MỤC LỤC
1
DANH MỤC BẢNG
2
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Tư bản chủ nghĩa
Diện tích
Cơ cấu
Bình quân
Kiến thiết cơ bản
Sản xuất kinh doanh
Năng suất
Đơn vị tính
Ủy ban nhân dân
Sản lượng
Tài sản cố định
Bảo vệ thực vật
Công cụ dụng cụ
Hữu cơ
Nông nghiệp
Lao động nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp
Dịch vụ vận tải
Chế biến nông lâm thủy sản
Sửa chữa cơ khí
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC HỘP Ý KIẾN
4
này có tác dụng như chữa đi lỵ, đái tháo, trị mụn nhọt, giải nhiệt, tiêu độc, sát
trùng. Đặc biệt, na còn là loại quả tuyệt vời giúp cải thiện chức năng tim, phòng
bệnh ung thư và tốt cho não bộ.
Với những đặc điểm trên, trong những năm gần đây cây na dai thuộc họ na
của xã Xuân Quang, huyện BảoThắng, tỉnh Lào Cai được xác định là cây kinh tế
mũi nhọn có tính chiến lược lâu dài. Để thực hiện các mục tiêu cũng như nhiệm
vụ phát triển kinh tế – xã hội, xã Xuân Quang đã coi nhiệm vụ phát triển sản
xuất na dai trên địa bàn xã là nhiệm vụ cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế
hàng năm.
Trong năm 2014 “Dự án cải tạo giống và phát triển sản xuất hàng hóa nhãn,
na ở xã Xuân Quang, Phong Niên giai đoạn 2013 - 2015”. Xã Xuân Quang,
huyện Bảo Thắng đã trồng mới 24 ha na dai, tổ chức công tác tập huấn, tuyên
truyền vận động bà con mở rộng diện tích trồng cây na dai, tăng cường chăm
sóc cũng như áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng
mô hình sản xuất lớn theo hướng sản xuất hàng hóa để nâng cao thu nhập, phát
triển kinh tế hộ nông thôn đặc biệt là những hộ là dân tộc thiểu số. Cho tới thời
điểm hiện nay cây na dai trên địa bàn xã Xuân Quang có diện tích là 64,33 ha
được coi là cây chủ lực trong chủ trương thay đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện
xóa đói giảm nghèo cho nhiều bà con trong xã Xuân Quang (UBND xã Xuân
Quang).
Tuy nhiên việc phát triển cây na dai vẫn chưa theo quy hoạch, sản xuất còn
lẻ tẻ, manh mún, năng xuất chất lượng chưa cao, chưa mang tính ổn định và bền
vững. Các hộ sản xuất na dai trên địa bàn xã Xuân Quang trình độ, kiến thức kỹ
thuật canh tác còn hạn chế, thiếu thông tin, chủ yếu trồng quảng canh theo tập
quán cũ chứa nhiều rủi ro, chông chờ vào sự may rủi của thời tiết, cho dù điều
kiện đất đai rất phù hợp. Cây na dai xã Xuân Quang còn có nhiều nhược điểm
cơ bản như: Hiện tượng cây không ra hoa, ra hoa nhưng không đậu quả, đậu quả
nhưng lại rụng trái non, bị bệnh phổ biến nhất là rệp hút nhựa. Quả na dai Xuân
6
7
xuất na dai xã Xuân Quang, huyện BảoThắng, tỉnh Lào Cai;
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.3.1 Đối tượng:
1.3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiện cứu của đề tài là các hoạt động nhằm phát triển sản xuất na
dai của các hộ nông dân xã Xuân Quang, huyện BảoThắng, tỉnh Lào Cai.
1.3.1.2 Đối tượng khảo sát
-
Hộ nông dân sản xuất na dai trên địa bàn xã Xuân Quang; Các thương lái;
Người bán buôn, bán lẻ; Người tiêu dùng na dai Xuân Quang trên địa bàn
xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
-
Các tổ chức kinh tế xã hội liên quan: Hội nông dân, Phòng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, trạm khuyến nông, Phòng kinh tế huyện Bảo Thắng.
