Mối quan hệ giữa giao dịch nhà đầu tư nước ngoài và tỷ suất sinh lợi TTCK tại một số quốc gia châu á - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ MINH TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA
GIAO DỊCH NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ TỶ
SUẤT SINH LỢI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI
MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ MINH TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA
GIAO DỊCH NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ TỶ
SUẤT SINH LỢI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI
MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................... 2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu..................................................3
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung................................................................. 3
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu..............................................................................3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 4
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu..........................................................................4
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................. 4
1.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 4
1.5. Bố cục bài nghiên cứu..................................................................................4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY... 6
2.1. Lý thuyết tổng quan.....................................................................................6
2.1.1. Lý thuyết về hành vi của nhà đầu tư nước ngoài................................ 6
2.1.2. Lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường.................................................... 7
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giao dịch của nhà đầu tư
nước ngoài và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán.................................. 9
2.2.1. Các yếu tố toàn cầu ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư gián tiếp nước
ngoài...............................................................................................................9
2.2.2. Hành vi giao dịch phản ứng của nhà đầu tư nước ngoài và vấn đề bất
cân xứng trong hành vi giao dịch phản ứng................................................ 11
2.2.3. Ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài lên tỷ suất


sinh lợi thị trường chứng khoán địa phương...............................................12
2.3. Tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm......................................... 13
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................... 17
3.1. Dữ liệu nghiên cứu..................................................................................... 17
3.2. Mô tả biến nghiên cứu............................................................................... 18
3.2.1. Biến nội sinh (biến địa phương)........................................................18
3.2.2. Biến ngoại sinh (nhân tố toàn cầu)....................................................19
3.3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp kiểm định................................... 23

: Tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán đã phát triển

CS

: Phần bù rủi ro - khẩu vị rủi ro

EM

: Tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán châu Á đang phát triển

F

: Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ròng

R

: Tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán địa phương

HoSE

: Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

VAR

: Vector Auto - Regressive - Vector tự hồi quy

SVAR

: Structural Vector Auto - Regressive - Vector tự hồi quy cấu trúc


Bảng 4.3

: Kiểm định nhân quả Granger

Bảng 4.4

: Lựa chọn độ trễ tối ưu

Bảng 4.5a : Kết quả phân rã phương sai theo trật tự W - CS - EM
Bảng 4.5b : Kết quả phân rã phương sai theo trật tự EM - CS - W
Bảng 4.5c : Kết quả phân rã phương sai theo trật tự W - EM - CS

DANH MỤC HÌNH VẼ - BIỂU ĐỒ
Hình 4.1a : IRFs của dòng vốn đầu tư nước ngoài với EM
Hình 4.1b : IRFs của tỷ suất sinh lợi thị trường với EM
Hình 4.1c : IRFs của dòng vốn đầu tư nước ngoài với W
Hình 4.1d : IRFs của tỷ suất sinh lợi thị trường với W
Hình 4.1e : IRFs của dòng vốn đầu tư nước ngoài với CS
Hình 4.1f

: IRFs của tỷ suất sinh lợi thị trường với CS

Hình 4.2

: Phản ứng xung của dòng vốn nước ngoài ròng với tỷ suất sinh lợi địa

phương
Hình 4.3

: Phản ứng của dòng vốn nước ngoài ròng với tỷ suất sinh lợi âm và


CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Vai trò và ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến thị trường
tài chính nói chung và thị trường chứng khoán của quốc gia tiếp nhận đầu tư nói
riêng đã được biết đến trong rất nhiều nghiên cứu đặc biệt là tại các quốc gia có thị
trường chứng khoán đã và đang phát triển. Vốn đầu tư gián tiếp có vai trò rất lớn
trong việc cung cấp thanh khoản cho thị trường, nâng cao năng lực quản lý và cạnh
tranh, nâng cao tính minh bạch cho thị trường và giảm chi phí vốn cho các doanh
nghiệp... Bên cạnh đó là quá trình Việt Nam đang tham gia đàm phán hiệp định đối
tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong đó có vấn đề về đầu tư và dịch vụ
tài chính. Hiệp định TPP được ký kết thành công và thông qua sẽ giúp Việt Nam trở
thành một thị trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhờ dần tháo bỏ những quy
định hạn chế trong dòng vốn và cuối cùng là mở cửa thị trường tài chính hoàn toàn
đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Với rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện thì
số lượng nghiên cứu về mối quan hệ này hầu như chưa được thực hiện tại một thị
trường chứng khoán cận biên như Việt Nam.
Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư nước ngoài và thị
trường chứng khoán của tại những thị trường đang phát triển ở châu Âu đã được
nghiên cứu khá nhiều như tại Tây Ban Nha (Porras và Ülkü, 2015), Thổ Nhĩ Kỳ
(Ülkü, İkizlerli, 2012), Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Balan (İkizlerli, 2011), Thổ Nhĩ Kỳ,
Hy Lạp, Hungary, Balan, Cộng hòa Séc, Slovenia, Romania và Bulgaria (Ülkü,
2015)... nhưng tại những quốc gia đang phát triển ở châu Á thì vẫn chưa được
nghiên cứu nhiều như Choe và các cộng sự, 1999; Griffin và các cộng sự, 2004;
Richards, 2005; Dvořák, 2005; Choe và các cộng sự, 2005; Bailey và các cộng sự,
2007; Samarakoon, 2009 vì tính sẵn có của dữ liệu.
Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Mối quan hệ giữa giao dịch của nhà đầu


