BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
NGUYỄN TIẾN DŨNG
TÁC ĐỘNG BẤT CÂN XỨNG CỦA CÁC CÚ SỐC
THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
NGUYỄN TIẾN DŨNG
TÁC ĐỘNG BẤT CÂN XỨNG CỦA CÁC CÚ SỐC
THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS.TRẦN NGỌC THƠ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015
CHƯƠNG 2. NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU .................................................................. 7
2.1. Cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái: ......................................................................... 7
2.1.1. Tổng kết lý thuyết: .......................................................................................... 7
2.1.2. Bằng chứng thực nghiệm: ............................................................................... 9
2.2. Tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu: ............................................. 16
CHƯƠNG 3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................. 21
3.1. Dữ liệu nghiên cứu: ............................................................................................. 21
3.2. Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................... 24
3.2.1. Thống kê mô tả: ............................................................................................ 24
3.2.2. Kiểm định tính dừng: .................................................................................... 24
3.2.3. Phân tách các cú sốc thị trường dầu thô bằng mô hình SVAR: ................... 24
3.2.4. Kiểm định tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ
giá hối đoái: ............................................................................................................ 26
3.2.5. Kiểm định phản ứng bất đối xứng của tỷ giá hối đoái với sự khác biệt về dấu
của từng loại cú sốc thị trường dầu thô: ................................................................. 27
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 30
4.1. Thống kê mô tả các biến: .................................................................................... 30
4.2. Kiểm định tính dừng:........................................................................................... 31
4.3. Phân tách các cú sốc thị trường dầu thô bằng mô hình SVAR: .......................... 37
4.3.1. Lựa chọn độ trễ: ............................................................................................ 37
4.3.2. Kết quả từ mô hình SVAR: .......................................................................... 38
4.3.3. Kiểm tra tính phù hợp của mô hình: ............................................................. 41
4.4. Lập luận về giả định ngoại sinh của các cú sốc thị trường dầu:.......................... 43
4.5. Hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF):................................................................. 47
4.6. Kiểm định tác động của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái: ....... 48
4.6.1. Kết quả phân tích hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF): ............................. 48
4.6.2. Kiểm tra tính phù hợp của các mô hình:....................................................... 52
4.7. Kiểm định phản ứng bất đối xứng của tỷ giá hối đoái với sự khác biệt về dấu của
Cumulative Impulse Response Function
EIA
U.S. Energy Information Administration
IMF
International Monetary Fund
LM
Lagrange Multiplier
NEER
Nominal Effective Exchange Rate
OPEC
Organization of Petroleum Exporting Countries
REER
Real Effective Exchange Rate
SVAR
Structural Vector Autoregressive model
Hình 4.10. Tỉ trọng xuất nhập khẩu dầu của Việt Nam so với thế giới từ 1994-2012 .. 47
Hình 4.11. Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cung dầu ................... 49
Hình 4.12. Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc tổng cầu toàn cầu ...... 50
Hình 4.13. Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cầu dầu ...................... 51
Hình 4.14. Kết quả kiểm định tính ổn định lần lượt đối với mô hình (3) và (4) ........... 53
Hình 4.15. Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cung dầu dương (phía
trên) và âm (phía dưới) ................................................................................................... 54
Hình 4.16. Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc tổng cầu toàn cầu dương
(phía trên) và âm (phía dưới) ......................................................................................... 55
Hình 4.17. Kết quả phản ứng của tỷ giá hối đoái đối với cú sốc cầu cầu dương (phía
trên) và âm (phía dưới) ................................................................................................... 56
Hình 4.18. Kết quả kiểm định tính ổn định lần lượt đối với mô hình (5) và (6) ........... 59
1
TÓM TẮT
Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường
dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam. Với giai đoạn nghiên cứu được thực hiện từ
tháng 09/1994 đến tháng 12/2014, tác giả sử dụng phương pháp SVAR để phân tách
các cú sốc thị trường dầu thành các cú sốc phía cung và phía cầu riêng biệt, sau đó sử
dụng hàm phản ứng xung dồn tích (CIRF) có được mô hình VAR để trình bày và diễn
giải các bằng chứng thực nghiệm. Kết quả cho thấy cú sốc cầu dầu tác động nghịch
chiều và có ý nghĩa thống kê đế tỷ giá hối đoái, trong khi tác động của cú sốc cung dầu
và cú sốc tổng cầu toàn cầu thì không. Điều này thể hiện sự bất cân xứng trong tác
động của các cú sốc thị trường dầu. Ngoài ra, tác giả còn cho thấy cú sốc cung dầu âm
và cú sốc cầu dầu dương tác động nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối
đoái, trong khi các cú sốc trái dấu tương tự thì không. Điều này làm bằng chứng cho
tác động bất cân xứng về dấu của hai loại cú sốc này.