-
Chính sách liên quan tới sản xuất na dai.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất na dai của các hộ
nông dân trên địa bàn xã Xuân Quang trong thời gian 3 năm (2012-2014 ) từ đó tập
trung đưa ra những giải pháp phát triển sản xuất cây na phù hợp với điều kiện tự
sản xuất là mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa đầu vào và đầu ra)
Q= F(X1,X2,X3,...,Xn)
Trong đó: Q là sản lượng sản phẩm nhất định
X1,X2,X3,...,Xn là lượng của một số yếu tố đầu vào được sử
dụng trong quá trình sản xuất.
Quá trình sản xuât bao giờ cũng cần có sự tham gia của 3 yếu tố: Đối
tượng lao động, tư liệu lao động và lực lượng lao động. Trong các yếu tố đó thì
9
lực lượng lao động là yếu tố quan trọng nhất duy trì và quyết định sự thành công
hay thất bại của quá trình sản xuất (Giáo trình Kinh tế học Chính trị Mác – Lê
nin tái bản,2005).
*Các yếu tố tham gia sản xuất
+ Đối tượng lao động trong sản xuất na dai là: Giống, phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật….
+ Tư liệu lao động trong sản xuất na dai là: Máy móc thiết bị, phương tiện
vận chuyển, nhà xưởng, kho, cơ sở hạ tầng, đất canh tác….
+ Lực lượng lao động trong sản xuất na dai là: Người lao động trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xất na dai, có trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng trong
sản xuất na dai.
* Phương thức sản xuất:
Có 2 phương thức sản xuất:
- Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của
chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu bản thân và
gia đình họ không có sản phẩm dư thừa đem ra trao đổi mua bán trên thị trường.
- Sản xuất cho thị trường hay nói cách khác là phát triển sản xuất theo hướng
hàng hóa. Mục tiêu cơ bản là sản xuất ra sản phẩm để đem trao đổi mua bán trên
thị trường. Ra đời từ hai tiền đề: Phân công lao động xã hội và sở hữu tư nhân
bản; Là một hành động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm trước đây
con người vẫn phải tiến hành. Cùng với việc cải biến giới tự nhiên, con người
cũng cải biến chính bản thân mình và cải biến cả các mối quan hệ giữa con
người với nhau và chính việc cải biến đó làm cho việc chinh phục giới tự nhiên
đạt hiệu quả cao hơn.
- Xã hội loài người tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật
chất. Lịch sử xã hội loài người, do vậy và trước hết là lịch sử phát triển của sản
xuất vật chất.
- Sản xuất là cơ sở để hình thành nên các mối quan hệ xã hội khác. Xã hội
11
loài người là một tổ chức vật chất và giữa các yếu tố cấu thành nó cũng có những
kiểu quan hệ nhất định. Các quan hệ xã hội về nhà nước, chính trị, pháp quyền, đạo
đức, nghệ thuật, khoa học v.v (cái thứ hai) đều được hình thành và phát triển trên
cơ sở sản xuất vật chất (cái thứ nhất) nhất định. Trong quá trình đó, con người đồng
thời cũng sản xuất ra và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của mình.
- Sản xuất là cơ sở của sự tiến bộ xã hội. Sản xuất vật chất không ngừng
được các thế hệ phát triển từ thấp đến cao. Mỗi khi phương thức sản xuất thay
đổi, quan hệ giữa người với người trong sản xuất cũng thay đổi, và do vậy, mọi
mặt của đời sống xã hội đều có sự thay đổi theo sự tiến bộ của phương thức sản
xuất (Lê Thị Hường, 2014).
