Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................................................................................1
GVHD: Trần Hồng Ca
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật Tố tụng hình sự là luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự; Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động tố tụng
hình sự cụ thể. Pháp luật tố tụng hình sự vừa là công cụ đấu tranh, phòng ngừa tội
phạm vừa là cơ sở bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Quyền con người, quyền công nhân ngày càng được Việt Nam quan tâm và
điều chỉnh cho phù hợp với thực tế qua những Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1998, Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003 và gần đây nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
(chuẩn bị có hiệu lực) với “quyền im lặng” là một bước đột phá về quyền con người.
Trong quá trình điều tra các vụ án hình sự thì tài liệu, chứng cứ,… là những
bằng chứng khá quan trọng trong công tác thu thập để từ đó xác định, chứng minh tội
phạm và người phạm tội. Thực tế cho thấy, một phần đáng kể những bằng chứng này
được thu thập thông qua hoạt động khám xét.
Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát cưỡng
chế người, chỗ ở, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu
giữ công cụ, phương tiện phạm tội; đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu
khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác chết hay người đang bị truy nã, người
pháp khám xét trong tố tụng hình sự; Vấn đề thực tiễn được áp dụng trong những gần
đây.
5. Bố cục đề tài
Luận văn được bố cục gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về biện pháp khám xét trong Bộ luật tố tụng
hình sự
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp khám xét
Chương 3: Thực trạng, bất cập và giải pháp về biện pháp khám xét trong tố
tụng hình sự.
GVHD: Trần Hồng Ca
2
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT
TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của biện pháp khám xét
1.1.1. Khái niệm về biện pháp khám xét
Khám xét là một trong những biện pháp điều tra được quy định trong Pháp luật
của nhiều nước trên thế giới nói chung và trong lịch sử Tố tụng hình sự Việt Nam nói
riêng.
Ở góc độ khoa học luật Tố tụng hình sự, biện pháp điều tra khám xét cũng là đề
tài nghiên cứu của nhiều học giả. Xung quanh khái niệm khám xét tồn tại nhiều quan
niệm, cách thức định nghĩa khác nhau:
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2003, “khám” dưới góc độ pháp lý được hiểu là:
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
Theo người viết, dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, khám xét cần được
hiểu đầy đủ là: “Một biện pháp điều tra được quy định trong luật tố tụng hình sự, do
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát, cưỡng chế người,
chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm để tìm kiếm, thu
thập dấu vết của tội phạm, tài liệu, vật chứng hoặc những đồ vật khác có liên quan
đến vụ án theo các căn cứ, trình tự, thủ tục luật định”.
Như vậy, theo khái niệm trên, biện pháp khám xét phải bao hàm những yếu tố
sau:
- Được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền khi có đủ căn cứ và theo một
trình tự, thủ tục luật định.
- Khám xét chủ yếu bao gồm các hoạt động: tìm tòi, lục soát, cưỡng chế.
- Các biện pháp khám xét cụ thể bao gồm: khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa
điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm.
- Mục đích chung của biện pháp khám xét là phát hiện, thu thập những chứng
cứ, tài liệu hoặc đồ vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự.
1.1.2. Đặc điểm về biện pháp khám xét
Biện pháp khám xét có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Khám xét là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự với mục đích là phát hiện,
thu thập vật chứng có liên quan trong vụ án hình sự, từ đó làm sáng tỏ sự thật khách
quan của vụ án.
Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự thì cơ quan điều tra có nhiều biện
pháp điều tra khác nhau và mỗi biện pháp mang lại những mục đích, hiệu quả riêng.
Đối với biện pháp khám xét khi thực hiện thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ phát hiện,
thu thập được những chứng cứ, tài liệu có liên quan đến vụ án (nếu có). Đó có thể là
vũ khí, công cụ, phương tiện phạm tội, những tài sản bị tội phạm chiếm đoạt, những
vật mang dấu vết tội phạm, những mẫu vật để nghiên cứu, so sánh hoặc những giấy tờ,
tượng bị áp dụng phải tuân thủ.
