BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------∞---------
HOÀNG THỊ ÁNH HỒNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀ
GIÁ LƢƠNG THỰC THẾ GIỚI LÊN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tp.Hồ Chí Minh – Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Hoàng Thị Ánh Hồng, tác giả của luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu tác
động của giá dầu và giá lƣơng thực thế giời lên nền kinh tế Việt Nam”.
Tôi xin cam đoan: Nội dung của luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và có số liệu rõ ràng, đƣợc lấy từ phần
mềm kinh tế lƣợng, không sao chép từ nguồn khác. Tất cả tài liệu tham khảo đƣợc
trích dẫn đầy đủ và rõ ràng.
TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015
Ngƣời cam đoan
nền kinh tế .................................................................................................................11
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .............................21
3.1.
Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................21
3.2
Dữ liệu .............................................................................................................23
3.3
Các biến sử dụng .............................................................................................24
3.4.
Mô hình nghiên cứu ........................................................................................27
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................33
4.1 Thống kê mô tả....................................................................................................33
4.2.
Các kiểm định ban đầu ....................................................................................34
4.2.1. Kiểm định nghiệm đơn vị................................................................................34
4.2.2. Kiểm định độ trễ tối ƣu của mô hình ..............................................................36
4.2.3. Kiểm định tính ổn định của mô hình ..............................................................39
4.3 Tác động của cú sốc giá dầu thế giới và giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế
Bảng 6: Tính ổn định của các biến trong mô hình ....................................................40
Bảng 7: Kết quả phân rã phƣơng sai của cú sốc giá dầu ...........................................46
Bảng 8: Kết quả phân rã phƣơng sai của cú sốc giá lƣơng thực ...............................51
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về sự tác động của cú sốc giá dầu
và cú sốc giá lƣơng thực thế giới lên các yếu tố kinh tế vĩ mô ở Việt Nam bao gồm
lạm phát, sản lƣợng, cung tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái thực từ quí 1 năm 2001
đến quí 2 năm 2014 theo mô hình cấu trúc tự hồi quy véctơ (SVAR). Trong đó
hàm phản ứng đẩy và phân tích phân rã phƣơng sai đƣợc sử dụng để theo dõi ảnh
hƣởng của giá dầu và giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế Việt Nam. Kết quả
của bài nghiên cứu cho thấy rằng lạm phát và cung tiền phản ánh mạnh trƣớc cú
sốc của giá dầu, lãi suất ít bị ảnh hƣởng hơn và tỷ giá hối đoái thực chỉ chịu tác
động không đáng kể. Khi có cú sốc lƣơng thực thế giới xảy ra thì kết quả này lại
cho mạnh hơn đối với ảnh hƣởng của cú sốc giá dầu, trong đó biến cung tiền và lãi
suất bị tác động mạnh nhất sau đó đến biến sản lƣợng, lãi suất và tỷ giá hối đoái.
2
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Sự thay đổi giá dầu và giá lƣơng thực thế giới trong thời gian gần đây đƣợc
xem nhƣ là một trong những nguyên nhân gây ra các biến động kinh tế vĩ mô, tạo
nên những áp lực đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế nhằm ổn định nền
kinh tế quốc gia. Có thể thấy rõ nhất là sự bùng nổ giá cả hàng hóa toàn cầu, đặc
biệt là giá dầu và giá lƣơng thực trong những năm 2007 đến 2008 đã đẩy chi phí
ngƣời tiêu dùng. Giá dầu tăng, chi phí đầu vào tăng và năng suất sản xuất giảm, từ
đó tạo ra ảnh hƣởng xấu đến tiền lƣơng thực tế và việc làm, giá cả và lạm phát cơ
bản, lợi nhuận, đầu tƣ cũng nhƣ giá trị thị trƣờng của công ty ( Lescaroux và cộng
sự 2008). Bên cạnh đó giá lƣơng thực cũng tăng cao kể từ năm 2007 đã tác động
lớn đến đến giá tiêu dùng trong nƣớc bởi vì lƣơng thực chiếm phần lớn trong rổ
hàng hóa tiêu dùng ở các nƣớc đang phát triển ( Jongwanich và cộng sự 2011).
