BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN CÔNG HIỀN
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ SỬ DỤNG XE
CÔNG TRONG KHU VỰC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
SỰ NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG
Chuyên ngành: Quản lý Công
Mã số
:60340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HỮU LAM
Thành Phố Hồ Chí Minh 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các đoạn trích dẫn, số liệu trong luận văn đều được dẫn
nguồn, có độ tin cậy trong phạm vi tôi hiểu biết. Các số liệu khảo sát, các kết quả
khảo sát đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào đã có từ trước./.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2016
Tác giả
MỤC LỤC…………………………………………………………………….
iii
DANH MỤC BẢNG…………………………………………………………..
vii
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ………………………….
1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………
1
1.2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu………………………………………..
2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………………
2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu………………………………………………………
2
1.2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………….
2.2.1. Phân loại theo công dụng của tài sản ………………………………….
6
2.2.2. Phân theo đối tượng sử dụng ……………………………………
6
2.3 Quá trình quản lý nhà nước đối với tài sản công trong cơ quan hành chính
7
và đơn vị sự nghiệp……………………………………………………………
2.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước về tài sản công……………………
7
2.3.2 Nội dung quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính và đơn vị
8
sự nghiệp………………………………………………………………………………...
2.4. Cơ chế quản lý nhà nước đối với tài sản công…………………………….
9
2.4.1 Sự xuất hiện của ngành quản lý công sản.........................................
9
19
2.7.3 Phân loại xe công theo đối tượng sử dụng…………………………….
19
2.8 Quá trình quản lý nhà nước đối với xe công trong cơ quan hành chính và 21
đơn vị sự nghiệp………………………………………………………………
2.8.1 Quản lý quá trình hình thành xe công………………………………….
21
2.8.2 Quản lý quá trình khai thác, sử dụng xe công...................................
21
2.8.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài xe công……………………….
21
2.9 Mục tiêu quản lý xe công trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự 22
nghiệp…………………………………………………………………………
2.9.1 Hệ thống các mục tiêu quản lý…………………………………………
22
2.9.2 Các nguyên tắc, chuẩn mực quản lý nhà nước đối với xe 22
công……..
2.9.3 Các công cụ quản lý xe công…………………………………………….
24
2.12 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý sử dụng xe công…………………
24
v
2.12.1 Sự phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính 24
sách, chế độ, quản lý xe công trong khu vực hành chính với thực tế
2.12.2.Nguồn nhân lực quản lý……………………………………………
25
2.12.3. Đối tượng sử dụng xe công…………………………………………
25
2.12.4.Lãnh đạo các tổ chức công…………………………………………….
25
2.12.5. Trách nhiệm, trách nhiệm và trách nhiệm phối hợp công khai…
26
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
27
4.1.4. Nội dung quản lý xe công trong cơ quan hành chính sự nghiệp...
35
4.2. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý xe công……………
39
4.3. Một số vấn đề còn tồn tại trong quản lý sử dụng xe công như sau…
39
4.3.1 Quá trình hình thành mua mới…………………..…………………..
39
4.3.2. Quá trình sử dụng …………………………………………………….
40
4.3.3. Quá trình kết thúc thanh lý xe công………………………………..
41
4.3.4. Nguyên nhân những hạn chế ………………………………………
41
4.4. Kết quả khảo sát……………………………………………………….
54
5.1.2 Quá trình sử dụng………………………………………………………
56
5.1.3 Công tác thanh lý xe công…………………………………………….
58
5.1.4 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao mức độ hiểu 58
biết về quy định quản lý xe công
5.1.5 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quản lý 59
và sử dụng xe công trong khu vực hành chính sự nghiệp
5.1.6 Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư, mua sắm, quản 59
lý, sử dụng xe công trong khu vực hành chính sự nghiệp.
5.2. Kiến nghị…………………………………………………………………
60
5.2.1 Kiến nghị trung ương………………………………………………….
60
5.2.2 Kiến nghị đối với tỉnh Sóc Trăng……………………………………..
61
Kết luận………………………………………………………………………..
Tài liệu tham khảo.
33
3
Bảng 4.1.3b: Xe công hiện có của các huyện, thị xã thành phố
34
4
Bảng 4.1.3c: Xe ô tô chuyên dùng.
