Tổ chức công tác Kế toán quản trị tại Công ty Lâm Công Nghiệp Bắc Quảng Bình - Pdf 14

Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ TỔ CHỨC CÔNG
TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Ở DOANH NGHIỆP
Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, để thích ứng với điều kiện
mới, cơ chế quản lý và hệ thống quản lý đã có những bước thay đổi cơ bản, trong đó có
kế toán.
Ngày nay, hệ thống thông tin kế toán phải được tổ chức đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu
cung cấp bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho các nhà quản lý,
nhà đầu tư, ngân hàng, lãnh đạo doanh nghiệp ... Thông tin kế toán không chỉ hướng vào
các quá trình và các sự kiện kinh tế đã xảy ra, mà còn phải hướng đến những diễn biến
trong tương lai nhằm giúp nhà quản trị hoạch định đúng đắn phù hợp với mục tiêu đã xác
lập. Một hệ thống kế toán đáp ứng được nhu cầu thông tin như thế phải là một hệ thống
bao gồm hai phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị.
1.1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài
chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh
tế. Kế toán có vai trò đặc biệt quan trong không chỉ với hoạt động tài chính Nhà nước,
mà còn vô cùng cần thiết và quan trọng với hoạt động tài chính doanh nghiệp. Chức năng
của kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài sản trong
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin, với
các mục đích sử dụng khác nhau. Đối với một doanh nghiệp, đối tượng quan tâm đến
thông tin của doanh nghiệp rất đa dạng, tuy nhiên có thể chia làm 02 nhóm đối tượng
chính là những người ngoài doanh nghiệp và nội bộ doanh nghiệp. Đây là hai nhóm đối
tượng khác nhau nên yêu cầu về thông tin được cung cấp cũng khác nhau.
Kế toán tài chính cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Kế
toán tài chính liên quan đến quá trình báo cáo hoạt động của một tổ chức doanh nghiệp
cho các đối tượng bên ngoài thông qua các báo cáo tài chính. Mục tiêu của báo cáo tài
chính là cung cấp một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp như
tổng hợp về tình trạng và sự biến đổi của tài sản, cơ cấu nguồn vốn, tình hình nợ, các

cho việc đề ra những giải pháp, những quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với
những diễn biến của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp.
Kế toán quản trị có quan hệ chặt chẽ với kế toán tài chính trong việc sử dụng các số
liệu chi tiết, song kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết, nhu cầu thông tin chính
của các nhà quản trị không chỉ là thông tin chi tiết mà phải là các bảng biểu, các bảng
tóm tắt, phân tích các thông tin chi tiết từ sổ sách kế toán. Khi sử dụng các báo cáo này,
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 2
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
nhà quản trị sẽ có được thông tin mà họ quan tâm. Kế toán quản trị sử dụng các báo cáo
của riêng mình để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin kế toán, đặt chúng
trong bối cảnh các mục tiêu đã được xác định với các tình huống khác nhau nhằm cung
cấp thông tin phù hợp, hữu ích theo yêu cầu của nhà quản trị. Nội dung thông tin mà kế
toán quản trị cung cấp cho nhà quản lý sẽ bổ sung cho phần thông tin thiếu sót mà kế
toán tài chính không cung cấp được.
Như vậy, kế toán quản trị về bản chất là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của
hệ thống kế toán, vì đều làm nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin kinh tế trong doanh
nghiệp. Kế toán quản trị trực tiếp cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong tổ
chức kinh tế - người có trách nhiệm điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức
đó.
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của Kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin
- Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch (dưới hình thức dự toán)
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: Với chức năng tổ chức thực
hiện cùng với sự liên kết giữa con người và các nguồn lực. Kế toán quản trị sẽ cung cấp
thông tin để nhà quản lý có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình tổ chức
điều hành hoạt động kinh doanh. Để hoàn thành tốt chức năng của mình, kế toán quản trị
phải làm tốt các nhiệm vụ sau:
+ Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị
của đơn vị xác định theo từng thời kỳ.
Muốn vậy kế toán phải sử dụng hệ thống các chứng từ và sổ sách để ghi chép một
cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hằng ngày.