3


4

(2) Hành vi giao dịch phản ứng của nhà đầu tư nước ngoài như thế nào? Và có tồn
tại bất cân xứng trong hành vi giao dịch phản ứng hay không?
(3) Ảnh hưởng của dòng vốn nước ngoài lên tỷ suất sinh lợi địa phương như thế
nào?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu


Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán của Việt
Nam, Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan.



Chỉ số chứng khoán chính của các quốc gia: Vn-index, Kospi, SET và TAIEX
lần lượt của Việt Nam, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan.

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu


Nội dung nghiên cứu là dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ròng, tỷ suất sinh
lợi của một chỉ số chứng khoán chính của các quốc gia Việt Nam, Hàn Quốc,
Thái Lan và Đài Loan tại tần suất tháng; mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài và tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán. So sánh kết quả
thực nghiệm giữa các quốc gia.




được rút ra được từ bài nghiên cứu. Đưa ra những hạn chế của bài nghiên cứu và
định hướng cho các nghiên cứu sau này.


6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY
2.1.

Lý thuyết tổng quan
Nhà đầu tư quốc tế được cho là có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường các quốc

gia đang phát triển, hành vi giao dịch phản ứng cùng chiều và mối quan hệ giữa
giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài và tỷ suất sinh lợi thị trường vốn địa phương
được tập trung trong lý thuyết về hành vi của nhà đầu tư nước ngoài và lý thuyết
cấu trúc vi mô thị trường. Lý thuyết về hành vi của nhà đầu tư nước ngoài xem xét
hành vi của nhà đầu tư nước ngoài khi có những cú sốc ngoài kỳ vọng trong tỷ suất
sinh lợi thị trường chứng khoán đang phát triển, thông tin toàn cầu, rủi ro và vấn đề
bất cân xứng thông tin. Lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường xem xét về giá của tài
sản tài sản tài chính được thiết lập như thế nào và chênh lệch giữa giá mua và giá
bán.
2.1.1.

Lý thuyết về hành vi của nhà đầu tư nước ngoài

Lý thuyết về tái cân bằng dự báo một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh
lợi thị trường đã phát triển và dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đến các thị
trường đang phát triển được xem như là ảnh hưởng của tái cân bằng tài sản và danh
mục [Bohn và Tesar, 1996; Kyle và Xiong, 2001; Kodres và Pritsker, 2002; Griffin

Nghiên cứu trước đây chỉ ra mức độ giới hạn về khả năng dự báo tại những
khoảng thời gian ngắn tại mức độ toàn thị trường (Dahlquist và Robertsson, 2004;
Froot và Ramadorai, 2001; Froot và cộng sự, 2001; Griffin và công sự, 2004;
Kamesaka và cộng sự., 2003; Richards, 2005). Lý do được cho là sự ổn định trong
những dòng vốn, như dòng vốn hiện tại dự báo dòng vốn tương lai nhưng nó lại có
mối tương quan cùng chiều với tỷ suất sinh lợi hiện tại. Nhiều nghiên cứu kết luận
rằng nhà đầu tư nước ngoài là những nhà giao dịch phức tạp (Chen và cộng sự,
2009) nhưng thiếu thông tin (Dvořák, 2005).
2.1.2.

Lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường

Một định nghĩa phổ biến của cấu trúc vi mô thị trường là nghiên cứu về những
cơ chế giao dịch được sử dụng cho chứng khoán tài chính. Giáo sư Maureen O’Hara


8

của trường đại học Cornell, một tác giả có uy tín trong cấu trúc vi mô thị trường
diễn tả cấu trúc vi mô thị trường như là nghiên cứu về quá trình và kết quả của giao
dịch những tài sản dưới một bộ những nguyên tắc đặc biệt.
Cấu trúc vi mô thị trường liên quan đến định giá tài sản, tài chính quốc tế và tài
chính doanh nghiệp. Tiên đề nền tảng của lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường là giá
tài sản không cần phản ánh toàn bộ giá trị kỳ vọng của thông tin vì có rất nhiều
tranh cãi. Do đó, cấu trúc vi mô thị trường liên quan đến giá cân bằng của tài sản tài
chính trong lĩnh vực đầu tư. Cấu trúc vi mô thị trường cũng có mối tương quan với
tài chính doanh nghiệp truyền thống vì sự khác biệt giữa giá cả và giá trị có khả
năng ảnh hưởng đến quyết định tài trợ và cấu trúc vốn của những nhà quản lý.
Theo O’Hara (2003) thị trường có hai vai trò chính là cung cấp tính thanh
khoản và xác lập giá. Giá được hình thành trên thị trường bởi những người chơi và

2.2.1. Các yếu tố toàn cầu ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư gián tiếp nước
ngoài
Griffin, J.M., Nardari, F., Stulz, R.M. (2004) dựa trên số liệu tại những thị
trường đang phát triển như Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipins, Đài Loan, Ấn
Độ,.......cho thấy rằng, khi những rào cản đối với đầu tư quốc tế và khi những kỳ
vọng của nhà đầu tư nước ngoài cao hơn của những nhà đầu tư trong nước, tỷ suất
sinh lợi thế giới và địa phương cao ngoài kỳ vọng dẫn đến dòng vốn ròng vào
những nước nhỏ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những dòng vốn có tương quan với
tỷ suất sinh lợi địa phương cũng như hiệu quả thị trường nước ngoài tại tần suất
ngày, trong khi những ảnh hưởng này đáng kể tại tần suất ngày, chúng biến mất
nhanh chóng. Kết quả chỉ ra rằng những dòng vốn vào những quốc gia nhỏ tương
quan cùng chiều với tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán Mỹ. Một số đã tranh
luận rằng những dòng vốn không thể được giải thích bằng những tiến bộ về cơ bản
và phải là vì một vài hoạt động lan truyền.
Bekaert, G., Harvey, C.R., Lumsdaine, R.L. (2002) xem xét mối quan hệ giữa
dòng vốn, tỷ suất sinh lợi, lợi tức từ cổ tức và lãi suất thế giới tại 20 thị trường đang
phát triển của giai đoạn trước và sau hội nhập tài chính. Nghiên cứu chỉ ra rằng sau
hội nhập, dòng vốn nước ngoài tăng 1,4% so với vốn hóa thị trường. Nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng những cú sốc trong dòng vốn ban đầu sẽ làm gia tăng tỷ suất sinh
lợi, nó phù hợp với giả thuyết áp lực của giá. Ảnh hưởng sẽ giảm qua thời gian dù
nó cũng xuất hiện một tác động lâu dài. Điều này phù hợp với một mô hình trong đó


10

nhà đầu tư tái cân bằng danh mục của họ đầu tư tại các thị trường đang phát triển.
“Nhân tố đẩy” từ lãi suất trên thế giới đến dòng vốn xuất hiện nhưng với ảnh hưởng
rất nhỏ. Lãi suất giảm nhiều nhưng sự gia tăng của tỷ suất sinh lợi rất ngắn. Nghiên
cứu cũng cho thấy những cú sốc không mong đợi đến dòng vốn có một tác động
dương đồng thời lên tỷ suất sinh lợi. Ảnh hưởng biến mất ngay lập tức nhưng sự

