Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ huyện châu thành tỉnh long an - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------------------

TRƯƠNG NGUYỄN ANH THOẠI
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍNH DỤNG
CHÍNTHỨCCỦANÔNG HỘ HUYỆN
CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN.
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số

: 60.34.04.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐINH PHI HỔ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Trương Nguyễn Anh Thoại, là học viên cao học Quản lý công khoá 2014
của Trường Đại học Kinh tế TPHCM (UEH). Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ
‘Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông
hộ huyện Châu Thành, tỉnh Long An’ là do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu
sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi
hiểu biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại



iii

TÓM TẮT
Ở các quốc gia có thu nhập thấp, những lựa chọn kinh tế của nông hộ thường bị hạn
chế bởi thị trường tài chính địa phương hoạt động không hiệu quả. Một vấn đề quan
trọng là khả năng các hộ gia đình có thể tiếp cận với các sản phẩm tài chính, đặc biệt
là ở các khu vực chính thức. Ví dụ, việc tiếp cận các khoản vay để đầu tư tăng năng
suất có tiềm năng dẫn đến tăng trưởng kinh tế thông qua giúp đỡ nông dân và các nhà
đầu tư phát triển sản xuất theo quy mô và tạo ra nguồn lợi nhuận cần thiết đưa họ thoát
khỏi đói nghèo.
Việc giúp người dân tiếp cận vốn vay, đặc biệt là nông hộ và hộ dân nghèo thiếu các
tài sản thế chấp thông thường luôn được chính phủ quan tâm. Nghị định 41/2010/NĐCP ngày 12/4/2010 và được điều chỉnh bổ sung thông qua Nghị định 55/2015/NĐ-CP
ngày 09/6/2015 của Chính phủ về các chính sách hỗ trợ tín dụng phát triển nông
nghiệp và nông thôn của Chính phủ là một minh chứng. Việc xem xét các yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của nông hộ có ý nghĩa quan trọng trong việc triển
khai thực hiện thành công các chính sách hỗ trợ các đối tượng nhạy cảm với các chính
sách của xã hội như nông dân và các hộ dân nghèo.
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ trên
địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An, tác giả đã khảo sát 150 hộ nông dân không
phân biệt nhóm vay hoặc không vay, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy logistic để
ước lượng các tác động giữa các đặc tính của nông hộ đến năng lực vay vốn.
Kết quả ước lượng mô hình logistic cho thấy các yếu tố về đặc điểm của chủ hộ như
giới tính và độ tuổi của chủ hộ cũng có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của
hộ gia đình. Nữ có xu hướng tiếp cận vốn tốt hơn nam và độ tuổi chủ hộ càng cao thì
khả năng tiếp cận vốn càng cao. Các yếu tố đất đai và tài sản của chủ hộ càng cao thì
khả năng tiếp cận vốn càng dễ dàng do đảm bảo các yêu cầu thế chấp của các ngân
hàng thương mại. Tuy nhiên, các hộ gia đình có phương án kinh doanh hiệu quả và thu
nhập ổn định thì khả năng được các ngân hàng thương mại cho vay vốn là cao. Điều

2.1.1. Khái niệm về tín dụng: ........................................................................................... 7
2.1.2. Đặc trưng và điều kiện của tín dụng: ...................................................................... 7
2.1.3. Thị trường tín dụng và định mức tín dụng ............................................................. 8
2.1.4. Thị trường tín dụng nông thôn ở Việt Nam .......................................................... 12
2.1.5. Yếu tố tác động đến tiếp cận tín dụng hộ gia đình nông thôn Việt Nam ............. 14
2.2. Lược khảo tài liệu và nghiên cứu trước ...................................................................... 15
Chương 3.

GIỚI THIỆU HUYỆN CHÂU THÀNH

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................................. 20
3.1. Giới thiệu huyện Châu Thành, tỉnh Long An ............................................................. 20
3.1.1. Tình hình kinh tế huyện Châu Thành ................................................................... 20
3.2. Giới thiệu các chính sách hỗ trợ tín dụng nông nghiệp của Chính phủ...................... 24
3.3. Hiện trạng tiếp cận vốn vay của nông hộ ................................................................... 26
3.3.1. Tổng quan về tín dụng trên địa bàn huyện Châu Thành....................................... 26
3.3.2. Khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của chính phủ ............................................. 27
3.3.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nông hộ ................................................. 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 29


v

3.4.1.
3.4.2.
3.4.3.
3.4.4.
3.4.5.