34
5
Bảng 4.1.4a: Tình hình mua xe công tỉnh Sóc Trăng năm 2013-2015
36
6
Bảng 4.1.4c: Tình hình sửa chữa xe công tỉnh Sóc Trăng năm 2013-
37
2015
7
Bảng 4.1.4d: Tình hình điều chuyển xe công năm 2013-2015
thường xuyên phản ánh trên các diễn đàn Quốc hội, báo chí và là gánh nặng của các
nhà quản lý về tính hiệu quả của nó. Theo số liệu tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài
sản Nhà nước (Bộ Tài chính, 2015) cả nước có 36.897 xe ô tô công đang được sử
dụng trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp (chưa bao gồm xe của các cơ
quan, đơn vị thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nước), với
tổng nguyên giá gần 20 nghìn tỷ đồng, giá trị còn lại khoảng gần 6.000 tỷ đồng.
Trong đó, xe phục vụ chức danh chiếm 2,36%; xe phục vụ công tác chung chiếm
66,29%; xe chuyên dùng chiếm 31,34% tổng số xe.
Theo số liệu tại cơ sở dữ liệu tài sản tỉnh Sóc Trăng (Sở Tài chính, 2015)
toàn tỉnh hiện có 199 xe với tổng nguyên giá gần 132 tỷ đồng. Trong đó xe phục vụ
chung 155 xe, xe chuyên dùng 44 xe. Công tác quản lý, sử dụng xe ô tô công tỉnh
Sóc Trăng đã cơ bản được thực hiện nề nếp, tiết kiệm và hiệu quả đồng thời đáp ứng
yêu cầu hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị
được giao. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn việc điều chuyển xe ô tô giữa các đơn vị
không đúng thẩm quyền quy định; việc thỏa thuận, mua sắm xe chuyên dùng chưa
được chặt chẽ; tiêu chuẩn định mức quy định chưa phù hợp với một số cơ quan, đơn
vị; chi phí cho việc mua sắm, sử dụng xe khá lớn trong điều kiện ngân sách còn khó
khăn; việc sử dụng xe ô tô công vào việc riêng, sử dụng xe sai đối tượng, sử dụng
2
xe đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc với các chức danh không đủ tiêu chuẩn định
mức vẫn diễn ra.
Để việc quản lý xe công ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn, đảm bảo đúng
tiêu chuẩn, định mức và mục đích sử dụng là vấn đề mà tỉnh Sóc Trăng hết sức quan
tâm. Muốn vậy cần phải có những nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý
sử dụng xe công trong thời gian qua, cũng như mức độ nhận thức, am hiểu và chấp
nhận thực hiện những quy định quản lý xe công hiện nay như thế nào. Từ đó có
những giải pháp để hoàn thiện việc quản lý xe công đạt hiệu quả, tránh lãng phí chi
2013-2015.
1.2.4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở số liệu về tình hình quản lý sử dụng xe công của tỉnh Sóc Trăng.
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và định tính để đánh giá nhận xét những thực
trạng quản lý xe công trong thời gian qua để thấy được vấn đề còn tồn tại và có kiến
nghị phù hợp.
Vấn đề còn tồn tại và những kiến nghị trong thời gian tới được nghiên cứu
trên cơ sở thăm dò ý kiến của các đơn vị sử dụng xe công ở các sở ban ngành cấp
tỉnh về cơ chế và các nhân tố tác động đến quản lý xe công. Ý kiến dựa trên cơ chế
quản lý xe công hiện hành so với thực tế của đơn vị đang sử dụng. Các thăm dò,
đánh giá tài liệu xác định các yếu tố chính trong việc phát triển các bảng câu hỏi để
đánh giá nhận thức và sự hiểu biết về thực hành quản lý xe công. Bảng câu hỏi được
lập 48 phiếu gửi cho 24 cơ quan đơn vị trong tỉnh, mỗi cơ quan đơn vị trả lời hai
phiếu. Tùy theo mức độ trả lời và số phiếu thu lại được sẽ tổng hợp phân tích
a) Thu thập số liệu: Tổng số lượng xe ô tô hiện có, tăng, giảm xe ô tô công
trên phần mềm đăng ký tài sản của Bộ Tài Chính- cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản
nhà nước tỉnh Sóc Trăng (2013-2015), Báo cáo tình quản lý tài sản Sở Tài chính.
b) Phương pháp xử lý thông tin: Số liệu xử lý bằng Excel trên máy. Đối với
thông tin là số liệu định lượng tiến hành tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt
đối, phần trăm và lập thành bảng để nghiên cứu.
c) Phương pháp phân tích thông tin, số liệu:
+Mục tiêu 1: Vận dụng những cơ chế chính sách, quản lý sử dụng xe công
căn cứ làm cơ sở lý luận để phân tích đánh giá thực trạng quản lý sử dụng xe công
hiện nay.
