BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG VÀ
CHÊNH LỆCH THAM NHŨNG ĐẾN NGUỒN VỐN FDI
VÀO CÁC NƢỚC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG VÀ
CHÊNH LỆCH THAM NHŨNG ĐẾN NGUỒN VỐN FDI
VÀO CÁC NƢỚC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN TIẾN KHAI
2.1.2. Khái niệm tham nhũng ........................................................................................ 7
2.2. Các lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa FDI và tham nhũng ........................ 9
2.2.1. Lý thuyết về chi phí giao dịch ............................................................................. 9
2.2.2. Lý thuyết về mô hinh OLI .................................................................................. 10
2.2.3. Thể chế quốc gia và tham nhũng ...................................................................... 13
2.2.4. Lý thuyết về khoảng cách thể chế ..................................................................... 14
2.2.5. Lý thuyết về khoảng cách tham nhũng và FDI ................................................. 15
2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm về tham nhũng và FDI ......................................... 17
2.3.1. Mối liên hệ giữa tham nhũng và FDI ............................................................... 17
2.3.2. Mối liên hệ giữa chênh lệch tham nhũng và FDI ............................................. 20
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 24
3.1. Mô hình nghiên cứu .............................................................................................. 24
3.2. Mẫu, dữ liệu và kỳ vọng dấu ........................................................................... 25
3.2.1. Mẫu nghiên cứu ................................................................................................ 25
3.2.2. Dữ liệu, mô tả biến và kỳ vọng dấu .................................................................. 25
3.2.3. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................... 31
3.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 32
3.4. Quy trình nghiên cứu ............................................................................................. 35
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 37
4.1. Đánh giá tổng quan thực trạng tham nhũng và dòng vốn FDI vào các nước khu
vực Đông Nam Á ........................................................................................................... 37
4.1.1. Nguồn vốn FDI trong khu vực Đông Nám Á .................................................... 37
4.1.2. Thực trạng tham nhũng của các nước trong khu vực Đông Nam Á ................. 42
4.2. Thống kê mô tả ....................................................................................................... 44
4.3. Kết quả kinh tế lượng: ........................................................................................... 46
CHƢƠNG 5 : KẾT LUẬN .............................................................................................. 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................... 61
PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 69
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CPI
Corruption Perceptions Index
Chỉ số cảm nhận tham nhũng
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM
Fixed Effects Model
Mô hình hiệu ứng cố định
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ Quốc Tế
MNEs
Multinational enterprises
Tổ chức minh bạch quốc tế
Trans-Pacific Partnership
Agreement
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương
UNCTAD
United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương
mại và Phát triển
UNDP
United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển Liên Hợp
Quốc
TI
TTP
Đô La Mỹ
USD
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Giả thuyết của bài nghiên cứu
Hình 3.2 Lưu đồ quy trình nghiên cứu
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ thể hiện lượng FDI vào khu vực Đông Nam Á qua các năm từ 2001
đến 2012
Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện chỉ số tham nhũng của các nước qua các năm từ 2001 đến
2012
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa tham nhũng, chênh lệch tham nhũng và nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ở khu vực Đông Nam Á giai đoạn 20012012. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng
ngẫu nhiên (REM) cho bộ dữ liệu bảng đến từ chín quốc gia: Campuchia, Indonesia, Lào,
Malaysia, Myanmar, Philipin, Singapore, Thái lan và Việt Nam. Kết quả cho thấy tham
nhũng tại các nước nhận đầu tư có tác động tích cực đến lượng vốn FDI chảy vào. Đồng
thời, bài nghiên cứu cũng không tìm thấy mối liên hệ giữa chênh lệch tham nhũng giữa
nước đầu tư và nước nhận đầu tư đến lượng vốn FDI thu hút.
Qua nghiên cứu này, tác giả hy vọng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm để các nhà
hoạch định chính sách tham khảo để đưa ra các quyết định thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở từng giai đoạn. Trong giai đoạn này, tham nhũng có thể đóng vai trò tích
cực, nhưng giai đoạn khác, tham nhũng lại đóng vai trò kiềm hãm dòng chảy đầu tư vào
các nước khu vực Đông Nam Á.
2
rất được quan tâm hiện nay. Có nhiều nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này như nghiên
cứu của Habib và Zurawicki (2002), Eden và Miller (2004), Rose- Ackermamn (2008),
3
Godinez và Liu (2013). Các nghiên cứu trả lời cho câu hỏi nước đầu tư có mức độ tham
nhũng thấp hơn nước nhận đầu tư và ngược lại thì có ảnh hưởng đến dòng vốn FDI chảy
vào các nước nhận đầu tư hay không.