Mô hình hồi quy Logistic: .................................................................................... 29

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products)

GRDP

Tổng sản phẩm nội vùng (Gross Regional Domestic Product)

NHNN&PTNT

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NHCSXH

Ngân hàng chính sách xã hội

NHPTVN

Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Nghị định 41

Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ
về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông
thôn

Nghị định 55

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về
về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông

Hình 3.1. Tỷ trọng các ngành kinh tế chính của huyện Châu Thành năm 2014
Hình 3.2. Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện Châu Thành (2014)
Hình 3.3. Tình hình giảm hộ nghèo ở các xã, thị trấn huyện Châu Thành 2010 – 2014
Hình 3.4. Tỷ trọng 3 lĩnh vực nông nghiệp chính ở huyện Châu Thành 2014
Hình 3.5. Diện tích và sản lượng trồng lúa và thanh long 2010 – 2014
Hình 3.6. Biến động doanh số nợ vay và phân loại nợ vay 2 ngành nông nghiệp công
nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành giai đoạn 2010 – 2015
Hình 3.7. Ngân hàng hỗ trợ vay vốn cho nông hộ tại huyện Châu Thành
Hình 3.8. Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của nông hộ tại huyện Châu Thành
Hình 3.9. Phân bố mẫu khảo sát nông hộ trên địa bàn huyện Châu Thành
Hình 4.1. Đồ thị phân phối tuổi của chủ hộ được khảo sát.
Hình 4.2. Trình độ chủ hộ trong mẫu khảo sát.
Hình 4.3. Phân bố diện tích đất do chủ hộ làm chủ sở hữu trong mẫu khảo sát.
Hình 4.4. Đồ thị phân phối diện tích đất của chủ hộ được khảo sát.
Hình 4.5. Đồ thị phân phối tổng thu nhập của chủ hộ được khảo sát.
Hình 4.6. Đồ thị phân phối tổng thu chi phí của nông hộ được khảo sát.


viii

PHỤ LỤC A
Hình A.1.Vị trí địa lý huyện Châu Thành, tỉnh Long An
PHỤ LỤC B
Bảng B.1. Thống kê số hộ nghèo trên địa bàn các xã huyện Châu Thành (2010-2014)
Bảng B.2. Mô tả biến phụ thuộc TIEPCAN
Bảng B.3. Mô tả thống kê các biến độc lập của mô hình phân tích
Bảng B.4. Kết quả hồi quy logistic
Bảng B.5. Tóm lược các kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ tiếp cận tín dụng
Bảng B.6 Kiểm định sự khác biệt thu nhập giữa nhóm vay và không vay vốn
Bảng B.7 Kiểm định sự khác biệt chi tiêu giữa nhóm vay và không vay vốn

các vùng nông thôn ở Việt Nam. Nguồn thu nhập của họ phụ thuộc chủ yếu vào nông
nghiệp và chịu tác động lớn bởi thiên tai dịch bệnh. Điều này chứng tỏ người dân nông
thôn dễ bị tổn thương do những cú sốc xảy ra. Việc cung cấp cho nông dân tiếp cận
các dịch vụ tài chính hiệu quả có thể giúp họ đối phó với các cú sốc và có thể giảm
nghèo (Aliou Diange, 1999). Tuy nhiên, khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ dân ở
nông thôn thường bị hạn chế do thị trường tài chính nông thôn chưa phát triển đồng
bộ. Có hai hạn chế chính trong việc tiếp cận vốn của người dân trong khu vực nông
thôn đó là: vấn đề tài sản đảm bảo và khả năng lập phương án sản xuất kinh doanh của
hộ nông dân.