Sơ đồ 1.1 - Trình tự thực hiện các công việc của Kế toán quản trị
1.1.3. Kế toán quản trị với các chức năng quản lý
Để điều hành các mặt hoạt động của một doanh nghiệp, trách nhiệm thựôc về các nhà
quản trị các cấp trong doanh nghiệp đó. Các chức năng cơ bản của quản lý được khái
quát bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2 - Các chức năng cơ bản của quản lý
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 4
Tình hình hoạt
động kinh doanh
Đưa ra các chỉ
tiêu cần thực hiện
Thu thập
thông tin
Ra quyết định
Truyền đạt
thông tin
Xử lý thông tin
Lập kế hoạch
Đánh giá
Ra quyết định
Thực hiện kế hoạch
Kiểm tra
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
Qua sơ đồ trên, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến
thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất cả đều
xoay quanh trục ra quyết định.
Như vậy, để làm tôt chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có
thể ra quyết định đúng đắn. Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu, dù không phải là duy
nhất, cung cấp nhu cầu thông tin đó. Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu

theo một trình tự dễ hiểu nhất và giải thích quá trình phân tích đó cho các nhà quản trị.
Ra quyết định bản thân nó không phải là một chức năng độc lập, nói cách khác thông qua
chức năng quyết định nhà quản lý thực hiện các chức năng còn lại của mình. Nhưng để ra
quyết định nhà quản lý cần rất nhiều thông tin hết sức cụ thể, chi tiết, thật đầy đủ, kịp
thời và chính xác không chỉ trong quá khứ mà còn ở hiện tại và tương lai; không chỉ đo
lường về mặt giá trị mà cả đo lường về hiện vật. Những thông tin như vậy thì phần lớn
được cung cấp bởi kế toán quản trị.
Kế toán quản trị không chỉ giúp nhà quản trị trong quá trình ra quyết định bằng cách
cung cấp thông tin thích hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào các
tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn ra quyết định thích hợp nhất.
Tóm lại, chu kỳ quản lý và quá trình kế toán là một chu kỳ khép kín, vận động liên tục
lặp đi lặp lại nhưng không ngừng cải tiến để nâng cao chất lượng để ngày càng quản lý
tốt hơn và doanh nghiệp kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn. Các nhà quản trị điều
hành hoạt động kinh doanh thông qua các chức năng quản lý còn Kế toán quản trị sử
dụng các phương pháp riêng có của mình để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt
thông tin kế toán, đặt chúng trong bối cảnh các mục tiêu đã xác định với các tình huống
khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các chức năng quản trị. Kế toán
quản trị có vai trò cung cấp thông tin cho các chức năng của quản trị dưới đây:
Các chức năng quản lý Quá trình kế toán
Sơ đồ 1.3 - Mối quan hệ giữa Kế toán quản trị với các chức năng quản trị
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 6
Xác định mục tiêu
Lập kế hoạch
Tổ chức thực hiện
Kiểm tra, đánh giá
Chính thức hoá thành các chỉ tiêu kinh tế
Lập dự toán chung và các bản dự toán chi tiết