Đông Nam Á có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng trên thế giới, khu vực này nằm
trên tuyến đường biển vận tải quan trọng, kết nối các quốc gia phát triển của Châu Âu với
các quốc gia như Nhật Bản, Trung quốc, Hàn quốc. Cùng với đó là nguồn tài nguyên
thiên nhiên đồi dào cũng như giá nhân công rẻ đã khiến Đông Nam Á trở thành một điểm
thu h t các nhà đầu tư nước ngoài đến tìm kiếm trị thường đầu tư cũng như tiêu thụ.
Trong những năm gần đây, xu hướng của chuyển dịch của dòng vốn FDI chuyển dần về
khu vực Đông Nam Á. Năm 2010 tổng lượng FDI chảy vào khu vực này là 105 tỷ (chiếm
9,9% lượng FDI inflows toàn cầu , năm 2011 giảm nhẹ còn 93,5 tỷ (chiếm 18,13% FDI
inflows toàn cầu và năm 2012 tăng mạnh trở lại 108 tỷ (chiếm 14% lượng FDI inflows
toàn cầu . Đặc biệt, trong năm 2010, 82% lượng FDI tăng trên thế giới chảy vào khu vực
châu Á thì trong đó hơn một phần hai là chảy vào khu vực Đông Nam Á. Tương tự năm
2013, 49% lượng FDI tăng trên thế giới chảy vào khu vực châu Á, thì gần 56,5% số đó
chảy vào khu vực Đông Nam Á. Điều này đã củng cố hơn nữa nhận định khu vực Đông
Nam Á là điểm đến mới cho dòng chảy của FDI.
Mặc khác, theo đánh giá của tổ chức minh bạch quốc tế (TI), những nước thuộc khu vực
Đông Nam Á trừ Singapore) có mức độ tham nhũng khá cao. Trong giai đoạn từ năm
2001 đến năm 2012, chỉ số cảm nhận tham nhũng của khu vực trung bình này là 3,63/10
(0 điểm là tham nhũng cao, 10 điểm là trong sạch). Tổ chức minh bạch quốc tế đã đưa ra
lời cảnh báo về tình trạng tham nhũng này có thể ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển kinh
tế của mỗi nước trong khu vực. Như vậy, liệu có mối quan hệ nào giữa tình trạng tham
nhũng và dòng chảy FDI vào các nước ở khu vực Đông Nam Á không?
Tuy nhiên số liệu của các quốc gia này chưa đầy đủ để phục vụ cho nghiên cứu nên tác
giả chỉ lựa chọn 9 quốc gia kể trên.
1.4. Ý nghĩa bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu góp phần củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của tham
nhũng của nước nhận đầu tư và sự chênh lệch tham nhũng giữa nước đầu tư và nước nhận
đầu tư đến việc thu hút nguồn vốn FDI của các nước trên thế giới.
5
1.5. Phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: thực hiện nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng, sử dụng các
phương pháp kiểm định nhằm kiểm soát các khiếm khuyết trên mô hình hồi quy, từ đó lựa
chọn phương pháp kiểm soát các vấn đề khiếm khuyết tồn tại nhằm đưa ra kết quả định
lượng tin cậy.
Bài nghiên cứu sử dụng phầm mềm Stata để định lượng nhằm kiểm định mối quan hệ
giữa tham nhũng, chênh lệch tham nhũng các nước đầu tư và nhận đầu tư với nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước nhận đầu tư dưới sự kiểm soát các biến thể chế và
môi trường kinh tế vĩ mô.
Dữ liệu: Dữ liệu của bài nghiên cứu được lấy từ nguồn của các tổ chức quốc tế đáng tin
cậy như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức minh bạch quốc tế (IT), Quỹ di sản Thế giới
(Heritage Foundation), Liên Hiệp Quốc (UNDP), Hiệp hội Thương mại và Phát triển Liên
hợp quốc (UNCTAD).
1.6. Cấu trúc bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được cấu trúc thành 5 phần. Phần 1 giới thiệu tổng quan các vấn đề trong
bài nghiên cứu: lí do chọn đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bố cục của bài
nghiên cứu. Phần 2 trình bày tổng quan các tài liệu có liên quan đến nguồn vốn FDI,
tham nhũng và chênh lệch tham nhũng, mối liên hệ giữa các yếu tố trên với nhau cũng
như các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ của các biến tham nhũng và các nhân tố
trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế
nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Một cách định nghĩa khác cũng được đưa ra ởi Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO).