Có thể thấy khám xét là biện pháp điều tra có tác động mạnh đến những quyền
cơ bản của công dân đã được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Đó là các quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật
thư tín, điện thoại, điện tín được ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng Hình sự: “Không ai được
xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an
toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư
khác của cá nhân4”; Quyền bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của công dân ghi nhận: “Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản
của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật5”…
Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn âm mưu, hành động phạm tội của tội phạm và
thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án hình sự, luật tố tụng hình sự vẫn ghi nhận quyền
tiến hành khám xét của các cơ quan có thẩm quyền nếu những cơ quan này có đủ căn
cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của của một người có công
cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có
3
Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, năm 2003, dòng 42, tr. 78
Điều 12 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
5
Điều 11 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
4
GVHD: Trần Hồng Ca
5
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
tục, thẩm quyền khám xét và không được xâm phạm các quyền cơ bản của công dân.
Cụ thể:
- Chỉ được khám xét khi có các căn cứ nhận định những nơi định khám xét
đang cất giấu các vật chứng, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án hoặc ở đó có đối
tượng đang bị truy nã lẩn trốn, người bị bắt cóc, xác chết hoặc các phần của nó ... Nếu
chưa có đủ căn cứ ra lệnh khám xét thì các cơ quan có thẩm quyền cần phải thu thập
GVHD: Trần Hồng Ca
6
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
những tài liệu bổ sung, nếu việc thu thập tài liệu bổ sung vẫn chưa đủ căn cứ khám xét
thì không được ra lệnh khám xét.
- Phải tuân thủ những quy định của Luật tố tụng hình sự về thẩm quyền ra lệnh
khám xét: Việc khám xét chỉ được tiến hành khi có lệnh của những người có thẩm
quyền. Trừ trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại
nơi khám xét giấu trong người những đồ vật, tài liệu cần thu giữ thì việc khám người
có thể được tiến hành mà không cần có lệnh.
- Khi tiến hành khám xét, các cơ quan có thẩm quyền phải tuân những quy định
về trình tự, thủ tục khám xét đối với các đối tượng khám xét cụ thể.
- Trong quá trình khám xét, những người thi hành lệnh khám xét không được có
những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
công dân. Để đảm bảo thực hiện nội dung này, lực lượng khám xét phải tiến hành
khám xét nghiêm túc, đúng pháp luật. Trước khi tiến hành khám xét, các cơ quan thi
hành lệnh phải lên kế hoạch chuẩn bị khám xét một cách kỹ lưỡng, chu toàn bao gồm:
nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập, phân tích, đánh giá những tài liệu liên quan đến cuộc
Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh
giá và sử dụng chứng cứ. Trong đó, thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự.
Nếu không có thu thập chứng cứ, thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử
dụng chứng cứ. Điều đó lý giải tại sao vấn đề chứng cứ nói chung và vấn đề thu thập
chứng cứ nói riêng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập
pháp mỗi nước quốc gia khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự.
Phát hiện, thu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
nhằm tìm ra và thu giữ những sự kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo
đúng trình tự, thủ tục luật định, để từ đó khai thác những sự kiện chứng minh. Phát
hiện, thu thập chứng cứ vừa là hoạt động mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý
nên quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ vừa phải quán triệt những nguyên tắc, quy
luật của nhận thức, vừa phải bảo đảm tính pháp lý, hay nói cách khác là phải khách
quan và phải tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Phát hiện, thu thập những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa trong công tác điều tra
là mục đích quan trọng nhất và phổ biến nhất đối với công tác khám xét. Ngoài ra,
công tác khám xét còn có mục đích để phát hiện, thu giữ những đồ vật, tài sản phục vụ
cho việc bồi thường thiệt hại hoặc những đồ vật, tài liệu thuộc loại cấm tàng trữ, lưu
hành.