Từ khóa:cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái, mô hình VAR.
chứng tương tự về tác động của cú sốc dầu tới các biến khác như là GDP (Hamilton,
2003; Kilianvà Vigfusson, 2012), lạm phát (Kilian, 2008a; Kilian, 2008b); lãi suất
(Cunado, 2015); thâm hụt tài khoản vãng lai (Van Wijnbergen, 1985); cán cân thương
mại và tỷ giá thương mại (Backus và Crucini, 2000); tỷ suất sinh lợi thị trường chứng
khoán (Kilian và Park, 2009; Kang và cộng sự, 2015).
Có thể thấy rằng, cú sốc dầu cũng có thể tác động đến tỷ giá hối đoái.Có thể kể đến
một số nghiên cứu về tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái như Huang và Gou
(2007), Ghosh (2011),Narayan (2013)… Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều giả định
giá dầu là ngoại sinh. Atems và cộng sự (2015) cho rằng một hạn chế của các nghiên
cứu trước đây về mối quan hệ giữa cú sốc dầu và tỷ giá hối đoái là khi họ xem giá dầu
là ngoại sinh,nguyên do là các phản ứng được kỳ vọng của tỷ giá hối đoái sẽ khác nhau
tùy thuộc vào việc giá dầu thay đổi là do cung dầu hay cầu dầu. Do đó, Atems và cộng
sự (2015) đã dựa trên phương pháp của Kilian (2009) để phân rã các cú sốc thị trường
dầu thành các cú sốc phía cung và phía cầu để mô tả sự nội sinh của giá dầu, từ đó
kiểm tra các phản ứng khác nhau của tỷ giá hối đoái đối với các cú sốc này.
4
Nhận thấy tầm quan trọng trong việc dự đoán sự biến động trong tỷ giá hối đoái tại
Việt Nam, cùng với một phương pháp nghiên cứu vượt trội hơn so với trước đây khi
không giả định sự thay đổi của giá dầu là ngoại sinh, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu thô đến tỷ giá hối đoái của
Việt Nam” trong giai đoạn 09/1994 – 12/2014 cho Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn bao gồm 2 mục tiêu:
(1) Kiểm định tác động bất cân xứng của các cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái
của Việt Nam.
(2) Kiểm định tác động bất cân xứng về dấu của từng cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá
hối đoái của Việt Nam.
Luận văn đã cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động bất cân xứng giữa
các cú sốc thị trường dầu đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam. Ngoài ra, luận văn còn tìm
thấy tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc cung dầu và cú sốc cầu dầu đến tỷ giá hối
đoái của Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu này vẫn còn khá mới mẻ và chưa từng có nghiên cứu thực nghiệm
tại Việt Nam trước đây. Trong quá trình diễn giải kết quả từ ước lượng mô hình, đề tài
đã đưa ra hàm ý về sự tác động của thay đổi trong giá dầu đến tỷ giá hối đoái phụ thuộc
vào loại cú sốc nguồn.
6
1.6. Kết cấu của luận văn:
Luận văn được trình bày theo thứ tự bao gồm:danh mục các từ viết tắt, danh mục
bảng biểu, danh mục hình, tóm tắt, nội dung chính, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội
dung chính của luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1. Giới thiệu
Chương 2. Nền tảng nghiên cứu
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 5. Kết luận
7
CHƯƠNG 2. NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU
2.1. Cú sốc giá dầu và tỷ giá hối đoái:
2.1.1. Tổng kết lý thuyết:
Từ góc độ lý thuyết, cú sốc dầu có thể được truyền dẫn tới tỷ giá thông qua nhiều
kênh khác nhau như: tỷ giá thương mại, hiệu ứng tài sản, cán cân thương mại và tái
USD và thích hàng hóa Đức thì 𝛾𝛾 > 𝜎𝜎 > 𝛼𝛼. Khi đó, giá dầu tăng sẽ làmđồng USD tăng
giá trong ngắn hạn nhưng giảm giá trong dài hạn.
Golub (1983) cũng xây dựng một mô hình gồm ba quốc gia Mỹ, châu Âu và OPEC.
Tương tự với Krugman (1983), Golub cũng tập trung vào sở thích đầu tư của OPEC,
phân tích tác động của giá dầu tăng đến tỷ giá hối đoái thông qua sự tái phân bổ tài sản.