Theo đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước nước đầu tư
có tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương
diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn
trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh
doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là ―công ty mẹ‖ và các
tài sản được gọi là ―công ty con‖ hay ―chi nhánh công ty‖.
Ngoài ra, theo Luật Đầu Tư 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đầu
tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư ỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để
thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Như vậy, tổng quát lại có thể định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này
vào một nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh. Cá nhân hay công ty
nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này với mục tiếu tối đa
hóa lợi nhuận.
2.1.2. Khái niệm tham nhũng
Tương tự như khái niệm FDI nêu ở trên, khái niệm tham nhũng cũng được định nghĩa
theo nhiều cách khách nhau. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc Tế TI , tham nhũng là lợi
8
dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng
quyền hành để lấy cắp của công. Tham nhũng và tham ô là hệ quả tất yếu của nền kinh tế
kém phát triển, quản lý kinh tế xã hội lỏng lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành
vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một
phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế. Theo định nghĩa trên thì tham
một cách bất hợp pháp. Lại quả chi tiền cho các nhân vật có tác động sau khi một giao
dịch được thực hiện. Sở hữu của nhà nước là chính sách hoặc quy chế của chính phủ chịu
tác động của một nhóm tham nhũng.
Đối với Việt Nam, theo Luật Phòng chống tham nhũng 2005 , tham nhũng được phân
loại theo hành vi. Theo đó, các hành vi tham nhũng gồm những hành vi như sau: tham ô
tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì
vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền
hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối
lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công
việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện
nhiệm vụ, công vụ vì vự lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để ao che cho người có hành
vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh
tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Như vậy, tham nhũng là một trong những khái niệm có rất nhiều cách định nghĩa và việc
định nghĩa khái niệm này rất khó vì những vấn đề kéo theo của nó. Trên thế giới và Việt
Nam đã có rất nhiều bài nghiên cứu để tìm hiểu về nguyên nhân, nguồn gốc, những mặt
có lợi và có hại cũng như tác động của tham nhũng đến kinh tế, chính trị và xã hội của
một quốc gia, trong đó có tác động của tham nhũng đến FDI. Phần tiếp theo sẽ trình bày
các lý thuyết nền tảng để hỗ trợ cho mối quan hệ giữa tham nhũng và dòng vốn FDI.
2.2. Các lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa FDI và tham nhũng
2.2.1. Lý thuyết về chi phí giao dịch
Khái niệm chi phí giao dịch đầu tiên được Ronald Coase đề cập trong bài viết nổi tiếng
năm 1937 của mình với tựa đề ―Bản chất của doanh nghiệp.‖ Ông đặt ra câu hỏi các lý
thuyết kinh tế nhấn mạnh đến vai trò hiệu quả của cơ chế thị trường cạnh tranh, nhưng tại
sao quá nhiều hoạt động kinh tế lại diễn ra ngoài phạm vi của hệ thống giá của thị trường.
Ông kết luận rằng phải tồn tại một chi phí trên thị trường mà chỉ có cơ cấu doanh nghiệp
10
mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của
Chính phủ
11
-
Lợi thế về nội bộ hoá (Internalisation advantages – I): Bao gồm giảm chi phí ký kết,
kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao
cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế.
Theo lý thuyết OLI thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãn trước khi có FDI.
Lý thuyết cho rằng: những nhân tố ―đ y‖ ắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra
nhân tố ―k o‖ đối với FDI. Những lợi thế này không cố định mà biến đổi theo thời gian,
không gian và sự phát triển nên luồng vào FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ
khác nhau. Sự khác nhau này còn bắt nguồn từ việc các nước này đang ở ước nào của
quá trình phát triển.
Những tiền đề chính của mô hình là công ty đa quốc gia phát huy lợi thế cạnh tranh O tại
đất nước của họ và sau đó chuyển ra nước ngoài nơi họ có thể khai thác (dựa vào lợi thế
địa điểm L) thông qua FDI, nó cho phép các công ty đa quốc gia tiếp thu tương tự quyền
sở hữu O (Rugman, 2010; Dunning, 1981).