Mặc khác, công tác khám xét còn được sử dụng nhằm mục đích tìm kiếm, rà
soát những tội phạm đã có lệnh truy nã hoặc tìm kiếm xác chết, thi thể mất tích hoặc
những người đã bị bắt cóc,…
1.2.2. Ý nghĩa của khám xét
Khám xét đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố
tụng Hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi
phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong
việc giải quyết vụ án6.
Theo khái niệm này, chứng cứ chỉ được coi là hợp pháp và có giá trị chứng
minh khi thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính khách quan, tính liên quan và tính được thu
quyền đã được đảm bảo về cơ sở pháp lý, từ đó tính hợp pháp của những chứng cứ thu
thập được từ hoạt động khám xét cũng được khẳng định.
Khám xét bảo đảm quyền con người
Quyền con người được hiểu là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người
mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội nhất định.
Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội, vừa mang tính phổ
biến, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính nhân loại và thống
nhất với quyền dân tộc cơ bản.
Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt, nó có mối quan
hệ chặt chẽ với quyền công dân và được hiện hữu trong tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự.
Trong tố tụng hình sự, khám xét là một biện pháp điều tra được tiến hành bởi
một bên là những chủ thể đại diện cho Nhà nước, được nhà nước trao quyền, còn một
bên là tội phạm hoặc người bị cho là thực hiện hành vi phạm tội. Sự khác nhau về địa
7
Điều 20 Hiếp pháp năm 2013
Điều 21 Hiếp pháp năm 2013
9
Điều 22 Hiếp pháp năm 2013
8
GVHD: Trần Hồng Ca
9
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
người, chỗ ở, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản
do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc khi cần phát
10
Điều 2 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
GVHD: Trần Hồng Ca
10
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
hiện người đang bị truy nã hoặc khi cần phải thu thập những tài liệu, đồ vật liên quan
đến vụ án thì có thể khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm11.
- Thẩm quyền ra lệnh khám xét: trong những trường hợp thông thường, Viện
trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán Toà
án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên, chủ toạ phiên toà;
Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan
điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên (có lệnh khám xét do Viện kiểm sát cũng cấp
phê chuẩn) là những người có thẩm quyền ban hành lệnh khám xét. Tuy nhiên, trong
trường hợp không thể trì hoãn, người chỉ huy của đơn vị quân đội độc lập cấp trung
đoàn; Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo hoặc biên giới; Người chỉ huy máy bay,
tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng cũng có quyền ra lệnh
khám xét. Trong những trường hợp này, sau khi khám xong, người ra lệnh khám phải
báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ 12.
- Trình tự, thủ tục tiến hành khám xét: Khi khám xét, người tiến hành khám xét
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
khám chỗ làm việc của một người: thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể
trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.Việc khám chỗ làm việc phải có đại
diện của cơ quan hoặc tổ chức chứng kiến. Khi tiến hành khám chỗ ở, địa điểm, những
người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi
với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong; Khi cần thiết phải thu
giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện thì Cơ quan điều tra ra lệnh thu
giữ. Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan bưu điện hữu
quan trước khi tiến hành thu giữ. Người phụ trách cơ quan bưu điện hữu quan phải
giúp đỡ người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ. Khi thu giữ thư tín, điện tín,
bưu kiện, bưu phẩm phải có đại diện của cơ quan bưu điện chứng kiến và ký xác nhận
vào biên bản. Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện tín,
bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết, trừ trường hợp việc thông báo cản trở điều tra thì
sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay. Bên
cạnh đó, tất cả các hoạt động khám xét cần phải được lập biên bản, ghi nhận lại toàn
bộ những hoạt động đã thực hiện, có chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia.