2.1.2 Lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế
* Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng: Là sự tăng thu nhập quốc dân và sản phẩm quốc dân tính
trên đầu người. Tăng trưởng thường được để đánh giá chung cho ngành kinh tế,
vùng sản xuất, nghành sản phẩm xuất nông nghiệp,… Nhìn chung về mặt bản
chất thì tăng trưởng đề cập tới vấn đề tăng lên về mặt lượng, là kết quả của quả
của các hoạt động sản xuất, dịch vụ của nền kinh tế tạo ra (Phạm Vân Đình và
Đỗ Kim Chung, 1997).
sự thay đổi về đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiến bộ, nâng cao kỹ thuật, cải
tiến lao động phân công lại lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều
kiện sản xuất thực tế.Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo
chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật trên thế giới ngày
càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ
mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng việc
chuyển sang phát triển sản xuất theo chiều sâu. Kết quả phát triển sản xuất theo
chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất
lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng
chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người (Phạm Vân Đình và Đỗ
Kim Chung, 1997).
13
2.1.4 Phát triển sản xuât nông nghiệp
* Phát triển sản xuất nông nghiệp
Theo Đỗ Kim Chung (1997) cho rằng: ”Phát triển nông nghiệp thể hiện
qua trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó
và thường đạt ở mức độ cao hơn về cả lượng và chất. Nền nông nghiệp phát
triển là là một ngành sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra, đa
dạng về chủng loại, phù hợp hơn về cơ cấu, thích ứng tốt hơn về tổ chức và thể
chế, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu xã hội về mặt nông nghiệp. Trước hết phát triển
nông nghiệp là một quá trình, không phải trạng thái tĩnh. Quá trình thay đổi của
nền nông nghiệp chịu tác động của các quy luật thị trường, chính sách can thiệp
của chính phủ, nhận thức cũng như ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng
về sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp. Nền nông nghiệp phát
triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp khác
với tăng trưởng nông nghiệp: Tăng trưởng nông nghiệp chỉ thể hiện rằng ở một
quả phát triển sản xuất na dai theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tăng
hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám, nâng cao
chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm na dai và
thu nhập/1 công lao động tăng.Vì vậy việc phát triển sản xuất na dai trên địa bàn
xã Xuân Quang cần thực hiện nhiều nội dung khác nhau, trong đó tập trung vào
việc phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, phương thức khai thác sử dụng
yếu tố nguồn lực, tổ chức hoạt động dịch vụ đầu vào, đầu ra cho phát triển sản
xuất na dai Xuân Quang. Do đó đánh giá về vấn đề phát triển sản xuất na dai
trên địa bàn xã Xuân Quang ta chỉ nên tập trung vào việc xem xét kết quả tạo ra
của quá trình sản xuất như: Quy mô sản lượng diện tích, giá trị sản xuất, doanh
thu. Phân tích sự tăng trưởng, chuyển dịch nội bộ các yếu tố đó theo thời gian,
đồng thời đánh giá chất lượng tăng trưởng bằng hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả
kinh tế, xã hộ, môi trường.
15
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất na dai
* Điều kiện tự nhiên, nguồn lực
-Thời tiết khí hậu:
Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất na dai nói riêng là ngành sản
xuất tiến hành ngoài trời. Do vậy thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp tới quá
trình sản xuất cũng như năng suất chất lượng cây trồng, là cơ sở để ra quyết định
thời vụ trồng và chăm sóc cây. Khí hậu nước ta mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió
mùa, thuận lợi cho việc chăm sóc gieo trồng cây hàng năm. Tuy nhiên trong những
năm gần đây, nhiều hiện tượng thiên nhiên bất thường xảy ra như lũ lụt, hạn hán, rét
đậm, rét hạn kéo dài … làm ảnh hưởng tới chất lượng, năng suất thu hoạch của
nhiều loại cây ăn quả. Na dai là loài phát triển và sinh trưởng tốt vào mùa xuân
nhiệt độ giao động từ 25 - 270 C. Cho nên vào thời điểm đầu xuân hoặc có thể kéo
dài tới tháng 8 – 9 hộ nông dân tiến hành trồng na dai. Mùa đông na dai có hiện
sản xuất những gì mình đang có. Nếu sản phẩm sản xuất ra được nhiều người
chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được mở rộng và ngược lại. Thị trường diễn
ra tuân theo các quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu có thể tác động lớn tới nhà
sản xuất. Thị trường na dai ở đây được đề cập tới hai yếu tố cung – cầu, có nghĩa
là sức mua và sức sản xuất đều ảnh hưởng tới quá trình phát triển sản xuất. Cho
nên nếu một trong hai yếu tố bị mất cân bằng thì phát triển sản xuất sẽ bị ảnh
hưởng.