chiều của nhà đầu tư nước ngoài với tỷ suất sinh lợi thị trường có độ trễ thể hiện sự
bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư địa phương. Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Curcuru và cộng sự (2011) sử dụng dữ liệu
TIC được điều chỉnh cho độ lệch trung tâm tài chính và lý thuyết của Hau và Rey
(2004, 2006) về tái cân bằng để đưa tỷ giá hối đoái mới về mức ban đầu trước đó.
Tuy nhiên có một sự khác biệt với lý thuyết của Hau và Rey (2004, 2006) là phản
ứng ngược chiều diễn ra với một độ trễ chứ không phải kỳ hiện tại như lý thuyết
đưa ra. Bài nghiên cứu cũng cho thấy phản ứng cùng chiều của dòng vốn nước
ngoài với tỷ suất sinh lợi thị trường hiện tại trên hầu hết các thị trường trong mẫu
nghiên cứu. Đây là kết quả mà phần lớn các nghiên cứu trước đây đã trình bày tại
nhiều tần suất khác nhau như Brennan và Cao (1997) sử dụng dữ liệu theo quý,
Dahlquist và Robertsson (2004) sử dụng dữ liệu tháng, Karolyi (2002) và Kamesaka
và cộng sự (2003) sử dụng dữ liệu theo tuần, Kim và cộng sự (2008) sử dụng dữ
liệu theo ngày...Bên cạnh đó tác giả còn phát hiện ra sự đảo chiều trong phản ứng
của dòng vốn đầu tư nước ngoài sau 5 kỳ ở tần suất tháng và 50 kỳ ở tần suất ngày.
Từ đó cho thấy hành vi giao dịch phản ứng của nhà đầu tư nước ngoài rất phức tạp.
2.2.2. Hành vi giao dịch phản ứng của nhà đầu tư nước ngoài và vấn đề bất
cân xứng trong hành vi giao dịch phản ứng
Nhà đầu tư nước ngoài có ít thông tin hơn những nhà đầu tư trong nước về thị
trường chứng khoán của nước địa phương được đưa ra trong mô hình của Brennan
và Cao (1997). Vì bất lợi thông tin của họ, những nhà đầu tư nước ngoài nắm bắt
nhiều hơn từ những thông tin đại chúng. Những công bố thông tin tốt dẫn họ đến
việc mua chứng khoán từ những nhà đầu tư địa phương. Các tác giả cũng tranh luận
rằng mua chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường địa phương có thể
liên quan đến tỷ suất sinh lợi cao tại thị trường trong nước vì những hiệu ứng tài sản.
Sử dụng dữ liệu theo quý, các tác giả phát hiện ra rằng hoạt động mua chứng khoán
của những nhà đầu tư Mỹ tại các thị trường chứng khoán nước ngoài có mối quan


12


13

thể chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư nước ngoài. Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
dường như có ảnh hưởng tích cực lên việc định giá. Tuy nhiên lại không có chứng
cứ thực nghiệm cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ cho quan điểm cho rằng dòng vốn đầu
tư gián tiếp nước ngoài làm gia tăng tính bất ổn của tỷ suất sinh lợi chứng khoán và
ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả của thị trường vốn. Chứng cứ chỉ ra rằng nhà đầu tư
tìm kiếm những giao dịch có nhiều thông tin về một thị trường đang phát triển sẽ
giúp cho nhà đầu tư đánh giá những thị trường đang phát triển khác. Bên cạnh đó,
việc mở cửa nền kinh tế sẽ làm gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khi
nền kinh tế có nhiều cơ hội đầu tư tốt. Tuy nhiên, quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu
tư gián tiếp chỉ có thể tận dụng được những lợi ích này khi nền kinh tế đó là nền
kinh tế thị trường, nhà đầu tư nước ngoài theo đuổi những cơ hội đầu tư tốt nhất có
sẵn mà họ nhìn thấy. Những nhà đầu tư khó có thể loại bỏ được những hiệu ứng lan
truyền bất hợp lý khi ở trong thế bị động khi chính phủ cố gắng duy trì tỷ giá hối
đoái và lãi suất.
Richards (2005) sử dụng dữ liệu tổng giao dịch theo ngày của tất cả nhà đầu tư
nước ngoài tại sáu thị trường vốn mới nổi châu Á đã chỉ ra rằng: đầu tiên, những
dòng vốn nước ngoài đến một vài thị trường thể hiện giao dịch phản ứng cùng chiều
với tỷ suất sinh lợi thế giới cũng như trong nước. Đặc biệt, những nhà đầu tư nước
ngoài có xu hướng là người mua trên những thị trường này trong ngày sau đó khi có
sự tăng giá tại những thị trường này hoặc tại thị trường Mỹ. Nguyên nhân được cho
là do những nhân tố mang tính hành vi hoặc trích lọc thông tin từ tỷ suất sinh lợi
gần đây hơn là ảnh hưởng tái cân bằng danh mục. Tiếp theo là ảnh hưởng của giá
liên quan đến giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài lớn hơn những nghiên cứu trước
đây. Kết quả cho thấy rằng những nhà đầu tư nước ngoài và những điều kiện bên
ngoài có một ảnh hưởng lớn hơn tại những thị trường mới nổi đã được chỉ ra trong
các nghiên cứu trước đây.
2.3. Tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm


Richards (2005)

toàn cầu như tỷ suất sinh lợi

hưởng



Griffin và cộng sự (2004)

của



Ülkü (2015)

của Mỹ, Nhật, tỷ suất sinh
lợi của các thị trường đã

nhân tố



Albuquerque và cộng sự

phát triển, đang phát triển,

(2009)




Kamesaka và cộng sự

Phản
ứng của −
F đối −
với R

(2003)
Choe và cộng sự (1999)
Froot và cộng sự (2001)



Griffin và cộng sự (2004)



Richards (2005)



Kim và cộng sự (2008)



Jeon và Moffet (2010)






Brennan và Cao (1997)



Griffin và cộng sự (2004)

Bất cân −
xứng
thông



tin của
F

Albuquerque và cộng sự
(2007)
Albuquerque và cộng sự
(2009)

Tồn tại bất
Các nghiên cứu xem xét vấn cân xứng
đề bất cân xứng thông tin trong hành
trong hành vi giao dịch vi giao
phản ứng của nhà đầu tư dịch phản
nước ngoài với tỷ suất sinh ứng của
lợi thị trường chứng khoán nhà đầu tư

năng dự
báo của
F)

ngoài lên tỷ suất sinh lợi thị
trường chứng khoán địa Không có
phương hay khả năng dự khả năng
báo của dòng vốn đầu tư dự báo
gián tiếp nước ngoài.

Bảng tóm tắt các biến ở trên cho thấy mối quan hệ giữa giao dịch của nhà đầu
tư nước ngoài và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán diễn ra như thế nào còn tùy
thuộc vào diễn biến của thị trường các nước đã phát triển, những thông tin trong
khu vực, đặc điểm của thị trường của quốc gia tiếp nhận đầu tư như độ mở hay hội
nhập của nền kinh tế, kiểm soát nguồn vốn của chính phủ... Chính vì vậy cần một
nghiên cứu cho thị trường cận biên như Việt Nam. Tác giả lựa chọn bài nghiên cứu
của Ülkü (2015) làm bài nghiên cứu gốc vì:


Tác giả Ülkü của bài nghiên cứu gốc đã thực hiện nhiều bài nghiên cứu mối
quan hệ này tại nhiều thị trường khác nhau trước đây như Ülkü và Weber (2012)
tại Hàn Quốc, Ülkü và İkizlerli (2012) được thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ, Porras và
Ülkü (2015) tại Tây Ban Nha nên bài nghiên cứu sẽ có tính cập nhật về biến
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu phù hợp và kết quả nghiên cứu mang tính
cập nhật hơn.


16



và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán. Chỉ số sinh lợi thị trường lần lượt
cho Việt Nam, Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan là VN-index, Kospi, SET và
TAIEX. Dữ liệu của Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan được tổng hợp từ sàn
giao dịch chứng khoán của từng quốc gia. Riêng đối với trường hợp Việt Nam,
dữ liệu được lấy từ chuyên trang chứng khoán vietstock, là nơi tổng hợp và
cung cấp các thông tin kinh tế và dữ liệu liên quan đến thị trường chứng khoán
Việt Nam và thế giới tại Việt Nam. Dữ liệu cũng được so sánh với dữ liệu tại
Ủy ban chứng khoán Nhà nước nếu có để kiểm tra độ chính xác của dữ liệu.



Và ba biến kiểm soát toàn cầu là tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán đã phát
triển, phần bù rủi ro và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán đang phát triển.
Đưa ba biến kiểm soát toàn cầu vào mô hình vì hầu hết các thị trường đều hội
nhập tài chính toàn cầu nên việc bị ảnh hưởng bởi những thông tin này là không
thể tránh khỏi [tham khảo Kodres và Pritsker, 2002, Griffin và cộng sự (2004),
Richards (2005), Ülkü (2015), Albuquerque và cộng sự (2009), Bekaert, Harvey,
Lumsdaine, (2002)].
Giai đoạn từ tháng 01/2007 đến 06/2015 được xem là giai đoạn có rất nhiều

biến động của nền kinh tế thế giới. Đây là giai đoạn từ bắt đầu cuộc khủng hoảng
kinh tế - tài chính toàn cầu cho đến giai đoạn hồi phục sau cuộc khủng hoảng với
những dấu hiệu tích cực nhưng chưa chắc chắn làm dấy lên lo ngại một cuộc suy
thoái lần 2. Bên cạnh đó là tâm lý lo sợ việc cục dự trữ liên bang Mỹ FED có tiến
hành tăng lãi suất hay không cũng ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý nhà đầu tư. Với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status