Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang - Pdf 26



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG




VŨ TÚ BANG PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG
TIẾP CẬN TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA HỘ NÔNG DÂN
SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hoà - 2015



PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC
TS. PHẠM THÀNH THÁI

Khánh Hoà - 2015
i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này là công trình nghiên cứu của
bản thân tôi. Các số liệu, tư liệu thu thập được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ
ràng, trung thực. Nội dung của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu tương tự nào.
Kiên Giang, ngày 02 tháng 03 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Tú Bang


Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên của các tổ chức tín
dụng, và các hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã giúp đỡ phối hợp
tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Kiên Giang, ngày 02 tháng 03 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Tú Bang iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii

iv
2.3 Tổng quan về thị trường tín dụng chính thức trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 30
2.3.1 Hệ thống các tổ chức tín dụng chính thức: 30
2.3.2 Dư nợ cho vay phục vụ lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của các tổ chức tín
dụng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2013: 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Mô hình hồi quy Binary Logistic 42
3.2 Mô hình hồi quy đa biến (MRA) 43
3.3 Các nhân tố đưa vào mô hình kiểm định: 44
3.4 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: 49
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 50
4.1 Kết quả kiểm định: 50
4.1.1 Mô tả mẫu: 50
4.1.2 Một số đặc điểm của các hộ quan sát: 50
4.2 Kết quả phân tích hồi qui Binary Logistic 56
4.2.1 Phân tích các kiểm định: 56
4.2.2 Thảo luận kết quả hồi qui nhị phân: 58
4.3 Kết quả phân tích hồi qui đa biến: 62
4.3.1 Phân tích các kiểm định: 62
4.3.2 Thảo luận kết quả hồi qui đa biến: 64
4.4 Một số khuyến nghị nhằm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay chính thức của hộ
nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 67
4.4.1 Đối với nhân tố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ (GCNQSH) 67
4.4.2 Đối với nhân tố diện tích đất sản xuất của hộ (Dientichdat): 68
4.4.3 Đối với nhân tố trình độ học vấn của hộ (Hocvanchuho): 68
4.4.4 Đối với nhân tố Khoảng cách (Khoangcach): 68
4.4.5 Khuyến nghị khác: 69

Bảng 4.1: Đặc điểm hộ quan sát 50
Bảng 4.2: Tình hình sản xuất của hộ nông dân 52
Bảng 4.3: thông tin về tình hình vay vốn của hộ 53
Bảng 4.4: Khó khăn hộ dân khi vay vốn 55
Bảng 4.5: Các biến trong mô hình (Variables in the Equation) 56
Bảng 4.6: Phân loại dự báo (Classification Table
a)
57
Bảng 4.7: Kiểm định Omnibus đối với các hệ số của mô hình (Omnibus Tests of
Model Coefficients) 57
Bảng 4.8: Mô phỏng xác suất hộ có vay tín dụng chính thức thay đổi. 58
Bảng 4.9: Tóm tắt mô hình (Model Summary
b
) 62
Bảng 4.10: Phân tích phương sai (ANOVA
b
) 62
Bảng 4.11: Hệ số hồi qui của mô hình phụ (Coefficients
a)
63
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định Harvey 63
Bảng 4.13: Hệ số hồ qui (Coefficients
a)
64
Bảng 4.14: Ví trí quan trọng của các yếu tố 66
vi
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

cận nguồn vốn chính thức cho nông dân, hiện nay Nhà nước đã khuyến khích phát
triển các hệ thống tín dụng chính thức cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn rộng khắp
cả nước, mạng lưới hoạt động đã đến tận cấp huyện thậm chí là cấp xã.
Như ta đã biết vốn là một yếu tố khởi đầu cũng là yếu tố quyết định đối với quá
trình sản xuất kinh doanh của hộ nông dân. Vốn được xem như là một yếu tố đầu vào
đặc biệt quan trọng của sản xuất. Vốn không chỉ là cơ sở để người nông dân mở rộng
quy mô sản xuất mà còn góp phần đáng kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, áp dụng
khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá sản xuất. Nếu như không có vốn thì không thể mua
được nguồn giống có chất lượng, không thể đầu tư máy móc kỹ thuật mở rộng sản
xuất, Vì vậy để ngành sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, cuộc sống của hộ
nông dân được cải thiện thì vấn đề cấp thiết đặt ra là làm thế nào để người nông dân
tiếp cận được với nguồn tín dụng, đặc biệt là nguồn tín dụng chính thức. Vì đây là
nguồn tín dụng giá rẻ, có lãi suất cho vay thấp và phù hợp với tình hình sản xuất kinh
doanh của các hộ nông dân.
Theo báo cáo sơ kết 05 năm việc thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của
Trung Ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chi nhánh tỉnh Kiên Giang tổng kết ngày 24/06/2013 thì việc cấp tín dụng từ các tổ
chức tín dụng chính thức cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh tuy có mang lại được
một số hiệu quả tích cực trong việc giúp cho các hộ nông dân tiếp cận được nguồn tín
dụng chính thức giá rẻ để phục vụ sản xuất. Tuy nhiên việc tiếp cận nguồn vốn của các
hộ nông dân từ các tổ chức này vẫn còn rất hạn chế, lượng vốn vay được chưa thực sự
thỏa mãn hết nhu cầu vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các hộ
nông dân trên địa bàn, đặc biệt là nhu cầu vốn mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất
nông nghiệp.
2
Xuất phát từ thực tiễn và khả năng thực hiện, tác giả chọn đề tài "Phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân

3
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được chia làm 02 giai đoạn:
- Phương pháp định tính: nghiên cứu cơ sở lý thuyết, các tài liệu nghiên cứu
trước kết hợp với việc trao đổi với các chuyên gia tín dụng về lĩnh vực cho vay hộ
nông dân để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận chính thức của các hộ
nông dân.
- Phương pháp định lượng: sau khi xác định được các nhân tố kỳ vọng từ
phương pháp định tính, tác giả tiến hành thiết lập bảng câu hỏi khảo sát. Sau đó lựa
chọn mô hình hồi quy thích hợp để xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của mỗi
yếu tố đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng
vốn vay chính thức của hộ nông dân sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh.

Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời
trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông nghiệp cũng là
ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất
nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với
những phương pháp canh tác, lề lối, tập quán, đã có từ hàng nghìn năm nay.
Một số đặc trưng của nông nghiệp Việt Nam: Trần Tiến Khai (2007)
5
- Quỹ đất nông nghiệp đã được khai thác tối đa, nông nghiệp tăng trưởng chủ
yếu theo chiều rộng và đã đến mức tới hạn.
- Do nhiều nguyên nhân khác nhau, dân cư được phân bổ chênh lệch giữa các
vùng nông nghiệp và vùng sinh thái. Ngoài ra, cây trồng cũng được phân bố theo vùng
sinh thái, một mặt, dẫn đến sự chuyên môn hóa trong canh tác nông nghiệp, mặt khác
dẫn đến tình trạng chênh lệch trong cơ hội tìm kiếm thu nhập hoặc chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp của nông dân giữa các vùng và phân hóa cơ hội kinh tế giữa nông dân ở
các vùng khác nhau.
- Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nhìn chung
thấp vì trình độ khoa học công nghệ sản xuất thấp. Ở Việt Nam, đã xác định một số
mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh khá trên thị trường thế giới như gạo, cà
phê, cao su, nhân hạt điều, hồ tiêu, chè, thủy sản và đồ gỗ. Ngược lại, một số mặt hàng
có khả năng cạnh tranh thấp như thịt, trứng, rau quả, ngô. Nhiều mặt hàng nông sản
không có khả năng cạnh tranh như sữa, đậu nành, lạc, mía đường, bông vải.
- Do khả năng tài chính quốc gia còn hạn chế, mức đầu tư cơ sở hạ tầng nông
nghiệp nông thôn còn kém; đầu tư cho nông lâm thủy sản còn thấp và chưa tương
xứng với tiềm năng và đóng góp của ngành đối với nền kinh tế quốc gia.
- Hệ thống kinh doanh nông sản chỉ đang bắt đầu phát triển và tập trung vào
một số ngành truyền thống hoặc có lợi nhuận cao như lúa gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu,

không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.”
Như vậy, nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được
hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân sự tương đối thấp;
lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy, lối
sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư
thành thị. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt
Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Ở Việt Nam, cho đến năm
2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn.
Một số đặc trưng của nông thôn Việt Nam:
- Dân cư là nông dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi)
chiếm tỷ trọng lớn. Dân cư nông thôn Việt nam chủ yếu là nông dân trồng lúa nước.
Sản xuất trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Giai cấp nông dân và dân cư nông
thôn luôn phải đấu tranh khắc phục những hậu quả thiên tai như gió bão, hạn hán,…
- Mật độ dân cư thấp, sống gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên.
- Tính liên kết cộng đồng cao. Ngoài sự gắn bó thông qua quan hệ làng xã, cư
dân nông thôn còn gắn bó nhau thông qua quan hệ thân tộc, dòng họ. Cộng đồng dân tộc
Việt Nam bao gồm cả cộng đồng dân cư nông thôn là cộng đồng đa sắc tộc và đa tôn giáo.
Đây là cộng đồng dân cư có truyền thống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
7
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn yếu kém so với đô thị, được đầu tư ít và dàn
trải (điện, đường, trường, trạm), đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất nông
nghiệp;
- Các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp chưa phát triển;
- Các ngành công nghiệp chế biến nông sản chưa phát triển;
- Cơ cấu thu nhập ở nông thôn chủ yếu vẫn là từ nông nghiệp. Thiếu cơ hội cho
ngành nghề phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến thực

kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn.
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Nông hộ là những hộ chủ yếu hoạt động theo
nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Như vậy mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng khái niệm về nông hộ có
những điểm sau đây: là những hộ nông dân sống ở vung nông thôn, có ngành nghề sản
xuất chính là nông nghiệp, là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là
một đơn vị tiêu dùng.
1.1.4 Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông hộ
a. Đặc điểm của kinh tế nông hộ:
- Kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt. Đất đai thường bị giới
hạn về diện tích không thể tăng thêm, nhưng độ phì trong đất có thể tăng, nếu con
người biết khai thác sử dụng hợp lý sẽ tạo khả năng tăng năng suất không ngừng.
- Kinh tế nông hộ có tính thời vụ: Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của
kinh tế nông hộ, đặc biệt là ngành trồng trọt do thời gian lao động không trùng với thời
gian sản xuất của các loại cây trồng. Bên cạnh đó, tính thời vụ này cũng do sự biến đổi
của thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng khác nhau.
- Kinh tế nông hộ phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: Kinh tế nông hộ phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai và khí hậu. Đặc điểm này bắt nguồn
từ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi. Chúng chỉ có thể tồn
tại và phát triển được khi có đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh
sáng, không khí và chất dinh dưỡng. Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với
nhau trong một thể thống nhất
- Kinh tế nông hộ có khả năng sử dụng hợp lý lao động và tạo việc làm ở nông
thôn. Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ. Hộ vừa điều hành
quản lý, vừa trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Do sản xuất nông nghiệp mang
tình thời vụ , nên lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 40% quỹ thời gian.
- Kinh tế nông hộ có khả năng tự điều chỉnh cao. Việc điều chỉnh giữa tích lũy,
tiêu dùng và đầu tư phát triển sản xuất thường được quyết định theo các mục tiêu của
hộ. Do là đơn vị sản xuất gọn nhẹ, linh hoạt, lại làm chủ hoàn toàn quá trình sản xuất

- Cung cấp phần lớn lượng lương thực cho tiêu thụ nội địa và đảm bảo an ninh
lương thực.
- Cung cấp phần lớn nông sản xuất khẩu, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
- Cung cấp nguyên liệu quan trọng cho chế biến và chăn nuôi.
- Nền tảng, đơn vị cơ bản của kinh tế trang trại.
- Tích lũy tư bản, thặng dư và tái đầu tư cho nông nghiệp.
10
1.2 Khái quát về tín dụng và tín dụng nông thôn:
1.2.1 Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng
hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng
được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ
tư hữ về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng
hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật -
hàng hóa. Về sau, tín dụng tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ
theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia
Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc
hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một khoản thời gian nhất định. Người đi vay
có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã đi vay khi đến hạn trả nợ không kèm
hoặc có kèm một khoản lãi. Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng
các nguồn vốn tạm thời nhãn rỗi để phát triển sản xuất kinh doanh.
Thực chất tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liển với quá trình tạo lập
và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình
tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
Như vậy, tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự
phát triển, với các mối quan hệ cung cầu về vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của