4
Phương pháp số tuyệt đối: là hiệu số hai chỉ tiêu xe thực tế (y1) và chỉ tiêu
xe định mức (y0) Số tuyệt đối = y1-y0
2.1.1 Khái niệm tài sản công
Tài sản công theo Hiến pháp năm 1992 được cho là: Đất đai, rừng núi, sông
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và
vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành,
lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước sở hữu. Thuật ngữ "tài
sản" có thể được sử dụng để mô tả nhiều loại khác nhau của các tài sản bao gồm tài
sản tài chính, tài sản cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc, thiết bị và tài sản.
Các tài sản cả hữu hình và vô hình trong đó bao gồm các tài sản tài chính như
tiền bạc, tài sản trí tuệ như kiến thức và tài sản vật chất như các tòa nhà (Fernholz
và Fernholz (2006) và Howarth (2006).
Liên đoàn Kế toán Quốc Tế (1995) trong nghiên cứu của họ đã phân biệt tài
sản sở hữu công cộng là tài sản tài chính bao gồm tiền mặt, các khoản phải thu,
quyền theo hợp đồng để trao đổi cụ thể tài chính với doanh nghiệp khác dưới điều
kiện thuận lợi, và các công cụ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp khác như cổ phiếu
trong Souls Private Equity Limited (DNNN), và các tài sản vật chất trong đó bao
gồm hàng tồn kho, tài sản cố định lâu dài, cơ sở hạ tầng, tài sản di sản, tài sản quốc
phòng, tài nguyên thiên nhiên, tài sản cộng đồng và các tài sản vô hình. Tài sản
công có thể được mô tả như bất kỳ tài sản thuộc hoặc dưới sự kiểm soát của Chính
phủ và phân loại tài sản di chuyển như hàng tồn kho, bất động sản như đất đai và
nhà cửa, tài sản sống như thực vật động vật và tài sản trí tuệ. Đối với phạm vi
nghiên cứu này, phạm vi của các tài sản được giới hạn trong việc nghiên cứu các
loại xe công.
2.1.2 Đặc điểm tài sản công
Thứ nhất, tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền của ngân
sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước.
6
7
sản). Về nguyên tắc, các cơ quan hành chính được bình đẳng sử dụng tài sản phù
hợp với chức năng nhiệm vụ được giao. Việc quản lý tài sản phải tuân thủ theo chế
độ, chính sách quản lý chung của Nhà nước như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài
sản, chế độ báo cáo, mua sắm, bán thanh lý tài sản... đồng thời phải chịu sự kiểm
tra, giám sát của Nhà nước trong suốt quá trình sử dụng. Nhà nước quản lý toàn
diện đối với tài sản do cơ quan hành chính nhà nước sử dụng, ở tất cả các khâu theo
vòng đời tồn tại của tài sản gồm: đầu tư, mua sắm; bố trí sử dụng, mục đích sử
dụng, báo cáo thống kê, kiểm kê, chuyển đổi công năng, thanh lý tài sản.
Hai là, tài sản công dùng cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp: là những
tài sản mà nhà nước giao cho các đơn vị sự nghiệp trực tiếp sử dụng để thực hiện
các mục tiêu sự nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ba là, tài sản công dùng cho hoạt động của tổ chức chính trị, các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phục vụ cho hoạt
động của tổ chức, bao gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi lại, máy móc, thiết bị và
những tài sản khác.