Như vậy, khi Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 ra đời, các quy định về khám
xét đã lần đầu tiên được điều chỉnh trong một Bộ luật Tố tụng Hình sự thống nhất với
các nội dung khá rõ ràng, chi tiết và chặt chẽ. Những quy định về khám xét này vừa
thể hiện sự thống nhất, kế thừa của những văn bản trước như Luật số 103/SL-L005
ngày 20/5/1957, Nghị định 301 ngày 10/7/1957, Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/03/1976
… vừa có những điểm tiến bộ, phát triển hơn. Những quy định này là cơ sở pháp lý
vững chắc cho các cơ quan chức năng thực hiện hoạt động khám xét và cũng là cơ sở
để bảo vệ quyền công dân.
1.3.2. Từ 01/7/2004 đến nay
Tiếp tục duy trì những nguyên tắc của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2003 được chỉnh sửa với những quy định được rõ ràng, chi tiết hơn về biện pháp khám
huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên
phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã
rời khỏi sân bay, bến cảng. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh
khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Trình tự và nguyên tắc khám người
Khi bắt đầu khám người, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh
khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của
họ. Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên
quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám.
Khi khám người thì nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới
chứng kiến.
Có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người
hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ
vật, tài liệu cần thu giữ.
Trình tự và nguyên tắc khám chỗ ở, chỗ làm việc và địa điểm
Việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm được tiến hành theo quy định về căn
cứ khám xét, thẩm quyền ra lệnh khám xét và trình tự khám người như trên.
Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên
trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng
GVHD: Trần Hồng Ca
13
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt,
bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ
BIỆN PHÁP KHÁM XÉT
Là một biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự có mục đích là nhằm phát hiện,
thu thập chứng cứ, tài liệu hoặc các đồ vật có liên quan khác, góp phần làm sáng tỏ
những tình tiết khách quan trong vụ án hình sự, khám xét được Bộ luật Tố tụng Hình
sự năm 2015 quy định tại Chương XIII với 09 điều luật chính: Từ Điều 192 đến Điều
200.
Những điều luật này vừa trực tiếp hiện thực hóa các nguyên tắc bảo hộ tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, bảo đảm quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí
mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân quy định tại Điều 11, Điều 12 Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2015 cũng vừa là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Có thể khái quát nội dung điều chỉnh của luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện
pháp điều tra khám xét bao gồm những vấn đề sau: căn cứ khám xét, thẩm quyền ra
lệnh và tiến hành khám xét nói chung; các biện pháp khám xét cụ thể, bao gồm: khám
người; khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu
phẩm,…
2.1. Căn cứ tiến hành khám xét
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khám xét là một biện pháp điều tra thu
thập chứng cứ cần thiết và quan trọng nhưng ở một góc độ khác, biện pháp điều tra
này lại tác động trực tiếp đến các quyền bất khả xâm phạm của công dân được Hiến
pháp và pháp luật của nước ta bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ
ở, thư tín, điện tín,… Vì vậy, khi không có những căn cứ luật định, không cơ quan, tổ
chức hay cá nhân nào được thực hiện biện pháp điều tra này.
Căn cứ khám xét có thể hiểu là những thông tin mà các cơ quan có thẩm quyền
thu thập được, qua đó có đủ cơ sở để nhận định rằng ở những đối tượng, địa điểm dự
điều tra. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 không đưa ra căn cứ chung cho
các hoạt động khám xét mà đối với mỗi biện pháp khám xét khác nhau lại ghi nhận
những căn cứ khác nhau. Đối với khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện thì:
Căn cứ để tiến hành khám xét có thể dựa vào các căn cứ phạm tội hoặc dấu vết
của hành vi phạm tội để lại hiện trường hay một địa điểm nào đó. Từ nghi vấn đó, cơ
quan điều tra có lý do để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một
người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài
liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc khi cần phát hiện người đang bị truy nã.
Căn cứ phạm tội có thể dựa vào những nguồn tài liệu như tin báo của công dân ,
của đại diện các cơ quan tổ chức xã hội, kết quả tiến hành những biện pháp trinh sát,…
ví dụ như người dân phát hiện công cụ phạm tội của tội phạm đang được giấu ở chỗ
nào hoặc địa điểm giấu công cụ phạm tội,… Những tài liệu này được đối chiếu so sánh
với những tài liệu chứng cứ khác của vụ án và sau khi được kiểm tra thận trọng chính
xác có thể sử dụng làm căn cứ khám xét.