2

Hạn chế từ tài sản thế chấp được xem như là một trong những trở ngại lớn đối với
nông dân trong việc tiếp cận các nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại. Theo
Banerjee và Dufflo (2004), các quốc gia đang phát triển, những lựa chọn kinh tế của
hộ gia đình thường bị hạn chế bởi thị trường tài chính ở địa phương hoạt động không
hiệu quả.
Một hạn chế khác của nông dân trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay chính thức là
thiếu khả năng lập các phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, làm cơ sở để các tổ
chức tín dụng xem xét cấp vốn. Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh cần phải
đảm bảo nhiều tiêu chí như: tư cách pháp lý, địa điểm kinh doanh, khả năng tiêu thụ
sản phẩm của thị trường, khả năng hoàn trả vốn… Với đặc thù nông dân có trình độ
còn hạn chế, thì đây cũng là trở ngại quan trọng để các nông hộ tiếp cận vốn vay từ các
ngân hàng thương mại trên địa bàn.
Để tháo gỡ khó khăn cho nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển sản
xuất, nhiều chính sách đã được Chính phủ ban hành từ ngay khi bắt đầu thời kỳ Đổi
mới. Đến nay, có 4 văn bản chính gồm: Chỉ thị số 202/CT-HĐBT ngày 28 tháng 6
năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng về việc vay vốn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp đến hộ sản xuất; Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ


Xác định các vấn đề còn tồn tại trong tiếp cận tín dụng chính thức của nông hộ
trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

-

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ ở
huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

-

Gợi ý một số chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nông hộ tiếp cận
nguồn vốn vay chính thức phục vụ đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu và các giả thuyết nghiên cứu, tác giả tập trung trả lời các câu hỏi như sau:
-

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của nông
hộ ở huyện Châu Thành, tỉnh Long An?

-

Giải pháp nào là phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho nông hộ ở huyện Châu
Thành tiếp cận vốn vay chính thức để mở rộng sản xuất, kinh doanh?

1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa các đặc điểm của nông hộ ở nông
thôn đối với khả năng tiếp cận tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức trên địa bàn

khảo và thông tin thu thập qua bảng hỏi, phương pháp định lượng được sử dụng để
lượng hoá các tác động các yếu tố lên khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ trên địa
bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Quy trình nghiên cứu dự kiến gồm 5 bước chủ yếu như sau:
1. Xác định vấn đề nghiên cứu dựa trên bối cảnh khó tiếp cận vốn của nông hộ của
cả nước nói chung và huyện Châu Thành, tỉnh Long An nói riêng.
2. Xây dựng mô hình và thang đo dựa trên cơ sở lý thuyết và lược khảo tài liệu từ
các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề tiếp cận tín dụng chính thức
của nông hộ.
3. Thu thập số liệu điều tra, khảo sát thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn nông hộ.
4. Phân tích kết quả hồi quy và kiểm định mô hình
5. Đề xuất giải pháp dựa trên kết quả phân tích mô hình hồi quy.
1.6. Nguồn số liệu
a) Số liệu sơ cấp:


5

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 150 hộ nông dân trên địa
bàn không phân biệt có hay không có tiếp cận vốn tín dụng tại các tổ chức tín dụng
chính thức tại địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An trong năm 2015.
Tác giả thu thập thông tin, số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng
câu hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục C) các đối tượng là nông hộ dựa trên giới thiệu của
đại diện chính quyền cấp xã để tiếp cận đối tượng được phỏng vấn. Dựa trên thiết kế
sơ bộ bảng câu hỏi phỏng vấn, có tham khảo ý kiến của chuyên gia trong ngành ngân
hàng, tác giả điều tra khảo sát sơ bộ 2 hộ nông dân để nhận dạng những thiếu sót trong
quá trình thiết kế bảng hỏi trước khi triển khai khảo sát đại trà. Sau khi thu hồi phiếu
khảo sát, tác giả rà soát, bổ sung thông tin và loại bỏ những phiếu khảo sát không phù
hợp. Các bảng hỏi có thông tin phù hợp được mã hoá dựa trên các thang đo thích hợp
để làm cơ sở số liệu để phân tích các nội dung có liên quan.

huyện. Để đánh giá mức độ thích hợp và năng lực giải thích của các biến trong
mô hình hồi quy, tác giả thực hiện các kiểm định như: kiểm định tương quan
từng phần (kiểm định tham số mô hình), kiểm định mức độ thích hợp và kiểm
định mức độ giải thích của mô hình.
Các biến đưa vào mô hình phân tích định lượng gồm:
-

Biến phụ thuộc: bao gồm các biến đặc tính của chủ hộ (tuổi, giới tính, trình độ
học vấn) và đặc tính sở hữu tài sản của hộ gia đình (diện tích đất sở hữu, tổng
thu nhập, tổng chi tiêu)

-

Biến độc lập: Khả năng (xác suất) tiếp cận vốn vay của nông hộ.