Theo đó, sự gia tăng trong giá dầu làm tài khoản vãng lai của OPEC thặng dư và tài
khoản vãng lai ở các quốc gia nhập khẩu dầu thâm hụt. Giả sử, OPEC có xu hướng
thích nắm giữ đồng Mark hơn là đồng USD trong danh mục đầu tư, thì sự tái phân bổ
tài sản xảy ra theo hướng cầu đồng Mark tăng (và cung đồng USD tăng). Do đó, đồng
Mark tăng giá so với đồng USD, làm tăng tỉ trọng của đồng Mark trong tài sản thế giới,
từ đó tái lập lại trạng thái cân bằng danh mục đầu tư.
Nhìn chung, hai tác giả trên lập luận rằng giá dầu tăng sẽ làm tài sản chuyển giao từ
quốc gia nhập khẩu dầu sang quốc gia xuất khẩu dầu, dẫn đến thay đổi tài khoản vãng
lai và tái phân bổ danh mục đầu tư. Vì vậy, sự tăng giá dầu có thể sẽ làm cho đồng tiền
của nước nhập khẩu dầu giảm giá và đồng tiền của nước xuất khẩu dầu tăng giá.
Tuy nhiên, nếu nước nhập khẩu dầu có tỉ trọng nhập khẩu từ nước xuất khẩu dầu
nhỏ hơn tỉ trọng xuất khẩu cho nước xuất khẩu dầu đó thì sự chuyển giao tài sản từ
nước nhập khẩu dầu sang nước xuất khẩu dầu sẽ cải thiện cán cân thương mại của nước
nhập khẩu dầu, nghĩa là tác động dài hạn của giá dầu tăng có thể sẽ làm đồng tiền của
nước nhập khẩu dầu này tăng giá (Narayan, 2013).
9
2.1.2. Bằng chứng thực nghiệm:
Khá nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái.
Và thông thường, các nghiên cứu này có xem xét hai vấn đề: (1) quốc gia đang xét là
quốc gia nhập khẩu dầu ròng hay là quốc gia xuất khẩu dầu ròng; (2) chế độ tỷ giá hối
đoái của quốc gia đang xét là gì (thả nổi hoàn toàn, thả nổi có quản lý hay cố định). Để
cho kỳ trước đó) do không có dữ liệu CPI theo ngày. Việc quan sát diễn tiến của giá
dầu và tỷ giá hối đoái theo họ thì không đòi hỏi thông tin về giá trị thực. Kết quả chính
của họ là giá dầu tăng làm tăng giá đồng Fijian, cụ thể là nếu giá dầu tăng 10% sẽ làm
cho đồng Fijian tăng 0,2% giá trị. Ngân hàng Trung ương của Fiji (RBF) đã tăng lãi
suất để phản ứng với sự dao động của giá dầu: tháng 10/2005, tăng lãi suất chính thức
và gần 06 tháng sau (24/02/2006) tiếp tục tăng lãi suất từ 2,25% lên 4,25%. Trong giai
đoạn này, lạm phát đã tăng từ 3% lên 6% và thâm hụt tài khoản vãng lai (một phần là
do giá dầu tăng) đã tăng lên khoảng 13% trên GDP.
Ghosh (2011) cũng dùng mô hình GARCH và EGARCH để kiểm định mối quan hệ
giữa giá dầu Brent (bằng đồng USD) và tỷ giá hối đoái, đồng thời kiểm định tác động
bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu thô (với cùng độ lớn) đến biến động tỷ giá hối
đoái của India. Giai đoạn nghiên cứu là từ 07/2007 đến 11/2008, kỳ quan sát theo ngày.
India theo chế độ cố định tỷ giá hối đoái đến tháng 03/1992, sau đó chuyển sang chế độ
thả nổi tỷ giá có quản lý. Ghosh (2011) cho thấy rằng giá dầu tăng dẫn đến đồng rupee
giảm giá so với đồng USD. Tác giả này diễn giải kết quả như sau: kết quả phù hợp với
lý thuyết về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái đối với một nước nhập khẩu
dầu, nên một sự gia tăng hoặc kỳ vọng gia tăng trong giá dầu quốc tế sẽ làm cho các
nhà máy lọc dầu của India tốn kém nhiều đồng USD hơn để nhập khẩu dầu, dẫn đến sự
sụt giảm giá trị đồng rupee. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy cú sốc giá dầu có tác
động cân xứng về dấu đến biến động tỷ giá hối đoái (trái ngược với một số nghiên cứu
khác), và cú sốc giá dầu có tác động dai dẳng đến biến động tỷ giá hối đoái tại India.