- Trình độ năng lực của chủ thể sản xuất tác động trực tiếp tới việc tổ chức và
hiệu quả kịnh tế cây na dai. Năng lực của chủ thể sản xuất được thể hiện qua:
Trình độ tổ chức quản lý và khả năng áp dụng công nghệ, kỹ thuật mới; Khả
năng ứng xử trước các biến động thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh;
Trình độ trang bị vật chất kỹ thuật. Về năng lực, trình độ của chủ thể sản xuất na
dai tốt sẻ ảnh hưởng tích cực tới sản xuất na và ngược lại.
- Quy mô sản xuất: Diện tích càng lớn thì công tác quản lý giảm đi, mọi công tác
như chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm và ngược lại. Do vậy quy
mô sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Việc
17
quy hoạch sản xuất đảm bảo vùng trồng cây ổn định đáp ứng tốt nhu cầu thị
trường, tránh hiện tượng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ.
- Chính sách của nhà nước: Nhà nước can thiệp, tác động vào hoạt động sản
xuất kinh doanh trong lĩnh vưc nông nghiệp thông qua các chính sách về đất đai,
tín dụng, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng… và các chính sách liên quan tới sản xuất na.
Đây là yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Chính sách tốt có khả năng ứng dụng cao sẽ gắn kết các yếu tố sản xuất,
thúc đẩy phát triển sản xuất. Thông qua các chính sách như: Quy hoạch vùng
sản xuất, khai thác tối đa tiềm năng lợi thế của vùng; Tăng cường công tác quản
lý, đổi mới quy trình sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, tiết kiệm chi phí, nâng cao
năng suất cây trồng (Lã Tuấn Nam, 2012).
trồng với mật độ cao, mỗi cây chiếm diện tích 2 * 3m. Hố chuẩn bị trước từ 2 - 3
tháng, sâu 0,5 rộng 0,5, hình vuông hoặc hình chữ nhật. Mỗi hố bón 20 - 30kg phân
chuồng hoai mục + 0,2kg supe lân ủ trước 2 - 3 tháng. Cây trồng ở giữa hố, bầu đặt
ngang với mặt đất, tưới nước ấn cho chặt, duy trì độ ẩm 60 - 80% (Trần Thế Tục và
Nguyễn Ngọc Kính, 2007).
+ Nhân giống bằng hạt:
Vào giữa vụ, chọn cây mẹ có năg suất cao, chất lượng tốt, đã thu từ 4- 5
vụ quả ổn định. Chọn quả mắt to, tròn đều, trọng lượng 200 – 300g/quả, để chín
kỹ. Xử lý hạt với cát hoặc tro bếp xóc cho sứt vỏ nếu không xử lý bằng hóa chất
axitsunfurich, ngâm nước nóng 50 - 600 trong 15 - 20 phút rồi đem phơi trong
nắng nhẹ 25 - 20 ngày sau đem gieo. Đất gieo đảm bảo 70% đất bùn ải khô đập
vụn + 29% phân chuồng mục +1% supe lân, hạt đặt sâu 2 - 3 cm. Cây con sau 2
- 3 tháng tuổi, cao 25 - 30 cm, có 5 - 6 lá thật có thể đem trồng.
+ Nhân giống bằng phương pháp vô tính: Điển hình là phương pháp ghép
mắt, ghép cành.