Phần lớn các nghiên cứu trƣớc đây về tác động của cú sốc của giá cả các
loại hàng hóa thế giới, trong đó chủ yếu là giá dầu lên hoạt động kinh tế đều đƣợc
thực hiện ở các nƣớc phát triển, còn những nghiên cứu liên quan đến sự tác động
này lên nền kinh tế ở các nƣớc đang phát triển thì rất ít. Điều này một phần là do
vẫn bị hạn chế về mặt số liệu và sự phụ thuộc vào dầu mỏ và lƣơng thực không
nhiều của các nƣớc đang phát triển. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của cú
sốc giá dầu và giá lƣơng thực thế giới đến các chỉ số kinh tế Việt Nam có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng.
Việt Nam đang đƣợc xem là nƣớc đang phát triển với lƣợng xuất khẩu dầu
thô với 16 đến 18 triệu tấn mỗi năm, chiếm 20% trong tổng xuất khẩu, đóng góp
18-20% trong GDP và 25-30% trong nguồn thu của chính phủ. Tuy nhiên trƣớc
năm 2009 Việt Nam phải nhập khẩu hoàn toàn dầu mỏ đã qua tinh chế để tiêu
dùng trong nƣớc, đến tháng 2/2008 đã sản xuất đƣợc sản phẩm dầu tinh khiết đầu
tiên nhƣng chỉ đáp ứng đƣợc 1/3 nhu cầu trong nƣớc. Do đó giá cả trong nƣớc vẫn
chịu nhiều ảnh hƣởng từ sự biến động giá cả trên thị trƣờng thế giới, đặc biệt là
4
giá dầu càng trở nên quan trọng trƣớc định hƣớng trở thành một nƣớc công nghiệp
vào năm 2020 của Việt Nam.
Việt Nam hiện tại đang có ƣu thế về xuất khẩu lƣơng thực, trong đó chủ
yếu là gạo, hiện tại Việt Nam đang ở vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo.
Năng lực sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam vừa đƣợc ADB xếp vào vị trí
ngoài nên khi hội nhập kinh tế sâu rộng, việc giá dầu thô, lƣơng thực và nguyên
vật liệu leo thang đã ngay lập tức tác động xấu tới nền kinh tế. Kinh tế các nƣớc
bạn hàng chính của Việt Nam bƣớc vào suy thoái cũng ảnh hƣởng tiêu cực tới
xuất khẩu và thu hút FDI của Việt Nam. Hậu quả là sức ép lạm phát tăng cao và
tăng trƣởng kinh tế thấp đi. Nhƣng ngƣợc lại, Việt Nam vẫn đƣợc hƣởng lợi từ sự
leo thang của giá cả thế giới, của dầu thô và lƣơng thực khi đây cũng chính là hai
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhờ
tăng giá và việc mở rộng đƣợc thị trƣờng đã tác động tích cực tới tăng trƣởng.
Nhờ đó, GDP 2008 của Việt Nam giữ đƣợc mức 6,3%.
Xuất phát từ bối cảnh nêu trên, tác giả đã tiến hành thực hiện bài nghiên
cứu “Nghiên cứu tác động của giá dầu và giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh
tế Việt Nam”, góp phần giải thích sự biến động của các chỉ số kinh tế Việt Nam
trƣớc những biến động của giá cả hàng hóa thế giới.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm mục đích kiểm tra xem liệu các cú
sốc giá dầu và giá lƣơng thực trên thế giới có tác động đến nền kinh tế Việt Nam
thông qua các biến số kinh tế vĩ mô hay không ?
Các câu hỏi nghiên cứu đƣợc đƣa ra gồm:
-
Cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực trên thế giới có thực sự tác động đến
nền kinh tế Việt Nam hay không?
-
Nếu có thì chiều hƣớng và mức độ tác động của các cú sốc này đến
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC
ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀ GIÁ
LƢƠNG THỰC THẾ GIỚI LÊN NỀN KINH TẾ
2.1 Kênh truyền dẫn tác động của các cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực
thế giới lên nền kinh tế trong nƣớc
Cú sốc bên ngoài tác động đến nền kinh tế vĩ mô trong nƣớc qua nhiều
kênh truyền dẫn khác nhau và theo các mức độ khác nhau. Theo nghiên cứu của
Muhammad Arshad Khan và cộng sự (2011), có sáu kênh truyền dẫn tác động của
cú sốc giá dầu đến các biến số kinh tế vĩ mô trong nƣớc bao gồm: hiệu ứng từ phía
cung, hiệu ứng chuyển giao tài sản, hiệu ứng lạm phát, hiệu ứng điều chỉnh ngành
và hiệu ứng tâm lý (Hình 1), đối với cú sốc giá lƣơng thực thì thông qua kênh xuất
khẩu ròng.