phí, kế toán quản trị trước hết phải nhận diện chi phí theo khả năng quy nạp chi phí vào
các đối tượng chi phí. Tuỳ thuộc vào chi phí và khả năng quy nạp chúng, kế toán áp dụng
phương pháp tập hợp trực tiếp hay phương pháp phân bổ gián tiếp.
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 7
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
- Phương pháp trình bày chi phí: Để thuận lợi cho quá trình xử lý thông tin và cung
cấp thông tin một cách đơn giản, dể hiểu. Thông tin kế toán quản trị thương được thiết kế
dạng so sánh được, trình bày bằng bảng biểu, đồ thị và phương trình.
- Các phương pháp khác:
Do thông tin kế toán quản trị hướng về tương lai nên ngoài nguồn số liệu được xử lý
từ kế toán tài chính, kế toán quản trị còn sử dụng phương pháp thu thập thông tin từ hệ
thống hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán thống kê, và sử dụng những phương pháp
của phân tích kinh doanh như phương pháp so sánh, phân tích tương quan, phương pháp
thay thế liên hoàn, phương pháp phân tổ.
Ngoài ra, Kế toán quản trị cũng sử dụng nhiều đến thông tin quá khứ khi lập dự toán,
vì đó là cơ sở để ước đoán doanh thu, chi phí và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động
của doanh nghiệp. Do vậy, các phương pháp của kế toán quá trình cũng thường theo cách
ước đoán, mô phỏng, gần đúng, dự báo xu hướng, biến động đánh giá trên cơ sở sản xuất
trong doang nghiệp và môi trường xung quanh.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHI PHÍ
1.2.1. Bản chất chi phí
Chi phí có thể nhìn nhận một cách trừu tượng chính là biểu hiện bằng tiền toàn bộ
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải chi ra trong
một thời kỳ nhất định, hoặc là những phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động phải phát sinh
gắn liền với mục đích kinh doanh. Đây chính là bản chất chi phí trong hoạt động của
doanh nghiệp là nó phải mất đi để đổi lấy một kết quả, kết quả có thể dưới dạng vật chất
hoặc không vật chất.
1.2.2. Phân loại chi phí
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là các
thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.

nghiệp thương mại.
+ Chi phí thời kỳ: Là những chi phí khi nó phát sinh làm giảm lợi tức của doanh
nghiệp.
Tuy nhiên cả hai cách trên chỉ mới nhận diện được chi phí theo những tiêu thức khác
nhau nhưng chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động. Vì vậy,
người ta sử dụng một cách phân loại nữa và là cách sử dụng chính trong kế toán quản trị,
phân loại theo cách ứng xử của chi phí.
- Phân loại theo cách ứng xử:
Đây là cách phân loại chi phí theo khả năng phản ứng hoặc thay đổi như thế nào của
chi phí khi có những thay đổi xảy ra trong các mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo cách phân loại chi phí nay, chi phí được chia thành ba loại:
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 9
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
+ Chi phí khả biến (biến phí): Là những chi phí mà về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ
thuận với sự thay đổi của mức độ hoạt động của doanh nghiệp nhưng chi phí tính cho
từng đơn vị sản phẩm thì hầu như không thay đổi.
+ Chi phí bất biến (định phí): Là những chi phí mà xét về tổng số sẽ không thay đổi
khi mức độ hoạt động thay đổi nhưng chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ thay đổi tỷ
lệ nghịch với sự thay đổi của mức độ hoạt động.
+ Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao hàm cả yếu tố biến phí và định phí. Ở mức
độ hoạt động này, chi phí biểu hiện đặc điểm của định phí nhưng ở một mức độ hoạt
động khác chi phí biểu hiện đặc điểm của biến phí.
Ngoài ra, còn có các cách phân loại chi phí khác nhằm mục đích ra quyết đinh như:
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí tự bản thân nó hiển nhiên được chuyển vào đơn
vị sản phẩm hoặc dịch vụ, lao vụ.
+ Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phải được phân bổ vào từng đơn vị sản phẩm,
dịch vụ, lao vụ.
- Chi phí chênh lệch: Là những chi phí hiện diện trong phương án này nhưng chỉ hiện
diện một phần hoặc hoàn toàn không có mặt trong phương án khác.