1.7. Kết cấu của luận văn
Chương 1. Giới thiệu chung: Đặt vấn đề; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu;
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Kết cấu của luận văn
Chương 2. Tổng quan lý thuyết và lược khảo tài liệu gồm: trình bày các khái niệm
về tín dụng, phân biệt tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức, các lý thuyết về
khả năng tiếp cận tín dụng chính thức; các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên
quan.
Chương 3. Giới thiệu huyện Châu Thành và Phương pháp nghiên cứu: Khái quát
thực trạng kinh tế xã hội và các hoạt động tín dụng trên địa bàn huyện Châu Thành;
Trình bày các phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic và
ứng dụng trong đánh giá tác động của các nhân tố đặc thù hộ nông dân và đặc thù sở
hữu tài sản lên khả năng tiếp cận tín dụng chính thức tại chi nhánh các ngân hàng trên
địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An; Xác định và mô tả các biến trong mô hình;
Mô tả dữ liệu; Xây dựng mô hình.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu: Mô tả dữ liệu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng

các chính sách tiền tệ của Chính phủ tác động đến thời hạn và sự sẵn có của tín dụng
đối với các khoản vay mới cũng như tác động đến lãi suất ngắn hạn (bao gồm cả trực
tiếp và gián tiếp).
2.1.2. Đặc trưng và điều kiện của tín dụng:
Tín dụng là sự giao dịch các giá trị (hàng hoá và tiền tệ) dựa trên sự tín nhiệm của một
tổ chức hay cá nhân nào đó. Theo đó, người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng
vốn hiệu quả, sinh lợi và sau một thời gian có khả năng trả nợ gốc và lãi.
Mặc dù hiện nay, các hình thái quan hệ tín dụng đã phát triển phong phú và đa dạng
nhưng theo Sử Đình Thành (2008) thì chúng vẫn có 3 đặc điểm cơ bản như sau:


8

-

Tín dụng chỉ làm thay đổi quyền sử dụng (tạm thời) chứ không làm thay đổi
quyền sở hữu vốn.

-

Quá trình chuyển giao vốn phải có thời hạn và thời hạn tín dụng dài hay ngắn là
tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa các bên tham gia tín dụng.

-

Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng
trong một khoảng thời gian nhất định.

Thiếu một trong ba đặc tính này sẽ không cấu thành mối quan hệ tín dụng. Chẳng hạn
nếu thiếu đặc trưng thứ ba thì sẽ trở thành mối quan hệ mượn, nếu thiếu đặc trưng thứ

2.1.3. Thị trường tín dụng và định mức tín dụng

Thị trường tín dụng
Theo Kao (2003), tài trợ cho kinh tế phát triển đã trở nên khả thi khi có một sự di
chuyển vốn lớn hơn và sử dụng nguồn lực hữu hiệu. Những hạn chế liên quan khả
năng tiếp cận đến tín dụng tạo ra các cản ngại trong việc sử dụng vốn tối ưu cho việc
nâng cao tăng trưởng và phát triển kinh tế ở cấp độ quốc gia tiếp nhận tiềm năng.
Định mức Tín dụng