2.2.3. Phân loại theo đặc điểm hao mòn tài sản
Tài sản hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng bị hao mòn qua thời gian như:
máy móc thiết bị, phương tiện đi lại
Tài sản không bị hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng mà cơ bản vẫn giữ được
hình dạng ban đầu như: đất đai, quyền sử dụng đất, cây lâu năm…
2.3 Quá trình quản lý nhà nước đối với tài sản công trong cơ quan hành
chính sự nghiệp
2.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước về tài sản công
Quản lý tài sản là quản lý quá trình hình thành tài sản cho đến khi kết thúc,
nhằm bảo đảm tài sản phục vụ một cách hiệu quả đúng với mục tiêu, chiến lược của
các tổ chức.
a) Quản lý nhà nước đối với tài sản công có thể được định nghĩa là quá trình
luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khác hoặc thu hồi từ các dự
án đã kết thúc.
b) Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản: Đây là khâu có ý nghĩa quan
trọng trong việc phát huy hết vai trò của tài sản công. Quản lý khâu này là thực hiện
quản lý tài sản công theo mục đích, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; quản lý quá trình
9
thu hồi, điều chuyển, tài sản từ đơn vị này sang đơn vị khác; quản lý việc bảo
dưỡng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản nhằm duy trì hoạt động của tài sản công,
đảm bảo cho việc sử dụng tài sản công có hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng được nhu cầu
công tác của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; nội dung khâu này tập trung
vào một số vấn đề sau: (i) giao tài sản cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trực
tiếp quản lý, sử dụng; xây dựng và ban hành nội quy, quy chế quản lý tài sản công;
(iii) mở sổ sách kế toán theo dõi tình hình biến động của tài sản công; (iv) thực hiện
chế độ kê khai, đăng ký, báo cáo, kiểm kê đột xuất và định kỳ tài sản công theo quy
định của pháp luật; (v) kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụng tài
sản công; (vi) bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm
sử dụng; (vii) điều chuyển, bán, chuyển đổi sở hữu tài sản công.
c) Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công: Tài sản công đưa vào sử
dụng sau một thời gian nhất định đều có quá trình kết thúc để thay thế bằng tài sản
khác (trừ đất đai và một số công trình có tính chất tài sản lâu bền khác). Khi tài sản
công hết thời gian sử dụng, đã hao mòn hết hoặc hư hỏng không còn sử dụng được
thì phải được tiến hành thanh lý để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được cho ngân
sách nhà nước và đồng thời đó cũng là căn cứ để chuẩn bị đầu tư, mua sắm tài sản
mới.
2.4. Cơ chế quản lý nhà nước đối với tài sản công
2.4.1 Sự xuất hiện của ngành quản lý công sản
Quản lý tài sản của khu vực công có thể được xem như là một phong trào
kết giữa các chiến lược và hoạch định nguồn lực tài sản, trách nhiệm quản lý tài sản
rõ ràng trong các cơ quan, việc sử dụng các số liệu hiệu suất để theo dõi tiến độ và
hiệu quả sử dụng nơi ăn nghỉ với việc xử lý không gian dư thừa và việc áp dụng tiết
kiệm các chiến lược nơi làm việc được khuyến khích.
Summerell (2005) cho thấy rằng bằng cách áp dụng các quy trình quản lý tài
sản, chính quyền địa phương có thể nâng cao hiệu quả và hiệu suất cung cấp dịch vụ
thông qua việc giảm và hoàn toàn có thể kiểm tra chi phí hoạt động, giảm tỷ lệ trống
và cải thiện khoảng thời gian giao hàng, giá trị quản lý tốt hơn cũng như di chuyển
thấp hơn chi phí.
Lemer (1999) chỉ ra rằng một trong những thách thức đối với việc quản lý tốt
hơn tài sản công là họ được quản lý bởi các cơ quan khác nhau và ở nhiều cấp thẩm
11
quyền. Cơ quan quản lý có liên quan đến các quy định, quy trình và chính sách của
mình, mà đôi khi mâu thuẫn với nhau, bởi vì họ có những mục tiêu riêng của họ và
có ít sự phối hợp giữa chúng. Priest (2006) đồng ý rằng sự thiếu phối hợp giữa các
ban ngành bất động sản và các đơn vị dịch vụ công cộng có thể dẫn đến sự mất cân
bằng giữa cung và cầu của các dịch vụ công cộng. NAO (2007) cũng đồng ý rằng,
để nâng cao hiệu quả, điều quan trọng là một bộ phận cần phối hợp hoạt động với
các phòng ban khác. Trung ương cần cung cấp hướng dẫn mạnh hơn và giúp đỡ
thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả và sở hữu danh mục đầu tư cá nhân.