11
Selmi và cộng sự (2012) tập trung vào hai nền kinh tế nhỏ là Morocco (nước nhập
khẩu dầu ròng) và Tunisia (nước xuất khẩu dầu ròng) trong việc nghiên cứu tác động
của biến động trong giá dầu bằng đồng USD đến tỷ giá hối đoái. Morocco ban đầu neo
tỷ giá cố định với đồng Franc cho đến năm 1996 thì chuyển sang chế độ dải băng tỷ
giá. Tunisia neo tỷ giá cố định với một rổ tiền tệ cho đến năm 1994, chuyển sang neo
tăng sự lo ngại về viễn cảnh tăng trưởng kinh tế thế giới của các quốc gia mới nổi,
khiến cho dòng tiền chảy ra khỏi các quốc gia này nhiều thêm.
Aviral và cộng sự (2013) kiểm định ảnh hưởng của giá dầu bằng USD đến tỷ giá
thực đa phương của Romania bằng mô hình biến đổi Wavelet để khắc phục vấn đề
không dừng của dữ liệu chuỗi thời gian. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ
02/1986 đến03/2009, kỳ quan sát theo tháng. Từ năm 1990 – 1991, Romania duy trì
chế độ neo tỷ giá với biên độ dao động rất hẹp. Bắt đầu từ năm 1992, Romania áp dụng
chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý cho đến thời điểm nghiên cứu.Kết quả của Aviral
(2013) tìm thấy rằng giá dầu có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá thực đa phương trong ngắn
hạn và mạnh mẽ hơn trong dài hạn. Mối quan hệ cùng chiều giữa hai biến này được tìm
thấy trong hầu hết các trường hợp, nghĩa là sự gia tăng giá dầu có liên quan đến sự gia
tăng giá trị thực của đồng Leu, nhưng cũng có những giai đoạn mà mối quan hệ này
nghịch chiều. Ngoài ra, các tác giả còn phân tách cú sốc giá dầu thành cú sốc dương và
cú sốc âm để xem xét sự bất cân xứng trong tác động của cú sốc giá dầu đến tỷ giá hối
đoái. Họ đã tìm thấy rằng cú sốc dương (thể hiện giá dầu gia tăng) có tác động đến sự
thay đổi tỷ giá hối đoái thực đa phương trong ngắn hạn mạnh hơn cú sốc âm. Kết quả
này nhất quán với kiểm định tính vững, chu kỳ 8 – 16 tháng của giá dầu gây ra chu kỳ
4 – 8 tháng của tỷ giá hối đoái, nhưng kiểm định tính vững không thể nêu lên chiều
hướng tác động của cú sốc dương trong giá dầu là làm tăng hay làm giảm giá trị đồng
Leu.
Turhan và cộng sự (2014) nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu thô (bằng đồng
USD) và tỷ giá so với USD của 20 quốc gia trong giai đoạn 2000 – 2013. Trong đó,
13
loại trừ Argentina, China, Saudi Arabia do chế độ tỉ giá cố định. Mẫu còn lại gồm 17
quốc gia: Russia, India và Indonesia có chế độ thả nổi có quản lý, và 14 nước còn lại là
chế độ thả nổi hoàn toàn. Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình mối quan hệ theo thời
gian có tính động thuần nhất (cDCC). Khi xem xét hai sự kiện (1) cuộc xâm lược Irag
bởi vì thay đổi sản lượng trong ngắn hạnrất tốn kém nên khi cầu thay đổi (do sự không
ổn định,dù là dai dẳng hay tạm thời, trong nguồn cầu cơ bản), các nước sản xuất dầu
không sẵn lòng thay đổi sản lượng ngay lập tức. (2) Tổng cầu thế giới bị tác động bởi
cú sốc cung dầu nhưng không bởi cú sốc cầu dầu. (3) Giá dầu thực phản ứng với cú sốc
cung dầu và cú sốc tổng cầu toàn cầu trong cùng kỳ. Theo họ, các ràng buộc này phù
hợp với những lập luận trong các cuốn sách cổ điển về thay đổi trong giá hàng hóa là
kết quả của thay đổi trong phía cung và phía cầu hàng hóa. Giai đoạn nghiên cứu là từ
01/1974 đến 06/2013, với kỳ quan sát theo tháng.Bằng phân tích hàm phản ứng xung
dồn tích, họ đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cho thấy với các nguyên nhân gây ra
sự thay đổi trong giá dầu khác nhau sẽ làm cho tỷ giá hối đoái phản ứng khác nhau,cụ
thể là: cú sốc cung dầu không tác động có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái; cú sốc
tổng cầu toàn cầu có tác động nghịch chiều (trong một vài trường hợp có ý nghĩa thống
kê) đến tỷ giá hối đoái; trong khi bằng chứng thống kê về tác động cú sốc cầu dầu tác
động nghịch chiều đến tỷ giá hối đoái là rõ ràngở tất cả các trường hợp. Từ đó, họ kết
luận rằng khi xem xét sự tác động của giá dầu đến tỷ giá hối đoái, sẽ là thiếu sót nếu
không phân tách các cú sốc thị trường dầu thành các cú sốc phía cung và phía cầu riêng
biệt. Ngoài ra, các tác giả còn kiểm định liệu tỷ giá hối đoái có phản ứng khác nhau
giữa cú sốc dương và cú sốc âm, giữa cú sốc lớn và cú sốc nhỏ của cùng một loại cú
sốc thị trường dầu hay không. Nhìn chung, kết quả ủng hộ giả thuyết của họ: dù không
tìm thấy bằng chứng về tác động bất cân xứng ở cú sốc cung dầu, nhưng ở cú sốc tổng
cầu toàn cầu và cú sốc cầu dầu có bằng chứng thống kê rõ ràng (bất cân xứng ở cả dấu
và mức độ).