Kênh thứ nhất: hiệu ứng từ phía cung. Giá dầu tăng dẫn đến việc giảm sử
dụng của các yếu tố đầu vào cơ bản cho quá trình sản xuất làm giảm các sản lƣợng
tiềm năng (Lardic và Mignon 2008), đồng thời làm tăng chi phí biên sản xuất,
giảm tăng trƣởng sản lƣợng và năng suất sản xuất (Lescaroux và Mignon 2008,
Tang cộng sự 2010), kéo theo là việc ảnh hƣởng không tốt đến việc làm và thu
nhập thực tế của ngƣời lao động (Kumar 2009, Chuku và cộng sự 2010). Thông
qua hình 1 ta có thể thấy hiệu ứng từ phía cung khi giá dầu tăng làm giảm sản
lƣợng sản xuất trong ngắn hạn do việc suy giảm các năng lực sản xuất dẫn đến
thất nghiệp gia tăng và thu nhập thực tế bị giảm theo.
Kênh thứ hai: hiệu ứng chuyển giao tài sản. Kênh truyền dẫn này giả định
rằng việc gia tăng giá dầu làm thay đổi sức mua từ các nƣớc nhập khẩu dầu sang
các nƣớc xuất khẩu dầu. Sự gia tăng liên tục của giá dầu làm gia tăng đáng kể thu
nhập và cải thiện cán cân thanh toán của các nƣớc xuất khẩu dầu, còn đối với
nƣớc nhập khẩu thì tổng cầu tiêu dùng của mặt hàng này bị giảm xuống (Galesi và
8
kinh tế vĩ mô trong nƣớc
Cú sốc ngoại sinh
Giá dầu ↑
Sản lƣợng ↓
(ngắn hạn)
(Nguồn lực ↓)
Lạm phát ↑
PPI ↑
Lợi nhuận
↓
Giá lƣơng thực ↑
Thất nghiệp ↑
Thu nhập ↓
Đầu tƣ ↓
Sản lƣợng ↓
(dài hạn)
(Nguồn lực ↓)
Md ↓
CPI ↑
10
tiền tệ thông qua việc gia tăng lãi suất để đối phó với áp lực lạm phát do giá dầu
tăng cao, điều này làm cho nhà sản xuất thấy lợi nhuận giảm từ đó giảm đầu tƣ
đầu kéo theo là tác động sản lƣợng trong dài hạn cũng sẽ bị giảm theo (Tang và
cộng sự 2010, Chuku và cộng sự 2010). Brenankeet và cộng sự (1997) đã chứng
minh đƣợc rằng chính sách thắt chặt tiền tệ và cú sốc giá dầu đã tạo ra hiệu ứng
làm suy yếu nền kinh tế thực.
Kênh thứ năm: hiệu ứng điều chỉnh ngành. Làm rõ tác động bất cân xứng
của cú sốc giá dầu đến các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Khi giá dầu tăng
cao, các hoạt động kinh tế tăng trƣởng chậm hơn bởi các chi phí điều chỉnh, ngƣợc
lại khi giá dầu giảm xuống, các hoạt động kinh tế đƣợc kích thích phần nào đƣợc
bù đắp bởi các chi phí điều chỉnh (Brown và Yucel 2002, Chuku và cộng sự
2010). Brown và Yucel (2002) đã lập luận rằng chi phí điều chỉnh bắt nguồn từ sự
không chắc chắn về môi trƣờng đầu tƣ, sự bất cân xứng trong giá thành các sản
phẩm từ dầu và cách ứng xử của những nhà làm chính sách tiền tệ ( Lardic và
Mignon 2008, Lescarroux và Mignon 2008)
Kênh thứ sáu: hiệu ứng tâm lý. Kênh này thể hiện qua việc không chắc
chắn giá dầu sẽ tăng trong bao lâu dẫn đến nhu cầu đầu tƣ và tiêu dùng giảm gây
tác động không tốt đến nền kinh tế.Sự không chắc chắn làm cho các doanh nghiệp
và ngƣời tiêu dùng không có sự thay đổi kịp thời về đầu tƣ và tiêu dùng khi xảy ra
cú sốc giá dầu (Ferderer 1996, Galesi và Lombardi 2009).Sự không chắc chắn về
giá dầu trong tƣơng lai gây ra sự biến động lên và xuống của các sản phẩm liên
quan đến dầu mỏ và khi giá dầu trong tƣơng lai ngày càng trở nên không chắc
chắn giá trị của các quyết định trì hoãn đầu tƣ hay tiêu dùng ngày càng tăng, và
việc khuyến khích đầu tƣ hay tiêu dùng sẽ giảm do đó làm giảm kỳ vọng về tổng
sản lƣợng trong dài hạn (Chuku và cộng sự 2010).