Các yêu cầu quan trọng để quản lý tài sản tốt hơn đã được ghi nhận là sự cam
kết của các nhà quản lý cao cấp để quản lý tài sản và thay đổi phong cách làm việc,
tình trạng thiếu cán bộ quản lý tài sản có kinh nghiệm, không đáng tin cậy của dữ
liệu và sự vắng mặt của chia sẻ chỗ ở của công chúng các cơ quan trên ranh giới tổ
chức (The Operational Effciency Review, 2009).
2.4.3 Mô hình quản lý công sản Malaysia
Các tổ chức khu vực công cộng của Malaysia bao gồm các chính phủ liên
lý tài sản (MySPATA). Hệ thống này được phát triển bởi Malaysia hành chính hiện
đại hoá và Kế hoạch Quản lý Unit (MAMPU) và với Sở Công chính (PWD) như các
chuyên gia về vấn đề và chủ sở hữu của hệ thống. Mục đích của MySPATA là tạo ra
một cơ sở dữ liệu chứa toàn diện và chính xác các thông tin phi tài sản di chuyển
cho quản lý và giám sát hệ thống, tích hợp và dễ tiếp cận. Chính phủ Malaysia đã
cam kết sẽ cung cấp cho các công dân với các dịch vụ chất lượng bằng cách cung
cấp các đặc tính quản lý đúng nơi do:
- Mỗi cơ quan chịu trách nhiệm về tính chính phủ dưới sự điều khiển của nó;
- Tất cả tài sản của chính phủ phải được xử lý đúng cách thông qua quản lý
tài sản trong các cách tiếp cận có hệ thống và chiến lược;
- Mỗi cơ quan phải thực hiện phương pháp TAMM trong việc quản lý các tài
sản của chính phủ.
Các mục tiêu của chính sách quản lý tài sản của Malaysia bao gồm việc tạo
ra các tài sản để đáp ứng nhu cầu của các dịch vụ chính phủ, quản lý tài sản được
thực hiện một cách hệ thống, toàn diện và bền vững để đạt được lợi ích tối ưu của
các tài sản, tính sẵn có của các tài sản thông tin trong một hệ thống, toàn vẹn cấu
trúc dễ tiếp cận và thực hành của TAMM đang được thực hiện và giám sát.
13
a) Xác định chiến lược thực hiện TAMM: là làm rõ trách nhiệm của cán bộ
quản lý và sử dụng tài sản, tuân thủ các thông tư, đảm bảo việc thành lập cơ chế
quản lý tài sản cấu trúc như bộ phận quản lý tài sản và Ủy ban quản lý tài sản tại cơ
quan cấp.
Tiến hành xem xét quản lý: Để đánh giá hiệu quả và cải thiện quản lý tài sản
ít nhất một lần một năm.
Hệ thống và Quy trình nhận dạng tài sản: Mỗi cơ quan cần xác định tài sản
thuộc trách nhiệm và kiểm soát nó theo cách phân loại tài sản quy định để đảm bảo
việc quản lý tài sản được thực hiện cho phù hợp và hiệu quả.
c) Trong số các đặc điểm của quản lý tài sản hiệu quả như nêu bật trong
TAMM (2009) như sau:
-Tối ưu hóa tiềm năng của các tài sản phục vụ bằng cách đảm bảo rằng tài
sản được sử dụng và duy trì phù hợp; Làm giảm nhu cầu đối với tài sản mới và tiết
kiệm tài chính thông qua các kỹ thuật quản lý nhu cầu và lựa chọn giao hàng cho
các dịch vụ phi tài sản; Đạt được các lợi ích kinh tế tốt nhất thông qua việc đánh giá
các tính toán chi phí vòng đời; Giảm thiểu việc tạo ra các tài sản không cần thiết
bằng cách thông báo cơ quan này về các tác động của chi phí vận hành cao của tài
sản; Tập trung vào các quyết định chính xác, trách nhiệm giải trình và cung cấp các
báo cáo hiệu suất của tài sản.