Nhìn chung, mô hình lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm đều cho thấy giá
dầu có thể tác động đến tỷ giá hối đoái qua nhiều kênh với các chiều hướng đa dạng.
15
Các quốc gia khác nhau về chế độ tỷ giá hối đoái (thả nổi hoàn toàn, thả nổi có quản lý,
cố định tỷ giá) đều được tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của giá
2013
2
Romania
1.604
2010
215.300
2013
3
Morocco
0
2010
209.400
2013
4
Tunisia
2.2. Tác động bất cân xứng về dấu của cú sốc giá dầu:
Mork (1989),dựa trên nghiên cứu của Hamilton (1983), mở rộng giai đoạn mẫu của
nghiên cứu này để xem các kết quả vẫn còn giữ nguyên hay không khi xét đếnsự sụp
đổ thị trường chứng khoán và sự thay đổi cơ chế kiểm soát giá dầu. Ngoài ra, Mork
(1989) còn tập trung xem xét phản ứng bất cân xứng của tăng trưởng GNP đối với giá
dầu tăng và giảm. Phương pháp được đưa ra là tách thay đổi trong giá dầu thành hai
biến chuỗi thời gian để kiểm định ý nghĩa thống kê của hai biến này, từ đó đưa ra các
bằng chứng về tác động bất cân xứng. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn
1949:1 – 1988:2, kỳ quan sát theo quý. Bằng cách định nghĩa biến giá dầu tăng là bằng
giá trị của biến thay đổi giá dầu khi nó dương, và bằng 0 khi nó âm. Tương tự, biến giá
dầu giảm là bằng giá trị của biến thay đổi giá dầu khi nó âm, và bằng 0 khi nó dương.
Kết quả cho thấy giá dầu tăng tác động nghịch chiều và mạnh mẽ đến tăng trưởng
GNP, trong khi tác động của giá dầu giảm thì nhỏ và chiều hướng không rõ ràng. Với
việc kỹ thuật phân tích bất cân xứng đáp ứng kiểm định tính ổn định, tác giả này kết
luận rằng phản ứng bất cân xứng của tăng trưởng GNP đối với sự thay đổi giá dầu là
khá rõ ràng.
Davis và Haltiwanger (2001) nghiên cứu về ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến sự
tăng giảm lao động trong ngành sản xuất tại US từ năm 1972 đến năm 1988. Trong đó,
các tác giả thực hiện xem xét phản ứng bất cân xứng của tăng trưởng việc làm đối với
giá dầu tăng và giảm. Bằng việc sử dụng mô hình VAR, họ đã đưa ra bằng chứng về
phản ứng bất cân xứng này. Sử dụng hàm phản ứng xung dồn tích, họ cho thấy tác
động dồn tích của cú sốc giá dầu âm đến tăng trưởng ròng của việc làm trong 7 quý
đầu là rất nhỏ (ít hơn 0,2%), trong khi cú sốc giá dầu dương với độ lớn tương tự làm số
lượng việc làm giảm hơn 2%. Xét cả giai đoạn phân tích là 15 quý, một đơn vị sốc
dương làm tăng hơn 3% lượng việc làm trong khi một đơn vị sốc âm chỉ làm giảm
1,4%.