Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh bạc liêu - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TĂNG THÀNH PHƢỚC

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

T.P Hồ Chí Minh - Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TĂNG THÀNH PHƢỚC

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

Chuyên ngành : Kế toán
Mã số

: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHẠM VĂN DƢỢC

1.2.1. Dự toán ngân sách ...................................................................................11
1.2.2. Hệ thống kế toán chi phí và phân tích biến động chi phí sản xuất kinh
doanh .................................................................................................................21
1.2.3. Kế toán trách nhiệm ................................................................................27
1.2.4. Thiết lập thông tin KTQT phục vụ cho việc ra quyết định .....................31
1.3. Những yếu tố ảnh hƣởng đến tổ chức công tác KTQT trong doanh
nghiệp ...................................................................................................................34
1.3.1. Quy mô của doanh nghiệp ......................................................................34
1.3.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ..................35
1.3.3. Trình độ quản lý của doanh nghiệp .........................................................35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................36
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KTQT TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU ................37
2.1. Tổng quan về các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam .................................37


2.2. Tổng quan về doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu ..........38
2.2.1. Về số lượng và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp thủy sản ......40
2.2.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh ...................................................41
2.2.3. Đặc điểm tổ chức quản lý........................................................................42
2.2.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán ...........................................................43
2.2.5. Quy trình chế biến một số sản phẩm thủy sản đông lạnh .......................43
2.3. Thực trạng tổ chức công tác KTQT tại các doanh nghiệp thủy sản trên
địa bàn tỉnh Bạc Liêu ..........................................................................................43
2.3.1. Mô tả quá trình khảo sát ..........................................................................43
2.3.2. Tình hình vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn
tỉnh Bạc Liêu .....................................................................................................45
2.3.3. Đánh giá về tình hình vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp thủy sản
trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu .................................................................................55
2.3.4. Một số nguyên nhân dẫn đến chưa xây dựng mô hình KTQT tại các



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTC:

Bộ tài chính

CP:

Cổ phần

DNTN:

Doanh nghiệp tư nhân

KTQT:

Kế toán quản trị

MTV:

Một thành viên

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn

TT:


Hình 1.2: Mô hình thông tin phản hồi .......................................................................14
Hình 1.3: Mô hình thông tin từ dưới lên ...................................................................15
Hình 1.4: Mối quan hệ giữa các dự toán bộ phận trong hệ thống dự toán ngân sách
...................................................................................................................................16
Hình 2.1: Số lượng doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu ....................40
Hình 2.2: Mẫu doanh nghiệp khảo sát phân loại theo loại hình doanh nghiệp .........44
Hình 2.3: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp được khảo sát..............................46
Hình 2.4: Quy mô của doanh nghiệp được khảo sát .................................................46
Hình 2.5: Mẫu doanh nghiệp khảo sát có/không xây dựng hệ thống KTQT ............47


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên dựa vào
nhiều nguồn thông tin khác nhau để ra quyết định quản trị nhằm đạt được kết quả
tốt nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Kế toán quản trị là một bộ
phận không thể tách rời trong hệ thống kế toán và đóng vai trò quan trọng trong
công tác quản lý của doanh nghiệp. Kế toán quản trị cung cấp những thông tin
nền tảng, giúp nhà quản trị doanh nghiệp có những căn cứ khoa học vững chắc
cho việc xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh tế, tài chính một cách chính xác và
toàn diện. Nó gắn liền với chức năng phản ánh và cung cấp thông tin đáp ứng cho
nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng quản trị của những nhà quản trị trong
doanh nghiệp, từ đó giúp nhà quản trị điều hành, hoạch định và ra quyết định kinh
doanh.
Tổ chức công tác kế toán quản trị áp dụng cho doanh nghiệp thể hiện một
cách tổng quát các yếu tố cấu thành nên kế toán quản trị và quyết định đến thực
thi, định hướng xây dựng, phát triển của kế toán quản trị. Việc tổ chức công tác
kế toán quản trị trong các doanh nghiệp phải phù hợp với những đặc điểm hoạt