14
Điều 192 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
GVHD: Trần Hồng Ca
16
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
Dấu vết tội phạm có thể được xác định khi có đủ bằng chứng hoặc có dấu vết
của hành vi phạm tội của tội phạm để lại hiện trường vụ án từ đó có thể khám xét chỗ
ở, nơi làm việc,…
gấp nhiều lần ma túy đá, [Truy cập ngày 29/11/2016]
GVHD: Trần Hồng Ca
17
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
Có thể thấy, mỗi biện pháp khám xét có một mục đích riêng và cũng tác động
đến những quyền khác nhau của cá nhân, không biện pháp nào giống biện pháp nào.
Do đó, việc Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định những căn cứ khác nhau cho các biện
pháp khám xét khác nhau là phù hợp với thực tiễn hoạt động điều tra nói chung và
khám xét nói riêng.
Trên thực tế, việc xác định căn cứ khám xét là một hoạt động khá phức tạp và
khó khăn bởi những tài liệu về đối tượng cần khám xét thường ít ỏi, trong khi đó, hoạt
động khám xét lại đòi hỏi phải tiến hành khẩn trương, đề phòng sự tẩu tán, tiêu hủy
những tài liệu, chứng cứ vụ án của tội phạm. Bởi vậy, trước khi ra lệnh khám xét, các
cơ quan có thẩm quyền cần phải phân tích, đánh giá tất cả những tài liệu chứng cứ của
vụ án có liên quan đến việc khám xét một cách thận trọng, khách quan, toàn diện
nhưng cũng cần phải nhanh chóng, kịp thời. Nếu đủ căn cứ khám xét thì ra lệnh khám
xét và tiến hành khám xét ngay để phát hiện, thu giữ những tài liệu, chứng cứ có ý
nghĩa đối với hoạt động điều tra.
Những quy định về căn cứ tiến hành khám xét được quy định trong Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2015 đã được cập nhật đúng tình hình thực tế và được chi tiết, rõ
ràng hơn về các trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định song
mang nhiều ý nghĩa trong thực tiễn điều tra cũng như trong việc bảo vệ các quyền cơ
bản của con người. Một mặt, những quy định trên tạo cơ sở pháp lý, đảm bảo tính hợp
pháp cho hoạt động khám xét của các cơ quan có thẩm quyền, mặt khác góp phần hạn
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người
chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng.
Trường hợp không thể trì hoãn là trường hợp cần phải ngăn chặn ngay việc tiêu
huỷ nguồn chứng cứ. Cho nên những người nói trên có quyền ra lệnh khám xét mà
không cần có sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, trong thời
hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh phải báo bằng văn bản cho Viện kiểm
sát cùng cấp để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát điều tra.
Sau khi có lệnh khám xét thì điều tra viên thi hành quyết định khám xét theo
quy định: “Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết định
bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài
khoản, xử lý vật chứng16”.
Ngoài lực lượng thi hành quyết định khám xét là điều tra viên đã được quy định
tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Điều tra viên thì Bộ luật Tố tụng năm 2015 cũng quy định thêm một số cán bộ
điều tra ngoài lực lượng công an nhân dân, quân đội nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm tương tự điều tra viên để tiến hành một số hoạt động điều tra, cụ thể:
- Giám đốc, Phó giám đốc Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy; Cục trưởng, Phó
Cục trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, Giám thị, Phó Giám thị Trại
giam theo quy định của Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự;
16
Điểm e Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
GVHD: Trần Hồng Ca
19
Sơ đồ bộ máy nhà nước Việt Nam). Bởi cơ quan tư pháp là cơ quan có nhiệm vụ bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,… mà Hiến pháp đã hiến định.
Vì vậy, thẩm quyền ra quyết định khám xét thuộc về những người này đảm bảo sự
công minh, rõ ràng của Pháp luật.