9

Giá cân bằng thị trường của vốn (dựa trên sự cân bằng của cung và cầu vốn) không
hiện hữu trong các thị trường tín dụng. Điều này là do việc tài trợ tín dụng không phải
là một cuộc đấu giá trong một bối cảnh cạnh tranh, và không xuất hiện tại một sự kiện
hay thời điểm tức thời cho việc quyết định những cái chung giữa các nhân tố cung và
cầu. Khái niệm cân bằng thị trường Walras đơn giản là không áp dụng được trong bối
cảnh mà ở đó chúng ta phải xử lý tính liên tục của các yếu tố kinh tế được định nghĩa
theo thời gian; thông tin không đầy đủ có liên quan đến các trạng thái trong tương lai.
Có khá nhiều lý thuyết kể từ thập niên 1970 nói về chủ đề định mức tín dụng. Theo
truyền thống, định mức tín dụng được giả định là xảy ra khi người cho vay cung cấp
các khoản cho vay nhỏ hơn so với những khoản vay mà người đi vay yêu cầu ngay cả
khi người cho vay quyết định mức lãi suất áp dụng (Jaffee và Russell, 1976). Ngay cả
với khái niệm nghiêm ngặt của định mức tín dụng, thì cũng không hợp lý khi kết luận
(như Jaffee và Russell 1976 đã làm) rằng sự độc quyền hoàn toàn của người cho vay
hàm ý rằng không có định mức tín dụng vì các lý do sau:
-

Ngay cả một người cho vay có quyền lực độc quyền hoàn toàn (người có thể
khai thác các mức cho vay nặng lãi hay tạm thời) cũng sẽ không thể duy trì một



10

-

Sự kém hiệu quả tài chính hậu nghiệm sau việc vay mượn.

Nếu xét đến việc mô hình hóa kinh tế chính thức thì các mô hình phân tích ban đầu về
định mức tín dụng với thông tin không hoàn hảo và sự bất định được Jaffee và Russell
đề xuất đầu tiên (1976). Tuy nhiên, những mô hình này phản ảnh các đặc trưng có liên
quan khác nhau theo một cách thức đơn giản hóa (và phải thừa nhận là các thị trường
cho vay thực tế rất khác với những thị trường được xem xét trong nghiên cứu của hai
tác giả này). Stiglitz và Weiss (1981) đã cơ cấu các mô hình mà họ cho là tối ưu đối
với người cho vay trong việc định mức tín dụng do các vấn đề của thông tin không
hoàn hảo giữa người cho vay và người đi vay. Trong số các đặc trưng có liên quan của
thị trường cho vay mà đã được khảo sát trong mô hình của họ bao gồm: sự nội sinh
của tính rủi ro của việc trả nợ vay so với lãi suất, và vai trò của chi phí thực thi. Trong
số những đặc trưng quan trọng của việc mô hình hóa cân bằng chính thức về thị trường
tín dụng là các đặc trưng sau:
-

Các tác động khuyến khích/không khuyến khích của lãi suất và chi phí giao
dịch trong việc kiếm được khoản vay;

-

Chi phí thực hiện của việc thu hồi khoản vay theo các khế ước và cơ chế cho
vay khác nhau;


Mệnh đề 1.3. Danh tiếng, sự tín nhiệm, khoản ký quỹ và các ngoại tác mạng luới tích
cực - tất cả đều đóng góp vào việc giảm đi chi phí giao dịch và gia tăng nhu cầu tín
dụng ở một mức lãi suất cho trước và phạm vi thời gian đã xác định trước cho việc trả
nợ vay. Trong một trong những nghiên cứu sau này tiếp bước công trình nghiên cứu
của Stiglitz và Weiss (1981) mà trong đó lãi suất là công cụ chính sách duy nhất cho
việc vận hành thị trường hay sự hiệu quả của nó, Besanko và Thakor (1987) đề xuất
rằng người cho vay phải cạnh tranh trong một không gian 4 chiều: nhân tố lãi suất, độ
lớn khoản vay, yêu cầu ký quỹ, và xác suất của việc cấp tín dụng. Berger và Udell
(1992) đã thách thức quan điểm rằng định mức tín dụng cân bằng tạo nên một tiến
trình kinh tế quan trọng.
Một nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Mỹ (dựa trên Điều tra của Cục Dự trữ Liên
bang về dữ liệu cho vay của ngân hàng trong giai đoạn 1977-1988) đã dẫn đến các kết
luận sau đây (Berger và Udell, 1992):
-