tốn kém (chi phí giao dịch cao). Để khắc phục những nhược điểm này, họ áp dụng
những thủ tục rắc rối cộng với những quy định nghiêm ngặt như yêu cầu thế chấp của
các định chế chính thức khiến cho rất nhiều đối tượng cần vay vốn ở nông thôn không
tiếp cận được với tín dụng chính thức. Do đó, các định chế tài chính chính thức thường
thích giao dịch với khách hàng lớn có nhu cầu tín dụng lớn, không chú trọng đến các
doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ, các hộ gia đình thu nhập thấp, các nông dân
không có đất. Ngoài ra, các định chế tín dụng chính thức thường tập trung vào thành
thị, hạn chế nhu cầu tín dụng của người dân ở nông thôn.
Thiếu vốn buộc người dân ở nông thôn tìm đến bà con, bạn bè, láng giềng,
người cho vay nặng lãi, chủ đất, các hội tiết kiệm-tín dụng tự phát, những hội tương
trợ , đây là khu vực tín dụng phi chính thức. Tại các vùng nông thôn của những nước
đang phát triển, khu vực phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết
nhu cầu tín dụng rất cụ thể và thiết thực của người dân, như vốn để sản xuất nhỏ, vay
ăn giáp hạt, trang trải những chi tiêu đột xuất trong gia đình. Ở một số vùng, đây là
nguồn tín dụng duy nhất dành cho người nghèo. Nhìn chung, tín dụng phi chính thức
góp phần giúp nông dân đối phó kịp thời những tình huống cấp bách như mất mùa,
mất việc, bệnh tật hay ma chay trong gia đình.
12
So với khu vực chính thức, khu vực phi chính thức có nhiều đặc điểm phù hợp
với người nghèo ở nông thôn như: gần gũi với nông hộ, nằm ngay trong ấp/thôn; hoạt
động linh hoạt, các điều khoản tín dụng đáp ứng nhu cầu cụ thể và tương xứng với khả
năng của từng khách hàng; thủ tục giao dịch đơn giản gọn nhẹ, ít phiền hà; quy tắc dễ
hiểu và dễ thực hiện; tín dụng nhanh chóng đến tay người có nhu cầu vay vốn; các giao
dịch chủ yếu dựa vào chữ tín, quan hệ cá nhân giữa người cho vay và người đi vay.
Tuy nhiên, tín dụng phi chính thức cũng có nhiều hạn chế và nhược điểm, nhất
là lãi suất rất cao, có khi lên đến 5-10% / tuần, hay 10-20% / tháng; kèm theo những
ràng buộc như mua nguyên vật liệu, hàng hóa tiêu dùng, hoặc bán sản phẩm hay sức

thương lái bán chịu hàng hóa, chủ cửa hàng cầm đồ hoặc nhóm hợp tác tín dụng tự
nguyện (hụi, họ , phường). Chủ thể vay vốn trên thị trường này thường là những người
khó tiếp cận với thị trường tín dụng chính thức và thị trường tín dụng bán chính thức
hoặc đã tiếp cận được nhưng chưa thỏa mãn nhu cầu về lượng vốn cần thiết.
Như vậy, hệ thống thị trường tín dụng nông thôn được hình thành bởi các thị
trường tín dụng bộ phận: Thị trường tín dụng chính thức, thị trường tín dụng bán chính
thức, thị trường tín dụng phi chính thức. Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại của
các thị trường trên là tất yếu. Cả 03 thị trừng tín dụng tác động qua lại lẫn nhau, cạnh
tranh nhau trong cung cầu vốn tín dụng ở nông thôn. Trong đó thị trường tín dụng
chính thức và thị trường tín dụng bán chính thức hoạt động có sự đảm bảo của luật
pháp. Do đó khả năng phát triển của 02 loại thị trường này rất mạnh góp phần cung –
cầu vốn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội ở - nông thôn. Trái lại thị trường tín
dụng phi chính thức hoạt động dựa vào lòng tin; tính bền vững trong quan hệ cung cầu
vốn yếu.
1.2.3 Vai trò của tín dụng trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn:
- Tín dụng nông thôn góp phần thúc đẩy thị trường tài chính nông thôn: Đầu tư
vốn phát triển nông nghiệp – nông thôn báo gồm nhiều định chế khác nhau: Chính
thức, bán chính thức, phi chính thức Tuy nhiên vai trò chủ lực vẫn thuộc về định chế
tài chính chính thức.
- Hoạt động tín dụng nông thông đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập
trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn. Bởi lẽ
khi có vốn, người nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng
năng suất, tăng sản lượng, hạ gái thành sản phẩm….Trên cơ sở đó, họ có khả năng dễ
dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn.
- Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác các tiềm năng về đất đai, lao động và
tài nguyên thiên nhiên. Tiềm năng về phát triền nông thôn nước ta rất lớn, Chính sách
tín dụng nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức thì sẽ khai thác và phát huy có hiệu
quả các tiềm lực ở nông thôn. Hàng hóa nông sản sẽ phong phú hơn đáp ứng tốt hơn
cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước.
14