Mô hình OLI bao quát một loạt các biến kinh tế và xã hội; Cụ thể, chi phí kinh tế gây ra
bởi khoảng cách địa lý bao gồm vận chuyển và thuế và chi phí xã hội phát sinh từ việc
không quen biết, rủi ro quan hệ và phân biệt đối xử mà các công ty nước ngoài đối mặt ở
nước sở tại. Tuy nhiên, các chi phí kinh tế liên quan hiện nay đã giảm với sự phát triển
của công nghệ thông tin hiện đại và toàn cầu hóa. Mặt khác, chi phí xã hội ngày càng
được nhấn mạnh trong các nghiên cứu về chi phí hoạt động ở nước ngoài (LoF1). Các rủi
ro liên quan đến LoF đều dựa trên lý thuyết thể chế và sử dụng khái niệm về khoảng cách
thể chế (Driffield & cộng sự, 2013; Dunning, 1993; Eden & Miller, 2004; Zaheer,1995,
chỉ số chi phí/lợi nhuận nó sẽ cản trở các nhà đầu tư nước ngoài nếu chi phí thương lượng
tiềm n vượt quá lợi nhuận của nó (Rose-Ackerman, 2008 . Điều này cho thấy rằng trong
khi một số công ty không có kinh nghiệm đối phó với tham nhũng ở trong nước của mình
có thể là một bất lợi khi hoạt động ở những nước có tham nhũng cao, mà điều này có thể
không đ ng đối với những công ty quen hoạt động ở trong nước tham nhũng cao. Công ty
đa quốc gia có kiến thức xử lý trong môi trường tham nhũng ở nước của mình có thể được
khuyến khích bằng OAs và sẵn sàng đầu tư vào các địa điểm tương tự. Vì vậy, khi phân
tích tham nhũng ảnh hưởng đến FDI như thế nào, điều quan trọng là phải biết rằng nếu
một số công ty có các kiến thức về chiến lược đối phó với tham nhũng ở nước nhà thì họ
có thể tái triển khai ở nước ngoài mà không tốn chi phí cao.
-
Thành phần L:
Một yếu tố quan trọng trong mô hình OLI của Dunning là lợi thế nội địa hóa L trong nước
nhận đầu tư. Công ty đa quốc gia xác định nơi hoạt động ở nước ngoài mà chi phí hoạt
động được tối thiểu trong khi đó các công ty nội đia hoạt động ở nước ngoài để giảm chi
phí bắt nguồn từ việc không chắc chắn (Wang & cộng sự, 2012a, 2012b). Tuy nhiên, các
nhà phê bình lý thuyết Dunning lập luận rằng phần L của mô hình quá tập trung vào thuộc
tính vật lý của địa điểm nước ngoài và không tính đến địa điểm thể chế của nó. Nhận thức
13
được việc thiếu nội dung thể chế trong mô hình, Dunning (1998) mở rộng hơn cho địa
điểm bằng cách bổ sung rủi ro chính trị, chính sách, quy định, khác biệt văn hóa và tỷ giá
hối đoái. Công ty đa quốc gia muốn đầu tư FDI phải tính đến đặc điểm thể chế nước nhận
đầu tư, đặc biệt khi phân tích các nền kinh tế phát triển (Peng & cộng sự, 2008) bao gồm
cả chất lượng thể chế và sự tồn tại của tham nhũng.
2.2.3. Thể chế quốc gia và tham nhũng
việc giao dịch với các quan chức tham nhũng cũng như tiếp cận với các nhà lập pháp; do
đó, họ có lợi thế hơn những doanh nghiệp khác (Anechiarico & Jacobs, 1996).
Mặc dù gần đây thuyết chi phí giao dịch trong mô hình OLI đã không xem x t môi trường
thể chế của một địa phương nước ngoài và tác động của sự không chắc chắn về thể chế
trong thu hút vốn FDI (Hosseini, 1994). Các thể chế có tác động đến hoạt động của các
công ty ở nước sở tại và do đó nó tác động đến chi phí giao dịch và hợp tác trong hoạt
động ở nước ngoài (Mudambi & Navarra, 2002). Bằng cách sử dụng biến thể chế trong
mô hình OLI, các nhà nghiên cứu đã mở rộng lý thuyết chi phí giao dịch bằng việc kiểm
tra khả năng mở rộng hoặc nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty trong một thị trường
cụ thể (Brouthers, 2013)
Vì thế để có được sự hợp pháp theo thể chế ở nước nhận đầu tư tính đến toàn bộ môi
trường thể chế), công ty đa quốc gia phải tuân theo những áp lực từ nước nhận đầu tư
trong việc trả tiền hối lộ và có thể làm như vậy trừ khi nước của chủ đầu tư nghiêm cấm
các hành vi đó. Bên cạnh những chi phí tạo ra bởi các giao dịch kinh doanh, công ty đa
quốc gia cũng phải đối mặt với chi phí hành chính cao hơn cho việc quản lý các mối quan
hệ giữa các bên tham gia vào hoạt động kinh doanh ở nước ngoài (Anderson & Gatignon,
1986; Buckley & Casson, 1998 ; chi phí này được kết hợp với trách nhiệm của người
nước ngoài, nơi mà khoảng cách thể chế và ba trụ cột chính của nó giữa nước của chủ đầu
tư và nước nhận đầu tư là những nhân tố chính (Eden & Miller, 2004).