Lãi suất cho vay thương mại có mối liên hệ chặt chẽ với những thay đổi của lãi
suất thị trường mở, qua đó nói lên vai trò của định mức tín dụng cân bằng;
nhưng sự chặt chẽ này phát xuất từ các khoản cho vay đối với người đi vay có
cam kết (khoảng 50%), những người nhận được khoản vay theo những qui định
trong khế ước;

-

Các khoản cho vay được đảm bảo có lãi suất tương đối thấp hơn một chút so
với các khoản cho vay không được đảm bảo;

-

Số lượng của các khoản cho vay có cam kết mới cũng như các khoản cho vay
không cam kết tăng lên theo lãi suất thị trường mở; và

Tuy mới được thành lập từ năm 1988 và 1995, nhưng quy mô và mạng lưới hoạt động
của hai ngân hàng trên đã trải rộng trên khắp địa bàn cả nước.
Các khoản vay ưu đãi của Chính phủ cho hộ nông dân nghèo bắt đầu từ năm 1995
cùng với việc thành lập Quỹ vì người nghèo hoạt động thông qua NHNN&PTNT và
các ngân hàng thương mại nhà nước khác. Sau đó Quỹ này chuyển thành Ngân hàng
Việt Nam vì người nghèo (VBP) do NHNN&PTNT quản lý. VBP được thành lập như
một tổ chức phi lợi nhuận nhằm mục tiêu giảm nghèo thông qua việc cung cấp các
khoản vay không cần thế chấp và cho vay với lãi suất thấp cho người nghèo với mục


13

tiêu đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hoặc kinh doanh khác. Đến năm 2001, VBP
thành công trong việc tăng số lượng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo và nông dân. Tuy
nhiên, hoạt động của VBP cũng còn nhiều hạn chế do dưới quyền kiểm soát của
NHNN&PTNT nên hạn chế hiệu quả hoạt động, đặc biệt là khả năng giám sát việc sử
dụng vốn vay của hộ gia đình. Một trong những yếu tố quyết định tách rời VBP và
NHNN&PTNT vào thời điểm bấy giờ đó là tính bền vững của các sản phẩm tín dụng
có lãi suất thấp cho một nhóm nguy cơ cao, ngay cả nó hoạt động trên cơ sở phi lợi
nhuận. Trên cơ sở đó, NHCSXH được thành lập vào năm 2003, là ngân hàng duy nhất
cung cấp tín dụng dựa trên cơ sở các chính sách xã hội. Phương thức cho vay chủ yếu
thông qua 4 tổ chức đoàn thể gồm: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, và
Đoàn thanh niên. Các tổ chức này chịu trách nhiệm thành lập các nhóm tín dụng và tiết
kiệm, thành lập kênh chính để cung cấp vốn, đồng thời chịu trách nhiệm xác nhận các
hộ nghèo, giám sát và khuyến khích người vay sử dụng vốn vay đúng mục đích.
NHCSXH thực hiện việc giải ngân vốn, thu hồi khoản vay và quản lý các quỹ vay
được an toàn.
Một yếu tố quan trọng trong việc thành lập NHCSXH đó là tạo vị thế độc lập cho
NHNN&PTNT được hoạt động như một NHTM. NHNN&PTNT được thành lập từ
năm 1998 đã phát triển và trở thành nguồn tín dụng và tiết kiệm chính ở nông thôn

khả năng trả nợ trong đó trọng số lớn nhất là tập trung vào đặc điểm của hộ vay vốn.
Các yếu tố này là cơ sở để tác giả thiết kế thu thập thông tin và xây dựng mô hình
phân tích ở các bước tiếp theo của đề tài.
2.1.5. Yếu tố tác động đến tiếp cận tín dụng hộ gia đình nông thôn Việt Nam
Đánh giá của nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (DERG) của Đại học Copenhagen
(UoC) và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) năm 2012 về các yếu
tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam như sau:
Nông dân Việt Nam chủ yếu sống ở mức nghèo và phụ thuộc lớn vào sản xuất nông
nghiệp chịu tác động lớn từ tự nhiên. Do rủi ro sản xuất và chi phí giao dịch cao, các
ngân hàng thương mại có xu hướng từ chối các khoản vay của nông dân. Bên cạnh đó,
tín dụng chính thức thường yêu cầu có tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, nhà, tài sản cố định (khoảng 70% các khoản vay chính thức). Trong đó, đất
đai (đặc biệt là sổ đỏ) được sử dụng rộng rãi như tài sản thế chấp tại Việt Nam.
Đối với thị trường vốn vay bán chính thức, hầu hết người cho vay bán chính thức thiếu
khung pháp lý rõ ràng cho hoạt động của loại hình tín dụng này. Do đó, các tổ chức tín
dụng bán chính thức không có mối quan hệ với các tổ chức khác hoặc tiếp cận các thị