quy mô vừa và nhỏ. Tăng cường kiểm soát chi phí thông qua việc phân loại chi
phí, lập dự toán và phân tích biến động chi phí, xác định quy mô hợp lý cho từng
lô sản phẩm sản xuất. Yêu cầu phải đánh giá kết quả hoạt động chi tiết theo từng
sản phẩm, từng phân xưởng sản xuất và từng chi nhánh cụ thể. Tuy nhiên nghiên
cứu chỉ tập trung xây dựng mô hình quản trị chi phí chứ chưa đề cập đến những
nội dung khác của kế toán quản trị.
- Tác giả Văn Thị Thái Thu (2008) “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi
phí, doanh thu, kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn
ở Việt Nam”, nghiên cứu đã xác định được sự cần thiết, yêu cầu, các nguyên tắc
cơ bản và nội dung hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí, doanh thu và kết
quả kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn ở Việt Nam, đồng
thời cũng chỉ rõ các điều kiện cơ bản mà các cơ quan quản lý Nhà Nước và bản
thân các doanh nghiệp khách sạn có thể đáp ứng đề hoàn thiện tổ chức kế toán


3
quản trị này. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xem xét đến những nội dung khác của
công tác tổ chức kế toán quản trị tại những doanh nghiệp khách sạn này.
- Nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2007) về “Hoàn thiện công tác kế
toán quản trị tại tại Công ty Phân bón Miền Nam” đã phân tích công tác kế toán
quản trị với các nội dung: hoàn thiện hệ thống dự toán ngân sách, kế toán trách
nhiệm, kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, hệ thống thông tin phục vụ cho
việc ra quyết định kinh doanh tại Công ty Phân bón Miền Nam. Kết quả nghiên
cứu của tác giả đã chỉ ra rằng việc hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị sẽ tạo điều
kiện cho các nhà lãnh đạo quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh, kịp thời đưa
ra các quyết định chính xác và hiệu quả. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung tại
một công ty nên không mang tính khái quát chung cho ngành.
- Tác giả Hồ Thị Huệ (2011) “Xây dựng kế toán quản trị trong doanh
nghiệp sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh” đã chứng minh tầm quan trọng của
kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất. Kế toán quản trị đưa ra tất cả

toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh và nêu lên
những yếu kém trong công tác kế toán quản trị. Qua đó đưa ra cách thức để tổ
chức công tác kế toán quản trị cho các doanh nghiệp này dựa trên cơ sở lý thuyết
phù hợp và có sự kế thừa có chọn lọc của các nước trên thế giới. Nghiên cứu của
tác giả mang tính khái quát, phân tích khá đầy đủ những nội dung trong công tác
tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp xây dựng.
Các nhà nghiên cứu ở những hoàn cảnh khác nhau luôn đặt ra những vấn đề
nghiên cứu khác nhau. Dù phạm vi, phương pháp hay phương diện nghiên cứu có
khác nhau thì mục đích duy nhất và cuối cùng mà các nhà nghiên cứu hướng đến
vẫn là đưa ra được các biện pháp để đánh giá, từ đó hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả tổ chức công tác kế toán quản trị trong từng loại hình doanh nghiệp, từng
doanh nghiệp cụ thể.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp
thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa lý luận chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp.


5
- Thu thập, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị
tại các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
- Đề xuất nội dung và tổ chức công tác kế toán quản trị trong các doanh
nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: các lý thuyết về kế toán quản trị, tổ chức công tác kế toán
quản trị tại các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Đối tượng điều
tra là kế toán và nhà quản trị đang làm việc ở các đơn vị này.
- Phạm vi: Các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị
Kế toán quản trị (KTQT) bắt nguồn từ kế toán chi phí, ra đời vào những năm
đầu thế kỷ 19. Lúc bấy giờ, kế toán chi phí có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về
chi phí để phục vụ cho việc kiểm soát và lập kế hoạch nội bộ. Sau đó, kế toán chi
phí phát triển mạnh mẽ trong các ngành: thuốc lá, hóa chất… và trở thành một công
cụ quản lý hữu hiệu. Kế toán chi phí càng trở nên quan trọng hơn cùng với quá trình
phát triển kinh tế và giao thương ngày một mở rộng trên thế giới. Tuy nhiên, nhu
cầu quản lý ngày càng đòi hỏi phải có những công cụ quản lý hiệu quả hơn, từ đó
thúc đẩy sự đổi mới của kế toán chi phí. KTQT ra đời từ nền tảng là kế toán chi phí
truyền thống, cộng với những thay đổi nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu quản lý.
Sang đầu thế kỷ 20, các doanh nghiệp phát triển mạnh cả về phạm vi và quy
mô hoạt động, điều này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đánh
giá được hoạt động của doanh nghiệp mình. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp
áp dụng nguyên tắc “phân quyền trách nhiệm để kiểm soát tập trung”, thay đổi cấu
trúc công ty công ty từ mô hình tập trung sang mô hình quản trị phân quyền, chuyển
hoạt động xuống các đơn vị con và đơn vị trung tâm nắm quyền kiểm soát chung.
Điều này tạo điều kiện cho các nhà quản trị phát huy hết năng lực và chủ động sáng
tạo trong điều kiện trực tiếp tiếp cận với thông tin do KTQT cung cấp để đưa ra các
quyết định phù hợp và kịp thời.
Vào trước những năm 1950, KTQT chủ yếu quan tâm vào việc xác định chi
phí và kiểm soát tài chính, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán
chi phí.
Khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 1995, KTQT có vai trò không chỉ hỗ
trợ cho nhà quản trị mà đã trở thành hoạt động không thể tách rời trong quá trình
quản trị doanh nghiệp, KTQT tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn


8
lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử
dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và quản lý chi phí.

cộng sự (2013): “KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn
thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch,
đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có
trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”.
Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Robert S.Kaplan, Ella Mae
Matsumura, S.Mark Young, “KTQT là một quy trình cải tiến không ngừng việc
hoạch định, thiết kế, đo lường hệ thống thông tin tài chính, thông tin phi tài chính
trong hoạt động của doanh nghiệp để hướng dẫn, thúc đẩy hành động, hành vi quản
trị và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp tạo nên giá trị văn hóa kinh doanh cần
thiết nhằm đạt chiến lược, chiến thuật và mục tiêu”.
Theo Khoản 3, Điều 4 của Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội khóa 11
thông qua ngày 17/06/2003: “KTQT là việc thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính
trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Như vậy, có khá nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị nhưng có thể
rút ra được những điểm chung về kế toán quản trị từ các khái niệm trên như sau:
- Là quá trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin (bao gồm
thông tin tài chính và phi tài chính).
- Giúp các nhà quản trị hoạch định, đánh giá, kiểm soát hoạt động bên trong
tổ chức.
- Mục tiêu cuối cùng là sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của tổ
chức đó.
1.1.3. Vai trò của KTQT
Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định và nó xem như là một trong
những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu thông tin để nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị.
Từ những khái niệm về KTQT cho thấy vai trò của KTQT tương ứng với từng chức
năng của nhà quản trị (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2013):





11
- Ở cấp độ quản trị cấp cơ sở: KTQT cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản
trị cấp cơ sở kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phận do họ quản lý.
- Ở cấp độ quản lý trung gian: KTQT cung cấp thông tin cho nhà quản trị cấp
trung gian giám sát và đưa ra các quyết định về nguồn lực nguyên vật liệu, vốn đầu
tư, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng …
- Ở cấp độ quản trị cấp cao: KTQT cung cấp thông tin đã được tổng hợp từ các
nghiệp vụ, sự kiện đã xảy ra theo từng người điều hành, từng khách hàng và từng bộ
phận phục vụ cho nhà quản trị cấp cao để hỗ trợ cho họ đưa ra các quyết định trong
ngắn hạn và dài hạn.
1.2. Nội dung cơ bản của kế toán quản trị
1.2.1. Dự toán ngân sách
1.2.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của dự toán
“Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng
các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng thời kỳ cụ thể” (Phạm
Văn Dược, Trần Văn Tùng, 2011, trang 153).
Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ và toàn
diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối
lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện
bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Mục đích của việc lập dự toán
ngân sách là giúp nhà quản lý thực hiện chức năng hoạch định và kiểm tra. Dự toán
ngân sách là một hệ thống bao gồm nhiều dự toán như: dự toán chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung,
dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán giá vốn
hàng bán, dự toán tiền, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, dự toán bảng
cân đối kế toán. Dự toán là cơ sở để đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ
phận, của mỗi cá nhân phụ trách từng bộ phận, từ đó xác định trách nhiệm của từng
bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình hoạch định và kiểm soát.

kết thúc một kỳ kinh doanh thì được xem là công cụ kiểm soát. Thông thường dự
toán linh hoạt được lập ở 3 mức độ hoạt động: mức độ hoạt động thấp nhất, mức độ
hoạt động cao nhất và mức độ hoạt động trung bình.