Giá lƣơng thực tăng thể hiện thông qua kênh xuất khẩu ròng, khi giá lƣơng
thực tăng đối với các nƣớc nhập khẩu thì hóa đơn của các hàng hóa nhập khẩu
thất nhiệp, giá cả trong nƣớc, giá cả hàng hóa, lãi suất thông thƣờng và lãi suất trái
phiếu. Kết quả này đƣợc các nhà nghiên cứu khác cho rằng chỉ là một sự trùng
hợp ngẫu nhiên. Tuy nhiên, tác giả đã mở rộng thêm nghiên cứu về vấn đề cú sốc
giá dầu vào năm 1996 và năm 2003. Kết quả cho thấy không phải tất cả những
12
thay đổi về cú sốc giá dầu đều có ảnh hƣởng nhƣ nhau đến nền kinh tế. Sự sụt
giảm giá dầu không có khả năng thúc đẩy nền kinh tế phát triển giống nhƣ cách
mà việc giá dầu tăng làm sụt giảm sự phát triển kinh tế. Hamilton (1996) đã đề
xuất một sự thay đổi trong giá dầu thô so với giá dầu thông thƣờng. Đặc biệt, một
cú sốc giá dầu bằng với chênh lệch giữa giá dầu hiện tại và giá dầu cao nhất trong
bốn hoặc mƣời hai quý trƣớc đó. Sự thay thế phƣơng pháp đo lƣờng cú sốc giá
dầu này cho thấy một mối quan hệ ngƣợc chiều và ổn định đối với sự tăng trƣởng
của tổng sản lƣợng trong tƣơng lai.
Phát triển thêm các nghiên cứu của Hamilton, các bài nghiên cứu sau này
đã cung cấp thêm nhiều bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa cú sốc giá
dầu và phát triển kinh tế. Burbidge và Harrison(1984) đã tiến hành nghiên cứu ảnh
hƣởng của việc tăng giá dầu đến nền kinh tế của năm nƣớc Mỹ, Nhật, Đức, Anh,
Canada bằng phƣơng pháp VAR, trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1961 đến tháng 6
năm 1982. Với các biến giá dầu thế giới, sản lƣợng công nghiệp, lãi suất cho vay
ngắn hạn, khối tiền M, thu nhập trung bình trong sản xuất, và chỉ số giá tiêu dùng.
Kết quả chứng minh rằng giá dầu có ảnh hƣởng xấu đến kinh tế vĩ mô biến trong
năm quốc gia OECD, tuy nhiên cú sốc giá dầu giai đoạn năm 1973-1974 là khác
so với giai đoạn 1979-1980, ảnh hƣởng của giá dầu trong năm 1973-1974 lên các
biến kinh tế vĩ mô là khá mạnh.
Hooker (1996) bằng cách sử dụng thử nghiệm đa biến quan hệ nhân quả
Granger, không có mối quan hệ tuyến tính hoặc không đối xứng giữa giá dầu và
các biến kinh tế vĩ mô. Khi đề cập đến giá dầu nhƣ là một biến nội sinh Hooker
chung sẽ làm giảm bớt đáng kể tác động của các cú sốc giá dầu.
Lardic và Mignon (2006) đã nghiên cứu mối tƣơng quan giữa giá dầu và
tăng trƣởng GDP trên bảy nƣớc thuộc khối OECD gồm Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp,
Anh và Nauy kết quả ƣớc lƣợng cũng cho ra quan hệ bất đối xứng của hai biến
đƣợc nghiên cứu. Mối tƣơng quan hai chiều giữa thay đổi giá dầu và tăng trƣởng
GDP đƣợc thực hiện cho mỗi quốc gia, phƣơng trình hồi qui với biến tăng trƣởng
GDP với độ trễ của nó cùng biến thay đổi giá dầu, giá dầu tăng và giá dầu giảm
14
trong thực tế sẽ là các biến riêng biệt để kiểm tra sự bất cân xứng ở các nƣớc. Kết
quả phân tích hai chiều cho thấy có mối tƣơng quan nghịch giữa GDP và tăng giá
dầu. Nauy là quốc gia có mối tƣơng quan dƣơng giữa hai biến này bởi vì Nauy là
nƣớc có ngành công nghiệp về dầu phát triển và một trong những nƣớc dẫn đầu về
xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới. Một sự giảm giá dầu thì cũng sự tƣơng quan
nghịch với tăng trƣởng GDP, nhƣ vậy giá dầu thế giới sụt giảm củng làm sụt giảm
sự phát triển chung tại các nƣớc trong khối OECD này.