19
Khi ghép mắt gốc ghép phải có đường kính từ 12 - 15mm, đạt 18 - 24
tháng tuổi. Mắt ghép lấy từ cành 1 năm tuổi nơi lá đã rụng rồi. Vỏ na dai dày nên
cần cắt mắt to 1 chút để khỏi bị vỏ gốc ghép phình ra, bóp chết; mắt ghép có
chiều dài khoảng 4 cm. Chọn cây mẹ có những đặc tính ưu việt như : Trái to ít
hạt, hạt nhỏ, dễ vận chuyển. Giống na dai chỉ sinh trưởng tốt trên gốc ghép bằng
hạt của nó hoặc gốc lê, gốc mãng cầu xiêm. Có thể sử dụng phương pháp ghép
áp, ghép cành hay ghép mắt. Gốc ghép phải từ 1 - 2 tuổi, cành ghép là cành đã
hóa gỗ có đường kính từ 1cm trở lên và lá đa rụng hết ( Trương Văn Miền,
2012)
Từ kinh nghiệm ghép cành của một số nước, có thể rút ra được những
kinh nghiệm như sau.
0,3 - 0,4
0,5 - 0,8
0,2- 0,3
0,5- 0,7
Loại phân
Hữu cơpe
Đạm ure
Supe lân
Clorua kali
Trên 8 năm
30 - 40
1,5 - 2,0
0,7 - 1,2
0,7- 1,0
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thủy, 2008)
Bảng 2.2 Thời vụ bón phân cho na dai
Lần bón
1
Tháng
23
2
50
40
100
100
-
30
xung quanh
(Nguồn: Chu Thị Thơm và Phan Thị Lài, 2005)
Cách bón: Cuốc rãnh hoặc hố xung quanh tán. Nếu bón thúc thì cuốc hố
rộng 10cm, bón lót cuốc rộng 20*30 cm bón xong lấp xuống. Nếu trồng trên
những vùng đất dốc lên cuốc hố sâu hơn, cho phân hữu cơ và rác xuống trước 2
- 3 tháng trước khi trồng. Đào hố rộng 50*50, bón lót 15 - 20 kg phân chuồng
hoai + 0,5 kg ure + 0,2 kg sunfat kali lấp hố để chờ trồng.
Trong quá trình sản xuất, cũng như nghiên cứu về cây na dai thì biện pháp
21
cắt tỉa là biện pháp không thể thiếu. Hàng năm cát tỉa cành la, cành vượt cành
tăm, cành sâu bệnh…thường tiến hành trong quá trình sinh trưởng và sau thu
hoạch, còn cắt cành vào cuối mùa đông, đầu xuân trước khi cây ra lộc nhằm tái
tạo tán cho cây, tạo cho cây nhiều cành, tăng số lượng hoa, quả trên 1 cây (Trần
Thế Tục, 1994).
Được coi là nơi sản xuất Annona Cherimoya quan trọng nhất thế giới,
diện tích khoảng 3.266 ha năm 1999 (Guirado và cs.. 2001, dẫn bởi Scheldeman,
2002). Tỉnh Granda là nơi sản xuất chính, chiếm 90% diện tích của Tây Ban
Nha khoảng 3.090 ha, trong đó 90% được tưới với sản lượng 29.000 tấn. Pê ru
năm 1998 có khoảng 1.975 ha với sản lượng 14.606 tấn. Vùng Đông Bắc
Mararion là vùng sản lượng chính khoảng 655 ha. Chi Lê có khoảng 1.152 ha,
Bolovia 1.000 ha, Ecuador 700 ha. (Grane, Campbell, Grossberger, 1999) cũng
cho biết Califorlia có khảng 100 đến 200 ha Cherimoya với sản lượng 453 tấn,
Dominica và Costa Rica là nước xuất khẩu na quan trọng cho Mỹ (Vũ Công Hậu,
2008).
Cây na dai có nguồn gốc ở vùng Caribe và Nam Mĩ, nó rất được ưa thích
và được trồng nhiều ở khu vực này. Các nước trồng nhiều như mêxxicô, Braxin,
Cuba (Vũ Công Hậu, 2008).
Mêxxico là nước sản xuất mãng cầu Xiêm quan trọng của các nước Châu
Âu theo (Haranadez và Angel, 1997), Mêxxico có khảng 5.915 ha với sản lượng
34.900 tấn, lớn nhất thế giới năng suất lại giảm dần 6,8 tấn/ha năm 1990, và 5,9
tấn/ha năm 1997. Tỉnh Nayrit là tỉnh có diện tích trồng nhiều nhất Mexico với
380 ha. Venezuela có khoảng 3.496 ha với sản lượng 10.096 tấn (Diego, 1989),
Braxin 2000 ha, sản lượng 8.000 tấn năng suất 4 tấn/ha. Pe Ru 443 ha, sản lượng
3.262 tấn ( Phùng Thị Hoa, 2010).