- Cả hai đều gắn với trách nhiệm quản lý trên các góc độ khác nhau. Kế toán tài chính
liên quan đến trách nhiệm quản lý chung, toàn doanh nghiệp còn kế toán quản trị liên
quan đến trách nhiệm quản lý ở từng bộ phận, từng hoạt động, từng loại chi phí, thu nhập
và kết quả cụ thể ... Song chúng có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng phục vụ mục đích
quản lý và phát triển doanh nghiệp.
1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị
Xuất phát từ yêu cầu thông tin của kế toán quản trị chỉ dùng để phục vụ cho các nhà
quản trị tại doanh nghiệp trong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh
nghiệp, cho nên việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị của doanh nghiệp phải phù hợp với
đặc điểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa bàn tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp. Bộ máy kế toán phải gọn nhẹ, khoa học, hợp lý và hiệu quả cao trong việc cung
cấp thông tin cho bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp.
Tuỳ theo quy mô hoạt động của doanh nghiệp mà doanh nghiệp lựa chọn phưông thức
tổ chức bộ máy kế toán quản trị. Đối với doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn có thể tổ
chức một bộ phận chuyên đảm trách kế toán quản trị, ngược lại, với các doanh nghiệp có
quy mô nhỏ, phần hành kế toán quản trị có thể do các kế toán viên của phần hành kế toán
tài chính kiêm nhiệm. Cho dù lựa chon phương thức tổ chức riêng biệt hay kết hợp phần
hành kế toán quản trị với kế toán tài chính thì yêu cầu công tác kế toán quản trị vẫn phải
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 11
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
đảm bảo thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ là lập dự toán, phân tích, lập báo cáo kế toán
quản trị, xem xét đánh giá các dự án và cung cấp thông tin cho lãnh đạo ra quyết định. Có
thể tổ chức bộ máy kế toán quả trị theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.4 - Tổ chức bộ máy kế toán quản trị
Trong đó nhiệm vụ của bộ phận lập dự toán là tập hợp chi phí, phân tích biến phí,
định phí, xây dựng các phương trình tính chi phí hỗn hợp, lập kế hoạch giá thành, giá
bán, lập dự toán, phận tích mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận (CVP), phân tích
thông tin hỗ trợ việc ra quyết định của nhà quản lý.
Bộ phận phân tích giá có nhiệm vụ lấy báo cáo kế toán quản tri, so sánh, đánh giá kết
quả thực hiện với kế hoạch đề ra, tìm ra nguyên nhân gây ra biến động. Kế toán viên sẽ

Bộ
phận
tổng
hợp
Bộ
phận
kế
toán
chi
phí
Bộ
phận
phải
thu,
phải
trả
Bộ
phận
kế
toán
tài
sản
Bộ
phận
kế
toán
nguồn
vốn
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
từ các đơn vị sản xuất. Bên cạnh đó, còn phải xây dựng mối liên hệ thông tin với bộ phận

- Sổ theo dõi chi phí sản xuất chung tại phân xưởng.
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 13
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
- Phiếu tính giá thành công việc.
- vv ...
Bảng 1.1 - Sổ theo dõi vật liệu trực tiếp tại xí nghiệp
Đối tượng: ...
Từ ngày ... đến ngày ...
Chứng từ
Diễn giải TKĐƯ
Phát sinh nợ
Tổng cộng
Số Ngày PX X PX Y PX Z PX N
Cộng PSN
Cộng PSC
Tổng cộng
Bảng 1.2 - Sổ theo dõi chi phí nhân công trực tiếp tại xí nghiệp
Đối tượng: ...
Từ ngày ... đến ngày ...
Chứng từ
Diễn giải TKĐƯ
Phát sinh nợ
Tổng cộng
Số Ngày PX X PX Y PX Z PX N
Cộng PSN
Cộng PSC
Tổng cộng
Bảng 1.3 - Phiếu tính giá thành công việc
Doanh nghiệp:.................................................................................................................
(Tên khách hàng):............................(Địa chỉ)......................(Ngày đặt hàng) .............