Bartosz Mackowiak (2006) đã nghiên cứu tác động của các cú sốc ngoại
sinh và chính sách tiền tệ ở Mỹ đến sự biến động của các biến số vĩ mô ở các nền
kinh tế mới nổi. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR với các biến kinh tế vĩ
mô của Mỹ và một số nền kinh tế mới nổi, bao gồm Hồng Kông, Hàn Quốc,
Malaysia, Philipines, Singapore, Thái Lan, Chi Lê, Mexico và giá cả hàng hóa thế
giới. Dữ liệu nghiên cứu từ tháng 1/1986 đến tháng 12/2000. Kết quả nghiên cứu
cho thấy các cú sốc ngoại sinh đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự
biến động của các biến số kinh tế vĩ mô tại các thị trƣờng mới nổi, tuy nhiên, mức
độ giải thích này khác nhau giữa các thị trƣờng. Qua bài nghiên cứu, tác giả cũng
đề xuất rằng các cú sốc ngoại sinh nên đóng một vai trò quan trọng trong các mô
hình áp dụng cho thị trƣờng mới nổi. Những thay đổi trong tỷ giá bên ngoài có thể
có ảnh hƣởng khác nhau đến nền kinh tế phụ thuộc vào việc có hay không việc
tế vĩ mô ở các nƣớc đang phát triển nhập khẩu dầu. Bài nghiên cứu đã tiến hành
nghiên cứu tác động tuyến tính và phi tuyến tính của các cú sốc giá dầu đến một
số biến kinh tế vĩ mô ở các nƣớc đang phát triển nhập khẩu dầu, cụ thể là Ấn Độ,
với dữ liệu trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 1991 đến tháng 1 năm 2009, sử
dụng mô hình VAR. Bài viết đã tiến hành xác định mối quan hệ nhân quả thông
qua kiểm định Granger giữa cú sốc giá dầu và các biến kinh tế vĩ mô. Đồng thời,
tiến hành phân tích hàm phản ứng xung và hàm phản ứng đẩy để xem ảnh hƣởng
của các biến kinh tế vĩ mô trƣớc các cú sốc giá dầu. Kết quả cho thấy sự biến động
trong giá dầu có tác động ngoại sinh đối với sự biến động của các biến kinh tế vĩ
mô và sự ảnh hƣởng của cú sốc giá dầu là ảnh hƣởng bất cân xứng phù hợp với
16
tính chất của việc khi các cú sốc giá giảm có tác động đến nền kinh tế rõ ràng hơn
là các cú sốc giá tăng.
Tang và cộng sự (2010) nghiên cứu cú sốc giá dầu ảnh hƣởng nhƣ thế nào
và mức độ tác động ra sao trong ngắn hạn và dài hạn đến nền kinh tế Trung Quốc,
bằng cách sử dụng cấu trúc vector tự hồi quy (SVAR). Kết quả cho thấy giá dầu
tăng ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến sản lƣợng và đầu tƣ nhƣng ảnh hƣởng cùng
chiều đến lạm phát và lãi suất. Với chính sách kiểm soát giá phân biệt ở Trung
Quốc, bao gồm nguyên vật liệu và thành phẩm cuối cùng, tác động của nền kinh tế
thực, đại diện bởi sản lƣợng và đầu tƣ thực, tồn tại lâu hơn so với biến lạm phát và
tiền tệ. Kết quả phân rã phƣơng sai cũng chỉ ra rằng ảnh hƣởng trong ngắn hạn,
sản lƣợng giảm do việc cắt giảm lãi suất gây ra là lớn hơn trong một đến hai năm
đầu. Tuy nhiên phần tác động lâu dài là tác động thông qua việc thay đổi đầu tƣ
tăng lên và ổn định hơn so với tác động ngắn hạn vào cuối năm thứ hai.