Loài Asquasmona là mãng cầu ta (na dai) là loài cây rất có tiềm năng
thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Loài quả này có hương vị thích hợp với nhiều
người, nhiều dân tộc tuy nhiên hiện vẫn được coi là cây trồng chủ yếu nội tiêu.
Những nghiên cứu về na hiện nay rất ít chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu
23
tuyển chọn giống quả to, ít hạt, độ đường cao, các kỹ thuật chăm bón, cắt tỉa…
Một số nghiên cứu đã cung cấp thông tin về giá trị dinh dưỡng của na nhưng
chưa có nghiên cứu nào và số liệu nào về tình hình phát triển sản xuất na trên
Na xuất hiện ở Chi Lăng khoảng 20 năm trước. Vì thiếu đất canh tác, một
số hộ dân đã thử đưa cây na lên trồng trên núi đá. Thử nghiệm đó đã trở thành
một phát minh của người nông dân. Na tỏ ra đặc biệt thích ứng với vùng núi đá
ở đây và nhanh chóng trở thành vùng chuyên canh. Huyện Chi Lăng hiện có gần
1.200 ha na với sản lượng trên 6.300 tấn, trở thành vựa na lớn nhất của cả nước.
Cây na phân bố chủ yếu tại 5 địa phương lòng máng sông Thương, gồm:
Xã Chi Lăng, thị trấn Chi Lăng, thị trấn Đồng Mỏ, xã Quang Lang và xã Mai
Sao. Dù mới ra đời nhưng chất lượng quả của na Chi Lăng đã được người dân
khắp nơi ca tụng. Na mắt giấy: Vỏ mỏng, ít hạt, thịt dày, vị ngọt đậm, mùi thơm
vô cùng hấp dẫn. Na mắt gỗ: Vỏ dày nhưng trọng lượng quả lớn, có quả nặng tới
trên một kg, ăn rất ngon và mát.
Giá na cao và ổn định, na to có giá 30 – 40 ngàn đồng/kg, na nhỡ 20 ngàn
đồng, na bi 15 ngàn đồng/kg. Mỗi ngày, có tới hàng trăm xe ô tô từ Hà Nội, Bắc
Giang, Thanh Hóa, Thái Nguyên … đến ăn na tại vườn ở Chi Lăng. Xã Chi
Lăng là địa phương có nhiều tiềm năng phát triển cây na. Xã có gần 400 ha na
với sản lượng gần 1.500 tấn/năm. Điều đáng mừng là nhiều thương nhân có mối
làm ăn với các đối tác người Trung Quốc nên vận chuyển na lên biên giới để
xuất ngoại.
Theo tính toán của phòng NN & PTNT huyện Chi Lăng, mỗi ha na cho
thu nhập khoảng 95 triệu đồng, cao gấp 3 – 4 lần so với trồng ngô. Mặc dù vậy,
việc phát triển cây na ở Chi Lăng vẫn còn mang tính tự nhiên. Tính kế hoạch,
qui hoạch cũng như việc xây dựng thương hiệu vẫn chưa được đề cập đến nhiều.
Phương pháp chăm sóc, thu hoạch na: Ở Chi Lăng đã khẳng định sự sáng
tạo đặc biệt của người nông dân. Khi những vườn na già cỗi, cho năng suất thấp,
một nông dân ở xã Chi Lăng đã mạnh dạn sang tận Quảng Ninh để mua bản
quyền phương pháp tạo tán, đốn ngọn, tỉa cành và thụ phấn bằng tay với giá 5
triệu đồng. Ông Nguyễn Đức Sự (Hội nông dân xã Quang Lang) đã tiếp cận với
kĩ thuật trên và biên tập thành sách để tập huấn cho bà con. Ban đầu, mọi người
25