Ngày
Số
hiệu
Ngày
Số
hiệu
Giá thành
đơn vị
× × × × × × ×
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 14
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
Còn đối với các doanh nghiệp thương mại thì chi phí phát sinh chủ yếu trong giai
đoạn mua hàng và bán hàng. Vì vậy cũng phải theo dõi chi phí mua hàng và bán hàng
theo từng mặt hàng. Trong nhiều trường hợp không thể theo dõi chi phí cho từng mặt
hàng, từng nhóm hàng thì phải theo dõi chi phí chung rồi phân bổ cho từng mặt hàng
hoặc nhóm hàng cụ thể.
1.3.2.2. Xây dựng mối liên hệ thông tin giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính
Trong công tác kế toán quản trị, kế toán viên phải sử dụng thông tin từ nhiều nguồn
cung cấp, trong đó nguồn thông tin chủ yếu do kế toán tài chính cung cấp. Chẳng hạn,
nhiệm vụ của kế toán dự toán là tính biến phí, định phí rồi phân tích CVP, lập các bảng
kế hoạch, tuy nhiên việc tính toán chi phí và lập dự toán có khi không sát với thực tế. Vì
thế, kế toán dự toán cần dựa vào các báo cáo thực tế của kế toán tài chính cung cấp để có
được số liệu chính xác cho kỳ tiếp theo như số liệu số lượng hàng tiêu thụ, về chi phí, giá
thành ... Các báo cáo thực tế này sẽ giúp cho việc lập dự toán có ý nghĩa và hiệu quả hơn.
Khi phân tích đánh giá, kế toán viên so sánh số liệu thực tế về lượng hàng hoá tiêu
thụ, chi phí và giá thành sản phẩm ... với số liệu dự toán. Tìm ra điểm khác biệt và
nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch giữ thực tế và kế hoạch, từ đó mới đề xuất hướng sửa
đổi.
Như vậy, yêu cầu cấp thiết khi xây dựng kế toán quản trị ở doanh nghiệp là phải xây
dựng "con đường" thu nhận thông tin từ kế toán tài chính phục vụ cho công tác kế toán

phòng kinh doanh, thông tin về
định mức NVL, nhân công từ
phòng kỹ thuật, tình hình vật tư
từ phòng vật tư, tình hình sản
xuất của các phân xưởng ...
Cung cấp các dự toán cho
các phòng ban, phân xưởng
làm căn cứ tổ chức hoạt
động.
Cung cấp các thông tin về dự
toán giá thành, giá bán, phận
tích CVP cho lãnh đạo và câc
phong liên quan.
Bộ phận
Phân tích,
đánh giá
Nhận các báo cáo thực hiện của
các bộ phận để tiến hành phân
tích, đánh giá hoạt động của các
trung tâm trách nhiệm.
Cung cấp thông tin kết quả
phân tích đánh giá cho các bộ
phận kịp thời điều chỉnh hoạt
động
Bộ phận tư vấn
dự án
Nhận thông tin từ phòng kế
hoạch, tổ chức nhân sự và bán
giám đốc về các dự án.
Cung cấp thông tin phân tích

Trong đó chi phí bán hàng gồm chi phí tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại, chi phí vận
chuyển, đóng gói bao bì sản phẩm, lương nhân viên bán hàng, tiền hoa hồng bán hàng ...
Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm lương cán bộ quản lý, tiền điện, điện thoại dùng cho
quản lý văn phòng ...
Đối với các doanh nghiệp thương mại thì chi phí không bao gồm chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung vì một doanh nghiệp
thương mại chi phí phát sinh gắn liền với quá trình vận động hàng hoá từ khâu mua hàng
đến khâu tiêu thụ hàng. Các loại chi phí chủ yếu trong một doanh nghiệp thương mại là:
- Giá vốn hàng bán gồm giá trị mua hàng theo hoá đơn và chi phí mua hàng như chi
phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí lưu kho bãi, chi phí hao hụt ...
- Chi phí tiền lương
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 17
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Là những khoản trả
ngoài lương cho người lao động, nhưng không trả trực tiếp cho cán bộ công nhân viên
mà nộp lên cho cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý. Chi phí được tính theo lương cơ bản.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Nhà cửa, máy vi tính, máy photocopy ...
- Chi phí mua ngoài gồm tiền điện, điện thoại, tiền nước dùng cho Văn phòng công ty.
- Phí công tác.
- Chi phí văn phòng phẩm: Giấy, mực in ...
- Chi phí lãi vay, chi phí dịch vụ chuyển tiền, phí thanh toán L/C (đối với các doanh
nghiêph có hoạt động xuất - nhập khẩu) ...
- Chi phí dự phòng phải thu khó đòi, chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho ...
- Chi phí quảng cáo, marketing.
- Thuế và lệ phí.
...........
1.3.3.2. Lập kế hoạch giá thành và định giá bán sản phẩm
Hiện nay, công việc lập kế hoạch giá thành và định giá bán sản phẩm là một trong
những nội dung cơ bản nhát của Kế toán quản trị đặc biệt là trong các doanh nghiệp sản
xuất. Có nhiều phương pháp để xác định giá thành, giá bán, song đều xuất phát từ nguyên