Galesi và Lombardi (2009), sử dụng mô hình Global Vector Autogressive
(GVAR). Đầu tiên là kiểm tra tác động đến lạm phát trong ngắn hạn của những cú
sốc giá dầu và giá lƣơng thực trong tập hợp một số quốc gia. Sau đó, đánh giá
Hơn thế nữa, các quốc gia không có nguồn tài nguyên về dầu nhƣng lại chuyên về
phát triển các dịch vụ tài chính quốc tế thì cũng không chịu tác động từ cú sốc giá
dầu. Tƣơng tự nhƣ vậy, các nƣớc đang phát triển nhƣ Ấn Độ với trữ lƣợng dầu
hạn chế cũng không chịu ảnh hƣởng bởi cú sốc giá dầu. Tuy nhiên, mặc dù Thái
Lan đang dự trữ một lƣợng lớn các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác không phải
là dầu nhƣng vẫn không phụ thuộc vào cú sốc giá dầu thế giới. Tác động hạn chế
của giá lƣơng thực đƣợc ghi nhận ở Ấn Độ, Hàn Quốc và Thái Lan, về sản lƣợng
công nghiệp, lãi suất và lạm phát. Tác động chính của giá lƣơng thực làm giảm tỷ
giá hối đoái thực tế đối với hầu hết các quốc gia, ngoại trừ Singapore. Nhìn chung,
tác động của các cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực thế giới phụ thuộc vào đặc tính
kinh tế của từng quốc gia. Các kết quả thực nghiệm đƣa ra từ nghiên cứu cho thấy
giá dầu và giá lƣơng thực cần đƣợc đƣa ra xem xét cho mục đích hoạch định chính
sách và dự báo kinh tế ở các nƣớc, đặc biệt là ở Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan.
18
Eduardo Lora và Powell (2011), đo lƣờng sự truyền dẫn giá dầu vào tỷ giá,
lạm phát lƣơng thực, lạm phát phi lƣơng thực và lạm phát chỉ số giá tiêu dùng của
khu vực Mỹ La tinh và Caribean đã chỉ ra rằng: sự tăng lên giá lƣơng thực thế giới
làm lạm phát chỉ số giá tiêu dùng tăng lên khoảng 5% .
Muhammad và cộng sự (2011), xem xét tác động của sự thay đổi giá dầu và
giá lƣơng thực thế giới lên nền kinh tế Pakistan trong giai đoạn từ năm 1990 đến
năm 2011, với các biến đƣợc sử dụng giá dầu và giá lƣơng thực thế giới, sản
lƣợng, cung tiền lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái thực hiệu dụng bằng phƣơng
pháp hồi qui cấu trúc véc tơ SVAR. Kết quả cho thấy sự thay đổi giá dầu hay giá
lƣơng thực thế giới đều ảnh hƣởng tích cực đến lạm phát. Khi giá dầu giảm thì sản
lƣợng công nghiệp và tỷ giá hối đoái thực hiệu dụng đều tăng lên. Sự thay đổi của
giá lƣơng thực tác động tích cực lên sản lƣợng công nghiệp, lãi suất.
Bài nghiên cứu của Ngân hàng châu Á tháng 3/2011 “ Lạm phát giá lƣơng
hƣởng của cú sốc giá gạo, đồng thời tác động của cú sốc này không phải là tức
thời mà có một độ trễ nhất định khoảng 6 tháng.
20
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Hiện nay đã có rất nhiều các bài nghiên cứu về ảnh hƣởng của các cú sốc
giá dầu và giá lƣơng thực đến nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia trên thế giới. Tác
động của các cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực thông qua các kênh truyền dẫn cho
rằng, giá dầu và giá lƣơng thực tăng làm giảm sản lƣợng sản xuất trong ngắn hạn,
gia tăng lạm phát, thất nghiệp, gia tăng nhu cầu về tiền, giảm đầu tƣ và do đó,
giảm kỳ vọng về tổng sản lƣợng trong dài hạn. Tuy nhiên, tùy theo bản chất và
tình hình kinh tế của các quốc gia khác nhau mà tác động của các cú sốc giá dầu
và giá lƣơng thực có chiều hƣớng khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay có rất ít các
bài nghiên cứu về tác động của các cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực đến các biến
số kinh tế vĩ mô. Do đó, bài nghiên cứu này đƣợc thực hiện nhằm kiểm tra tác
động của cú sốc giá dầu và giá lƣơng thực diễn ra nhƣ thế nào, từ đó đƣa ra các
kết luận và gợi ý giải pháp để hoàn thiện và phát triển nền kinh tế Việt Nam.