15

trường tín dụng nước ngoài hoặc huy động tiết kiệm. Chính điều này đã hạn chế những
người cho vay bán chính thức mở rộng hoạt động.
Đối với người nghèo, chế độ quản lý cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng
của họ (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2010). Mặc dù, các chính sách nhằm hỗ trợ người
nghèo và phát triển nông thôn, nhiều tổ chức tài chính và tín dụng như NHNN&PTNT
và NHCSXH có xu hướng mở rộng quy mô tín dụng. Tuy nhiên, những người nghèo
nhất chỉ muốn vay với quy mô nhỏ và theo mùa để vượt qua những cú sốc bất ngờ lại
bị từ chối. Hơn nữa, giới tính và độ tuổi tác của chủ hộ cũng có ảnh hưởng đáng kể,
với những chủ hộ già hơn thì ít có nhu cầu tín dụng hơn. Ngoài ra, một trong những
khác biệt như trình độ giáo dục có ảnh hưởng không đáng kể đến nhu cầu tín dụng. Về

số tác giả cho rằng, khả năng tiếp cận vốn của nông hộ dựa trên số lượng vốn vay
(Quách Thị Khánh Ngọc, 2012) hay hiệu quả sử dụng vốn vay (Bùi Văn Trịnh và cộng
sự, 2014; Binam J, N et. al, 2004), phần lớn các tác giả phân tích khả năng tiếp cận tín
dụng dựa trên khả năng vay được vốn hay không thông qua biến dummy với 2 lựa
chọn: vay được vốn và không vay được vốn (Vương Quốc Duy, 2014; Quach,
Mullineux, 2003; Bashir, 2008; Binam, 2004; Alious Diage, 1999). Mặc dù các biến
phụ thuộc được các tác giả lựa chọn khác nhau nhưng chủ yếu có thể gom thành 2
nhóm: nhóm đặc tính đặc thù của chủ hộ (tuổi, giới tính, trình độ…) và nhóm tài sản
(đất đai, thu nhập, năng suất sản xuất…).
Kết quả của một số nghiên cứu chính về các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng
của nông hộ như sau:
• Khảo sát của Quách Thị Khánh Ngọc (2012) cho rằng lượng vốn vay là cơ sở
đánh giá khả năng tiếp cận vốn của nông hộ và phụ thuộc vào 8 nhân tố chính
gồm: số lần vay tiền, mục tiêu đầu tư, diện tích đất thế chấp, giá trị tài sản, thu
nhập trước khi vay, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn và công việc hiện tại. Tác giả
sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xem xét ảnh hưởng của 8 yếu tố này đến
lượng vốn vay của hộ nông dân. Kết quả khảo sát 132 hộ nông dân trên địa bàn
huyện Hòn Đất và Tân Hiệp của tỉnh Kiên Giang cho thấy, hầu hết các nhân tố
đều đúng với kỳ vọng nghĩa là số lần vay tiền, mục tiêu đầu tư, diện tích đất thế
chấp, giá trị tài sản, thu nhập trước khi vay, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn càng
cao thì khả năng tiếp cận vốn càng cao. Tuy nhiên, vị trí công việc càng cao thì
số vốn vay được càng thấp. Điều này cho thấy, biến phụ thuộc không phản ánh
đúng thực tế là người có công việc ổn định thì khả năng vay vốn càng cao
nhưng nhu cầu vay vốn của họ có thể không cao.
• Tác giả Bùi Văn Trịnh và cộng sự (2014) cho rằng hiệu quả sử dụng vốn vay
mới phản ánh được khả năng tiếp cận vốn vay của nông hộ. Nhóm nghiên cứu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status