- Một nội dung mà bất kỳ cơ chế hay một thể chế nào cũng cần phải có đó là
trách nhiệm trong vấn đề sử dụng tài sản công, ở TAMM vấn đề trách nhiệm gắn
liền giữa nhà quản lý đến nhà sử dụng hay còn gọi là cơ cấu trách nhiệm chủ sở hữu
tài sản.
d) Các chính sách quản lý tài sản Malaysia (TAMM, 2009) đã đề ra năm
nguyên tắc chính, cụ thể là: Sự cần thiết phải cung cấp dịch vụ tốt hơn là trọng tâm
chính đối với bất cứ việc ra quyết định liên quan đến tài sản; Lập kế hoạch quản lý
tài sản phải được tích hợp với hoạt động của cơ quan và lập kế hoạch của cơ quan,
ngân sách tài chính và trình báo cáo; Quyết định về quản lý tài sản phải được dựa
trên các đánh giá khác nhau có tính chu kỳ sống của tài sản tài khoản chi phí, lợi ích
và nguy cơ trong việc sở hữu một tài sản. Quyền sở hữu, kiểm soát, trách nhiệm giải
trình và tiêu chuẩn của báo cáo phải được phát triển, thực hiện và trình bày rõ ràng.
Hoạt động quản lý tài sản phải dựa trên các chính sách quản lý tài sản của TAMM.
15
e) Cơ cấu trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của Chính phủ Malaysia:
- Chủ sở hữu tài sản: Xác định các chính sách quản lý tài sản tại cơ quan cấp;
Xác định một đường phía trước cho quản lý tài sản chiến lược; Lập kế hoạch nhu
trình làm việc bằng cách sử dụng công nghệ mã nguồn mở và các ứng dụng của
email. Mã tài sản cấu trúc trong ứng dụng mySPATA là duy nhất và bao gồm hai
thành phần, cụ thể là đăng ký Premise Asset (DPA) và đăng ký tài sản cụ thể
(DAK).
2.5. So sánh với cơ chế và hệ thống quản lý tài sản của Việt Nam
Xét về công tác quản lý tài sản của Malaysia, Việt Nam có điểm chung là cả
hai cùng ban hành những cơ chế quản lý tài sản. Cơ chế đó được Chính phủ ban
hành và những cơ quan trực thuộc Chính phủ. Tuy nhiên đối với Malaysia hệ thống
cơ chế được tập trung vào một (TAMM). Thông qua đó là một bộ quy tắc quản lý từ
khâu hình thành, sử dụng và kết thúc tài sàn bao gồm nhà đất các công trình công
cộng. Bên cạnh đó bao gồm hệ thống quản lý (mySPATA) được ứng dụng tin học
hóa toàn Chính phủ và các Bang.
So với Việt Nam cơ chế quản lý của Việt Nam được quy định bởi những bộ
luật như Luật quản lý sử dụng tài sản, Nghị định Chính phủ, Thông tư các Bộ và cơ
quan ngang Bộ, những quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Hệ thống
quản lý tài sản của Việt Nam được thành lập vào năm 1994 đó là Cục Quản lý Công
sản thuộc Bộ Tài chính cơ quan trực tiếp tham mưu Chính phủ ban hành cơ chế và
hệ thống quản lý sản của Việt Nam. Qua đó hệ thống quản lý tài sản công được Bộ
Tài chính - Cục Quản lý công sản triển khai ứng dụng vào năm 2008 trên cơ sở nền
tản của cơ sở dữ liệu năm 1998 (tổng kiểm kê tài sản). Dự án được triển khai đồng
bộ trên toàn quốc nhằm tích hợp dữ liệu tài sản thành cơ sở dữ liệu tài sản quốc gia,
đây là hệ thống phần mềm ứng dụng tin học vào quản lý tài sản hiện đại. Giúp cho
việc khai thác và quản lý tài sản một cách kịp thời và chính xác, thông qua phần
mềm quản lý Bộ Tài chính quản lý và nắm toàn bộ tài sản của các tỉnh thành phố và
cả nước. Đối tượng được kê khai và đăng nhập vào phần mềm là nhà, đất, xe ô tô và
tài sản có nguyên giá trên 500 triệu/một tài sản.
- Như vậy, việc quản lý tài sản công Việt Nam và Malaysia đều có điểm
giống nhau là cùng ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn việc quản lý tài sản từ
khâu hình thành đến khi kết thúc. Quá trình quản lý sử dụng được vận hành, bảo trì
phủ và các tỉnh thành. Tuy nhiên ở từng gốc độ của đề tài tập trung phân tích đánh
giá những nhân tố tác động, ảnh hưởng và các tiêu chí hình thành bộ khung để đánh