2.2.4. Lý thuyết về khoảng cách thể chế
Trong khi các thể chế nước nhận đầu tư thể hiện những rủi ro đối với nhà đầu tư nước
ngoài, gần đây các nhà nghiên cứu đã lập luận rằng nó không chỉ là môi trường thể chế
của nước nhận đầu tư làm tăng chi phí hoạt động ở nước ngoài mà còn là khoảng cách thể
chế giữa nước nhận đầu tư và nước của chủ đầu tư. Khoảng cách thể chế được định nghĩa
như là mức độ chênh lệch tương đồng giữa thể chế quản lý, nhận thức và chu n mực của
hai nước được sử dụng để giải thích hành vi của công ty đa quốc gia về tính hợp pháp
15
16
Trong bài viết của mình, Eden và Miller 2004 đã tập trung vào khoảng cách về thể chế
mà không xem x t nước chủ đầu tư hay nước nhận đầu tư có thể chế mạnh hơn và cách
thức nó ảnh hưởng đến chi phí hoạt động ở nước ngoài và lợi thế O như thế nào. Các
nghiên cứu hầu như cho rằng sự khác biệt về mức độ tham nhũng giữa nước chủ đầu tư và
nước nhận đầu tư càng lớn thì FDI sẽ bị cản trở càng nhiều (Habib & Zurawicki, 2002).
Có ý kiến cho rằng không chỉ mức độ khoảng cách tham nhũng mà xu hướng của khoảng
cách này cũng tác động tới dòng FDI. Có thể các công ty đa quốc gia mong đợi sẽ cảm
thấy ít bị áp lực bởi các mối đe dọa mang tính hợp pháp, vì họ đã tham gia vào quá trình
lâu dài và tốn kém phát triển kiến thức về cách đối phó với tham nhũng tại nước nhà và có
thể sử dụng lợi ích mà họ học được từ tham gia các cơ quan tham nhũng tại chính quốc
(Cuervo-Cazurra, 2006). Mặt khác, có thể nước chủ đầu tư thường là nước phát triển) có
mức độ tham nhũng tương đối thấp sẽ hạn chế đầu tư vào nước nhận đầu tư có tham
nhũng cao thường là nước đang phát triển) bởi vì công ty đa quốc gia dự kiến sẽ gặp khó
khăn do sự bất ổn, chi phí tham gia vào tham nhũng địa phương và đáp ứng được các yêu
cầu, duy trì tính pháp lý. Chi phí tách mình khỏi sự can thiệp của chính phủ là cao.
Tuy nhiên, mức độ rủi ro và sự không chắc chắn liên quan đến tham nhũng sẽ không
giống nhau ở các công ty khác nhau. Có thể là các nhà đầu tư nước ngoài của các nước có
tham nhũng cao sử dụng kiến thức của họ về cách đối phó với tham nhũng là một lợi thế
cạnh tranh (Cuervo- Cazurra & Genc, 2008) so với những người không có kiến thức này.
Nghiên cứu phân tích các công ty đa quốc gia từ các nước đang phát triển đã phát hiện ra
rằng những kinh nghiệm hoạt động trong điều kiện thể chế lý tưởng ít hơn có thể được coi
là một lợi thế sở hữu ràng buộc địa điểm (Buckley & cộng sự, 2007 . Hơn nữa, những lợi
thế O cho phép các công ty ở các nước đang phát triển hoạt động hiệu quả hơn ở các nước
đang phát triển khác (Cuervo-Cazurra & Genc, 2008). Vì vậy, dựa trên lợi thế O một số
công ty có thể thích đầu tư vào các địa điểm nước ngoài tương đồng với môi trường chính
quốc của họ. Dựa trên điều này, tham nhũng có thể được xem là ảnh hưởng đến lợi thế L
hoặc là ngăn chặn hoặc khuyến khích FDI chảy vào. Kỹ năng có được trong việc quản lý
tham nhũng có thể giúp phát triển một lợi thế cạnh tranh nhất định (Habib & Zurawicki,
1999; Lambsdorff, 2003).
Mặt khác, các công ty đa quốc gia có thể sẵn sàng để chấp nhận hối lộ để tăng tốc độ xử
lý hồ sơ để có được những quyền pháp lý cho việc thiết lập một nhà máy tại nước ngoài