13
- Dự toán cố định: là dự toán được lập trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh
tại một mức độ hoạt động đã xác định trước. Dự toán cố định phù hợp với doanh
nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định. Nhược điểm của dự toán cố định là chỉ dựa
vào một mức độ hoạt động mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong
kỳ dự toán, do đó không có ý nghĩa cao trong kiểm soát nếu các doanh nghiệp thay
đổi quy mô hoạt động trong kỳ do điều kiện hoặc môi trường kinh doanh biến động
(Huỳnh Lợi, 2012).
1.2.1.3. Mô hình lập dự toán
Tùy theo đặc điểm, quy mô của từng loại hình doanh nghiệp mà tiến hành lựa
chọn mô hình lập dự toán phù hợp để xây dựng dự toán đáp ứng các mục tiêu của
doanh nghiệp. Theo Phạm Ngọc Toàn (2010), có ba mô hình lập dự toán:
 Mô hình 1 – Mô hình thông tin từ trên xuống: theo mô hình này, các chỉ tiêu
dự toán được định ra từ ban quản lý cấp cao nhất của doanh nghiệp và truyền đạt
cho các quản lý cấp trung gian, trên cơ sở đó cấp quản lý trung gian truyền đạt cho
các đơn vị cấp cơ sở. Mô hình này mang tính chất áp đặt từ quản lý cấp trên xuống,
đòi hỏi nhà quản lý cấp cao phải có tầm nhìn tổng quát, toàn diện và chi tiết về mọi
hoạt động của đơn vị, thích hợp cho doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít có sự phân cấp
về quản lý.
Nhà quản trị cấp cao

Nhà quản trị cấp trung gian

Nhà quản trị
cấp cơ sở

và hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp, quản lý cấp cao quyết định chỉ tiêu
dự toán chính thức cho cấp trung gian, trên cơ sở đó cấp trung gian giao chỉ tiêu dự
toán chính thức cho cấp cơ sở.
Nhà quản trị cấp cao

Nhà quản trị cấp trung gian

Nhà quản trị
cấp cơ sở

Nhà quản trị
cấp cơ sở

Nhà quản trị cấp trung gian

Nhà quản trị
cấp cơ sở

Nhà quản trị
cấp cơ sở

Hình 1.2: Mô hình thông tin phản hồi
Mô hình 3 – Mô hình thông tin từ dưới lên: theo mô hình này, dự toán được
lập từ cấp thấp nhất đến quản lý cấp cao nhất. Bộ phận quản lý cấp cơ sở dựa vào
năng lực thực tế của doanh nghiệp lập dự toán và trình lên cấp trung gian. Cấp trung
gian tổng hợp các chỉ tiêu từ cấp cơ sở và trình lên quản lý cấp cao. Quản lý cấp cao
tổng hợp các chỉ tiêu dự toán của cấp trung gian kết hợp với năng lực hoạt động của


15

khác. Công việc đầu tiên của quá trình lập dự toán là lập dự toán tiêu thụ sản phẩm.
Dự toán này cho thấy doanh thu dự kiến trong kỳ dự toán. Khi dự toán tiêu thụ sản
phẩm được lập một cách cẩn thận và phù hợp với tình hình hoạt động của doanh
nghiệp, nó sẽ là chìa khóa cho toàn bộ quá trình lập dự toán.
Sau khi lập dự toán tiêu thụ sản phẩm, nó quyết định khối lượng sản phẩm cần
sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ. Tiếp theo, dự toán sản xuất sẽ được lập
làm cơ sở cho việc lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Các dự toán này sẽ tác động đến việc lập dự
toán tiền. Dự toán tiêu thụ sản phẩm cũng chi phối dự toán chi phí bán hàng và chi


16
phí quản lý doanh nghiệp, dự toán kết quả hoạt động kinh doanh và các dự toán này
cũng tác động đến dự toán tiền.
Dự toán tiền bị chi phối bởi dự toán tiêu thụ sản phẩm, vì việc tiêu thụ sản
phẩm tạo ra dòng tiền để đáp ứng cho việc chi tiêu. Các dự toán về chi phí đặt ra
nhu cầu về tiền trong kỳ, nó tác động đến dự toán tiền. Ngược lại, các dự toán đó lại
chịu ảnh hưởng bởi dự toán tiền, bởi khả năng về lượng tiền hiện có đủ thỏa mãn
cho các nhu cầu chi tiêu dự kiến.
Kết quả cuối cùng sau một thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh là tình hình
lợi nhuận, tình hình tài sản được phản ánh trên dự toán kết quả hoạt động kinh
doanh và bảng cân đối kế toán dự toán.
Dự toán tiêu thụ sản phẩm

Dự toán thành phẩm
tồn kho cuối kỳ

Dự toán sản xuất

Dự toán chi phí bán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status