biệt giữa nông thôn và thành thị.
1.2.4 Khái quát về lý thuyết tín dụng nông hộ
Các chính sách tài chính nông thôn cổ điển dựa trên các giả định sau:
- Những hộ nghèo thường bị giới hạn khả năng tiết kiệm.
15
- Khi nguồn cung cấp tín dụng bị hạn chế, các nông hộ phải đi vay từ các tổ
chức phi chính thức và chịu mức lãi suất cao hơn bình thường. Lúc này sẽ dẫn đến tình
trạng ngày càng khó khăn của các hộ nông dân do số tiền lãi phải trả ngày càng tăng.
- Việc thừa nhận các khoản vay của các tổ chức tín dụng chính thức được xem
là một sự trợ giúp để hạn chế sự bóc lột của những người cho vay lãi suất cao.
- Lãi suất là nhân tố quyết định trong việc đi vay vì nó góp phần tạo ra chi phí
đi vay.
- Các tổ chức tài chính có những nguồn quỹ có hạn mức và trực tiếp để thực
hiện các mục tiêu hoạt động cho các nhóm khách hàng bằng cách giám sát chặt chẽ,
bằng tài trợ các khoản vay và bằng những công cụ khác.
- Vì tín dụng tiêu dùng hầu như không có nên những nhà cho vay chính thức
không cung cấp những khoản vay ngoài sản xuất.
a. Phương pháp tiếp cận cổ điển
Tại các nước đang phát triển, thị trường không hoàn hảo hạn chế vai trò của các
trung gian tài chính trong thị trường vốn. Phương pháp tiếp cận cổ điển cho rằng thu
nhập thấp làm giới hạn tiềm năng tiết kiệm ở các nước đang phát triển vì thế vai trò
của chính phủ trong tiết kiệm, tạo tín dụng và cấp vốn cho những nơi được ưu tiên trở
nên rất quan trọng.
Về nhu cầu, tín dụng được coi là đầu vào trong sản xuất và việc không có sẵn
vốn là nguyên nhân của sự trì trệ, chậm tăng trưởng và làm giới hạn cơ hội đầu tư.
Biểu hiện sinh lợi của nền nông nghiệp ở nước đang phát triển nói riêng phụ thuộc vào
khả năng sản xuất, sản lượng mức thu nhập sẽ bị chậm lại vì thiếu cung tín dụng.

cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Trung ương. Kết quả là, những Tổ chức tín
dụng này trở thành kênh duy nhất của Chính phủ mà không thể huy động được những
nguồn tiết kiệm nông thôn.
Thông qua các cơ hội đầu tư sẵn có trong nền nông nghiệp cổ điển, những
nguồn tiết kiệm luôn được cần đến để đầu tư với lợi nhuận cao – vượt xa mức lãi suất
thực. Kỹ thuật hiện đại được nhận định là không thể chia sẻ hết được. Người nông dân
với một lượng nhỏ quỹ đầu tư có thể mua kỹ thuật lạc hậu và tất nhiên lợi nhuận thu về
của họ sẽ thấp. Ngược lại nếu anh ta đủ vốn, anh ta sẽ tiếp cận kỹ thuật hiện đại, tiên
tiến và lợi nhuận thu được sẽ cao hơn. Vì vậy mà lãi suất cao sẽ khuyến khích người
gửi tiền mà không kìm hãm đầu tư.
Trong bất kỳ trường hợp nào, mức lãi suất thấp và không công bằng sẽ gây ra
những ảnh hưởng nghiêm trọng trong chỉ định nguồn cung ứng. Chính sách lãi suất
thấp dẫn đến nhu cầu về các khoản vay, tạo nên áp lực về đầu cơ và buộc phải đưa ra
các cơ chế không định giá. Điều này làm các ngân hàng cung cấp “tín dụng rẻ” nhưng
lại không rẻ chút nào khi xem xét tất cả các chi phí khác. Mặc dù lãi suất danh nghĩa
có thể thấp nhưng chi phí tiền mặt và chi phí cơ hội của người vay trong suốt thời gian
thực hiện thủ tục vay vốn sẽ là rất cao. Tín dụng lãi suất thấp cũng dẫn đến tình trạng
17
những khách hàng lớn nhận được những khoản vay lớn và khách hàng nhỏ nhận được
một khoản vay hạn chế với tiến độ giải ngân chậm chạp. Do đó, sẽ có những nhóm đầu
cơ các nguồn tài trợ này. Với mức lãi suất bắt buộc, các tổ chức tài chính quan hệ với
những hộ vay nhỏ và các khách hàng có rủi ro cao hơn. Tín dụng lãi suất thấp cũng mở
cánh cửa mới cho những kẻ tìm kiếm cơ hội để trở thành những kẻ chuyên cho vay
hay “tín dụng độc quyền” lãi suất ngân hàng thấp hơn lãi suất thị trường đã loại trừ
Chính phủ ra khỏi thị trường, điều này không chỉ dẫn đến thị trường hoạt động kém
hiệu quả và bị xuyên tạc mà còn cản trở việc vay vốn của người nghèo và tăng cơ hội
cho tham nhũng, quan liêu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status