Có 2 cách xác định chi phí nền là phương pháp toàn bộ và phương pháp trực tiếp (hay
phuơng pháp biến phí), do đó chi phí cộng thêm cũng có hai cách xác định tương ứng.
a) Đối với phương pháp toàn bộ: Ứng dụng cách phân loại chi phí theo chức năng
hoạt động.
Giá được tính: Giá bán = chi phí nền + chi phí cộng thêm
Trong đó:
- Chi phí nền bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,
chi phí sản xuất chung.
- Chi phí cộng thêm (CPCT) là khoản bù đắp chi phí bán hàng (CPBH), chi phí quản
lý doanh nghiệp (CPQLDN), mức hoàn vốn hợp lý.
CPCT = Tỷ lệ CPCT × Tổng chi phí nền
CPBH + CPQLDN + Mức hoàn vốn
Tỷ lệ chi phí cộng thêm = × 100%
Tổng chi phí nền
Mức hoàn vốn = ROI × Vốn đầu tư
b) Đối với phương pháp biến phí: Ứng dụng cách phân loại chi phí theo cách ứng xử
của chi phí.
Giá được tính: Giá bán = chi phí nền + chi phí cộng thêm
Trong đó:
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 19
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
- Chi phí nền bao gồm biến phí sản xuất, biến phí bán hàng, biến phí quản lý doanh
nghiệp.
- Chi phí cộng thêm là khoản bù đắp định phí, bao gồm định phí sản xuất, định phí
bán hàng, định phí quản lý doanh nghiệp và mức hoàn vốn.
CPCT = Tỷ lệ CPCT × Tổng chi phí nền
Định phí + Mức hoàn vốn
Tỷ lệ chi phí cộng thêm = ×100%
Tổng chi phí nền
Mức hoàn vốn = ROI × Vốn đầu tư

toán tiếp theo, vì vậy nếu lập dự toán tiêu thụ không chính xác thì sẽ ảnh hưởng đến chất
lượng của dự toán tổng thể. Dự toán tiêu thụ được lập trên dự báo tiêu thụ. Dự toán tiêu
thụ trình bày số lượng sản phẩm và doanh thu tiêu thụ trong kỳ. Để lập được dự toán tiêu
thụ cần dựa vào các căn cứ sau:
+ Số liệu về sản phẩm và doanh thu tiêu thụ ở kỳ trước.
+ Chính sách bán hàng của doanh nghiệp trong tương lai.
+ Các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, chính trị, pháp lý ...
Để phục vụ cho việc lập dự toán Tiền mặt thì cần kèm theo bảng dự toán tiêu thụ
sản phẩm, lượng tiền tiêu thụ trong kỳ có liên quan đến việc bán hàng.

Số tiền thu trong Doanh thu Doanh thu bán chịu
kỳ liên quan đến = bán hàng thu + ở kỳ trước thu được
bán hàng tiền ngay ở kỳ này
- Dự toán sản xuất: Kế hoạch sản xuất là cơ sở để lập dự toán sản xuất. Dự toán sản
xuất được lập nhằm xác định số lượng, chủng loại sản phẩm sản xuất trong kỳ.