Ngoài ra, người dân không được Pháp luật cho phép tham gia cũng như ra
quyết định khám xét vì bởi mỗi người dân là một cá thể, còn những người có thẩm
17
Điểm e và g Khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013
19
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013
20
Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013
21
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013
22
Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013
18
GVHD: Trần Hồng Ca
20
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
quyền ra quyết định khám xét là đại diện cho một tập thể và tập thể đó có chức năng
định của Pháp luật thì sẽ không còn đảm bảo tốt cho hoạt động điều tra. Đó là lý do
phải tiến hành khám xét khẩn cấp mà không cần thông qua Viện kiểm sát cùng cấp
GVHD: Trần Hồng Ca
21
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh
Đề tài: Quy định về biện pháp khám xét trong tố tụng hình sự
hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ
việc, vụ án ngay thời điểm đó.
Có thể thấy việc pháp luật ghi nhận và trao quyền ra lệnh khám xét cho những
chủ thể trên đã thể hiện sự linh hoạt, phù hợp của pháp luật trong những trường hợp
khẩn cấp, cần khám xét ngay. Bên cạnh đó, việc pháp luật quy định nghĩa vụ của các
chủ thể trên phải thông báo bằng văn bản đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong
thời hạn 24 giờ sau khi khám xong đã đảm bảo sự giám sát chặt chẽ về trình tự, thủ tục
khám xét, hạn chế những cuộc khám xét tràn lan, vô căn cứ.
Tuy nhiên, quy định này cũng bộc lộ hạn chế là chưa có hướng dẫn cụ thể về
việc xác định Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp lệnh khám xét được ban hành
khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Hơn nữa, những trường hợp không
thể trì hoãn là những trường hợp nào cũng không được quy định cụ thể trong Bộ luật
Tố tụng Hình sự năm 2015. Các cơ quan có thẩm quyền chủ yếu phải căn cứ vào diễn
biến, tính chất của từng vụ án để quyết định trường hợp nào là không thể trì hoãn, phải
tiến hành khám xét khẩn cấp.
Trong thực tiễn điều tra, hầu hết các cơ quan có thẩm quyền đều xác định các
các trường hợp không thể trì hoãn theo những căn cứ như:
- Có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một
người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ
thuộc tỉnh (gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện) và cơ quan
điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân: Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ
quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Cơ
quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh).
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân gồm: Cơ quan điều tra hình sự Quân
đội; Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Cơ quan điều tra hình sự quân khu và
tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực và cơ quan điều tra An ninh điều tra
Quân đội: Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân
khu và tương đương.
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm: Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Xuất phát từ thực tế là tội phạm có thể xảy ra trong tất cả các lĩnh vực, ở tất cả
các địa bàn, vào bất kỳ thời điểm nào nên để có thể kịp thời ngăn chặn tội phạm, thu
thập chứng cứ ban đầu, hạn chế việc tiêu hủy chứng cứ, tẩu tán tang vật phạm tội, luật
tố tụng hình sự Việt Nam quy định giao cho một số cơ quan quản lý nhà nước trong
một số lĩnh vực và những cơ quan làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự đất nước được
quyền tiến hành một số hoạt động điều tra. Do đó, những cơ quan này cũng có thẩm
quyền tiến hành khám xét.
Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra bao gồm: Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Đây không phải là các cơ quan tiến hành tố
tụng, mà chỉ là các cơ quan quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực nhất định và
những cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự xã hội. Các cơ quan
được giao tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ có thẩm quyền thực hiện một số
hoạt động điều tra ban đầu, sau đó chuyển hồ sơ vụ án cho các cơ quan tiến hành tố
tụng theo quy định của pháp luật. Bởi vậy, các cơ quan được giao tiến hành một số
GVHD: Trần Hồng Ca
23
1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và
đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những
người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu,
đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ
vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
GVHD: Trần Hồng Ca
24
SVTH: Nguyễn Văn Đỉnh