công
bằng xã hội sau đây:

Khái quát lại, theo quan điểm của tác giả, công bằng xã hội được hiểu
là sự bình đẳng trong việc tiếp cận và lựa chọn những cơ hội cho mọi người
trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; là đối xử bình
đẳng với những người có nhu cầu, khả năng và đóng góp như nhau; là thu
hẹp một cách hợp lý sự cách biệt, chênh lệch về mức sống giữa các thành viên
trong xã hội với hoàn cảnh lịch sử, điều kiện và khả năng cho phép.
Suy đến cùng thì mục tiêu của mọi chính sách phát triển bền vững là
nhằm kiến tạo một xã hội thịnh vượng và công bằng. Công bằng xã hội là một
trong những động lực phát triển kinh tế - xã hội vì nó là yếu tố tác động trực
tiếp đến lợi ích của chủ thể hoạt động, nó kích thích tính năng động, sáng tạo
và nhiệt tình của mọi thành viên trong xã hội. Công bằng xã hội còn là một

Footer Page 19 of 16.


Header Page 20 of 16.

12

giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết các mối quan hệ giữa người và
người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tóm lại, công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện quan trọng
nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
1.2. Các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.2.1. Các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế
1.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng GDP : cho thấy xu hướng của quy mô sản
lượng tăng lên hay giảm đi và nếu tăng thì tăng nhanh hay chậm qua các thời
kỳ khác nhau. Để tính tốc độ tăng trưởng GDP, ta có :
gy 


phẩm trong nước với tổng dân số trung bình trong năm. Tổng sản phẩm trong
nước bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo
nội tệ hoặc theo ngoại tệ. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của
chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử
dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia hoặc giữa các
tỉnh, thành phố trong cả nước với nhau. Ngân hàng Thế giới–WB (năm 2006)
đã phân chia các nhóm quốc gia theo thu nhập bình quân đầu người, cụ thể là:
- Nhóm nước thu nhập cao ≥ 11.116 USD/người/năm.
- Nhóm nước thu nhập trung bình từ 906 đến 11.115 USD/người/năm.
- Nhóm nước thu nhập thấp ≤ 905 USD/người/năm [41; tr. 24]
Theo số liệu xếp hạng 170 quốc gia trên thế giới của WB (năm 2007),
GDP bình quân đầu người của Việt Nam là 836 USD, xếp hạng 134; cao nhất
là Luxembourg với 99.879 USD/ người và thấp nhất là Burundi với 115 USD/
người [45]. Năm 2008 và 2009, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là
1.047 USD và 1.055 USD, vượt qua ngưỡng nhóm nước có thu nhập thấp.
Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người chỉ cho chúng ta biết những gì
xảy ra đối với một người trung bình, còn đằng sau thu nhập bình quân đó có
rất nhiều sự khác biệt giữa các cá nhân với nhau. Thu nhập không phải là tất
cả cuộc sống con người. Mục đích của sự phát triển bền vững là mở rộng mọi
sự lựa chọn của con người chứ không phải chỉ là gia tăng thu nhập.
1.2.2. Các tiêu chí đo lường công bằng xã hội
1.2.2.1. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập: được thể hiện qua đường
cong Lorenz và hệ số Gini.

Footer Page 21 of 16.


Header Page 22 of 16.

14

Diện tích phần nằm giữa đường cong Lorenz với đường chéo 45 (A)
G=
Tổng diện tích nằm dưới đường chéo 45 (A+B)

Footer Page 22 of 16.


Header Page 23 of 16.

15

Khi đường cong Lorenz trùng với đường chéo 45 (đường bình đẳng
tuyệt đối) thì hệ số Gini bằng 0 (vì A=0), xã hội có sự phân phối bình đẳng
thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập). Nếu đường
cong Lorenz trùng với trục hoành, hệ số Gini bằng 1 (vì B=0), xã hội có sự
phân phối bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập,
trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập). Như vậy 0  G  1.

Biểu đồ 1: Đường cong Lorenz

A
B

Theo kết quả nghiên cứu của WB, giá trị của hệ số Gini biến động từ
0,20 đến 0,60. Đối với những nước có thu nhập thấp, hệ số Gini biến động từ
0,30 đến 0,50 và những nước có thu nhập cao hệ số Gini biến động từ 0,20
đến 0,40. Trong thực tế cuộc sống, không có nước nào đạt được hệ số Gini
bằng 0 hoặc 1. Theo báo cáo của UNDP (2007/08), hệ số Gini của Việt Nam
(năm khảo sát: 2004) là 0,344; của Mê-hi-cô (2004) là 0,424; Hoa Kỳ (2000)
là 0,408; Liên bang Nga (2002) là 0,399; hệ số Gini cao nhất là Nhật Bản

số hộ có thu nhập thấp nhất thì hệ số chênh lệch năm 2006 là 8,4 lần (hệ số
này năm 1999 là 7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần, năm 2004 là 8,3 lần). Như vậy,
chênh lệch giàu - nghèo ở nước ta có xu hướng ngày càng giãn ra.
1.2.2.3. Chỉ số nghèo khổ : là tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức
tối thiểu với tổng số dân.

Footer Page 24 of 16.


Header Page 25 of 16.

17

Tình trạng nghèo khổ không chỉ tồn tại ở các nước đang phát triển, mà
còn tương đối phổ biến ở các nước phát triển. Vì vậy, sự nghèo khổ không chỉ
là hậu quả của mức thu nhập thấp mà còn là hệ quả của cả sự phân phối thu
nhập không công bằng trong xã hội.
Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo, hiện
nay còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về đói nghèo. WB đưa ra chuẩn nghèo
tuyệt đối là dưới 1USD/người/ngày (theo sức mua tương đương - PPP) đối
với các nước có thu nhập trung bình lớp dưới; đối với các nước có thu nhập
cao thì chuẩn nghèo tuyệt đối được xác định là trên 14,40 USD /người/ ngày
(UNDP - 1997). Theo số liệu của WB thì trong năm 2001 trên toàn thế giới
có 1,1 tỉ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) thu nhập dưới
1USD/người/ngày (PPP) và đó là những người nghèo khổ nhất thế giới.
Ở Việt Nam, theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2006 - 2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình
quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là
hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status