Số lượng sản Số lượng sản Số lượng sản Số lượng sản
phẩm cần sản = phẩm tiêu thụ + phẩm tồn kho - phẩm tồn kho
xuất thụ dự kiến cuối kỳ đầu kỳ dự kiến
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 21
Dự toán
CPNVLTT
Dự toán
CPNCTT
Dự toán
CPSXC
Dự toán giá vốn hàng bán
Dự toán tiền mặt
Dự toán báo
cáo KQHĐKD

BH&QLDN
đơn vị
×
Số lượng hàng
hoá dự kiến tiêu
thụ trong kỳ
Dự toán định phí
BH&QLDN trong kỳ
= Định phí BH + Định phí QLDN

Dự toán chi phí
BH&QLDN
Trong kỳ
=
Dự toán
biến phí
BH&QLDN
+
Dự toán
định phí
BH&QLDN
- Dự toán tài chính: Chi phí tài chính bao gồm chi phí lãi vay, chi phí mua cổ phiếu,
trái phiếu, chi phí đầu tư dài hạn khác, chi phí thuê tài chính ... Nhưng tại các doanh
nghiệp chủ yếu là chi phí lãi vay.
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 22
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
- Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh: Trên cơ sở các báo cáo dự toán bộ phận đã lập,
bộ phận Kế toán quản trị lập dự toán báo cáo kết quả kinh doanh. Số liệu dự toán trên báo
cáo này thể hiện kỳ vọng của nhà quản lý doanh nghiệp và đồng thời là công cụ ra quyết
định về quản trị, nó cũng là cơ sở đánh giá tình hình thực hiện dự toán đề ra. Trong bảng

xác định trách nhiệm đối với từng loại chi phí, đây là điều quan trọng để đạt được ưu
điểm của quá trình dự toán toàn diện. Trọng tâm của nội dung này là chuyển từ việc lập
dự toán qua việc kiểm tra, đánh giá các kết quả thực tế trong mối quan hệ so với kết quả
kế hoạch hoặc dự toán.
Có 4 loại trung tâm trách nhiệm phổ biến:
- Trung tâm chi phí: Là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ chịu trách nhiệm
hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở trung tâm, không có quyền hạn
đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn. Được xếp vào loại trung tâm chi phí là các phân
xưởng sản xuất, có phòng ban chức năng.
Để đánh giá trung tâm chi phí:
+ So sánh chi phí thực tế - chi phí định mức
+ So sánh chi phí thực tế - chi phí dự toán và kết quả tiêu thụ
- Trung tâm doanh thu: Là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị chỉ chịu trách nhiệm
với doanh thu, không chịu trách nhiệm đối với chi phí và lợi nhuận. Ở trung tâm doanh
thu nhà quản trị điều hành hoạt động của trung tâm sao cho có thể mang lại doanh thu
nhiều nhất cho tổ chức. Việc thực thi trách nhiệm của nhà quản trị trung tâm doanh thu
cũng được đánh giá dựa trên sự so ánh giữa doanh thu thực tế tạo ra và doanh thu được
giao. Được xếp vào loại trung tâm doanh thu là phòng kinh doanh, bộ phận tiếp thị.
Để đánh giá trung tâm doanh thu:
+ So sánh doanh thu thực tế - doanh thu dự toán
+ So sánh chi phí thực tế - chi phí dự toán và kết quả tiêu thụ
- Trung tâm lợi nhuận: Là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách
nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm. Do vây, nhà quản trị được quyền
quyết định về những vấn đề như định giá, marketing, sản lượng sản xuất, nguồn cung
cấp, cơ cấu hàng bán ... Nhà quản lý trung tâm lợi nhuận còn được giao quả lý và sử
dụng một số vốn của tổ chức cùng với nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận từ việc sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn đó. Mọi sự đầu tư thêm vốn cho trung tâm đều nằm ngoài phạm vi quyền
hạn và trách nhiệm của nhà quản lý trung tâm lợi nhuận. Được xếp vào loại trung tâm lợi
nhuận là các đơn vị kinh doanh trong tổ chức như công ty phụ thuộc, các chi nhánh ...
Để đánh giá trung tâm lợi nhuận:

Để đánh giá trung tâm đầu tư: sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá như sau:

* Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế
và trả lãi/Tài sản bình quân
=
Lợi nhuận trước thuế và trả lãi
Giá trị tài sản bình quân
* Giá trị của tài sản của doanh nghiệp.
Hàng kỳ, các trung tâm phải làm báo cáo đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch công
việc của mình. Các báo cáo trách nhiệm phải đạt được các mục tiêu sau:
SVTH: Nguyễn Thị Thu - Lớp 23KT5 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status