Vi phạm trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng tỉnh cà mau luận văn thạc sĩ 2016 - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------

HUỲNH VĂN ĐẦY

VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------

HUỲNH VĂN ĐẦY

VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Tài Chính –Ngân hàng
Mã số

: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1.1

Lý do chọn nghiên cứu đề tài này

1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu

5

1.3

Đối tượng nghiên cứu

5

1.4

Phạm vi nghiên cứu

5

1.5

Phương pháp nghiên cứu

5



2.1.3

Nhận thức

10

2.1.4

Học hỏi

11

Một số các hành vi vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng

12

2.2.1

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

12

2.2.2

Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

15

2.2.3


2.3.2

Yếu tố về tuổi

24

2.3.3

Yếu tố về trình độ văn hóa

26

2.3.4

Yếu tố về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

27

2.3.5

Yếu tố về nơi làm việc (môi trường công tác)

28

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

29

3.1

Mô tả mẫu

32

4.2

Phân tích nhóm

41

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

57

5.1

Kết luận

57

5.2

Kiến nghị

58

Danh mục tài liệu tham khảo

60



33

Bảng 4.3. Trình độ văn hóa

35

Bảng 4.4. Trình độ chuyên môn

36

Bảng 4.5. Nơi làm việc

37

Bảng 4.6. Tội danh

38

Bảng 4.7. Hành vi vi phạm

39

Bảng 4.8. Tội danh – giới tính

41

Bảng 4.9. Tội danh – tuổi

41

Bảng 4.17 Hành vi vi phạm – Trình độ chuyên môn

48

Bảng 4. 18 Hành vi vi phạm – Nơi làm việc

49

Bảng 4.19 Giới tính – Tuổi

50

Bảng 4. 20 Giới tính – Văn hóa

51

Bảng 4. 21 Giới tính – Trình độ chuyên môn

51

Bảng 4. 22. Giới tính – Nơi làm việc

52

Bảng 4. 23 Tuổi – Văn hóa

53

Bảng 4. 24 Tuổi – Trình độ chuyên môn


hết là các vụ án nghìn tỷ, gây tổn thất rất lớn cho Nhà nước.
Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát kinh tế - Bộ Công an thì tính từ
năm 2005 đến nay (31/12/2014) lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phát hiện và điều
tra trên 1000 vụ với trên 1700 đối tượng, tài sản thiệt hại trên 30.000 tỷ đồng
(trong đó khởi tố trên 600 vụ với trên 1200 bị can).
Tội phạm trên lĩnh vực ngân hàng đã làm cho quá trình triển khai các chủ
trương, chính sách pháp luật về hoạt động ngân hàng bị sai lệch, dẫn đến niềm tin
của nhân dân vào sự lãnh chỉ đạo của Đảng và sự điều hành của nhà nước bị suy
giảm. Mặt khác tội phạm trên lĩnh vực ngân hàng cũng đã tác động đến hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, làm tăng rủi ro và nguy cơ mất an toàn hệ thống


2
ngân hàng; trực tiếp phá hoại tư tưởng tổ chức và làm tha hóa, biến chất một bộ
phận cán bộ, đảng viên trong các ngân hàng.
Trên địa bàn tỉnh Cà Mau những năm qua mặc dù tội phạm trên lĩnh vực
ngân hàng tương đối ít so với các tỉnh, thành trên cả nước nhưng mức độ thiệt hại
thì không hề nhỏ như: vụ án xảy ra tại VDB khu vực Minh Hải năm 2013 trên
1.200 tỷ đồng, với các hành vi vi phạm của cán bộ ngân hàng ngày càng nhiều và
có dấu hiệu lây lang tới nhiều thành phần, đối tượng ngoài xã hội gây bất ổn về
an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây mất niềm tin và bất an của nhân dân khi phải
giao dịch qua hệ thống ngân hàng. Đặc biệt hiện nay đang trong giai đoạn tái cấu
trúc lại hệ thống ngân hàng, theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là sáp
nhập, ghép các ngân hàng nhỏ, yếu kém với ngân hàng lớn nhằm từng bước tăng
cường khả năng nguồn vốn để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài
cũng như hiện đại hóa hệ thống ngân hàng,…thì vai trò của cán bộ nhân viên
ngân hàng hết sức quan trọng, sự quản lý điều hành của hệ thống ngân hàng để
giảm thiểu mức độ sai phạm của ngành là cần thiết.
Cà Mau là một tỉnh nhỏ nằm ở cuối cùng của Tổ quốc nhưng lại là tỉnh
có thế mạnh của cả nước về xuất khẩu mặt hàng thủy sản. Do vậy hệ thống ngân

trợ kích thích xuất khẩu và Cà Mau là tỉnh nằm trong chủ trương đó, với vốn giải
ngân (kể cả đầu tư cho nhà xưởng, máy móc, thiết bị), thể hiện như sau:
Năm 2008

5.000 tỷ đồng

Năm 2009

7.000 tỷ đồng

Năm 2010

4.000 tỷ đồng

Năm 2011

3.800 tỷ đồng

Năm 2012

3.000 tỷ đồng


4

Năm 2013

2.000 tỷ đồng

Năm 2014



5

1.2. Mục tiêu nghiên cứu.
Phân tích các hành vi vi phạm của cán bộ, nhân viên ngân hàng ở Cà
Mau với các yếu tố cơ bản về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
giới tính, môi trường công tác và tuổi.
Một số tồn tại cơ bản và thực trạng về các hành vi vi phạm của ngành
ngân hàng tại tỉnh Cà Mau giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014.
Phân tích đa chiều về các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến hành vi vi
phạm trong hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Cà Mau
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hành vi vi phạm trong hệ thống ngân hàng
và các nhân tố có tác động, ảnh hưởng đến hành vi này.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài sẽ được nghiên cứu trong phạm vi các ngân hàng trên địa bàn tỉnh
Cà Mau.
Thời gian từ năm 2005 đến năm 2014 (10 năm).
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
Thu thập dữ liệu thứ cấp và sử dụng phương pháp phân tích qua phần
mềm SPSS để đánh giá mẩu, so sánh đa chiều về các yếu tố với hành vi vi phạm
của các đối tượng có liên quan đến .
1.6. Kết cấu đề tài.
Luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết


6

9
- Tính cởi mở
- Độc đoán
- Chủ nghĩa thực dụng
- Tự kiểm soát
- Thiên hướng chấp nhận rủi ro
2.1.2.3. Tính cách phù hợp với công việc.
Thực tế là tính cách của các cá nhân rất khác nhau và đặc điểm, nội dung,
yêu cầu của các công việc cũng vậy. Theo đó, các nhà quản lý đã có những nỗ
lực để chọn những người có tính cách phù hợp với những yêu cầu của những
công việc.
2.1.2.4. Tính cách và hành vi của cá nhân.
Các nhà tâm lý học nghiên cứu về tính cách cho rằng hành vi của cá nhân
thực sự bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những đặc điểm tính cách của bản thân. Thứ
nhất, những đặc điểm tính cách sẽ quyết định cách thức hành động và ra quyết
định của cá nhân trong những tình huống nhất định. Chẳng hạn, một cá nhân có
tính hướng ngoại thì thường ra quyết định rất nhanh và thường không suy nghĩ
một cách chính chắn trước khi đưa ra quyết định nào đó. Ngược lại, một người có
tính hướng nội thường suy nghĩ rất nhiều trước khi đưa ra quyết định. Thứ hai,
tính cách của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến cách cư xử của họ với các thành viên
khác khi họ làm việc trong cùng một nhóm. Chẳng hạn, cá nhân có tính hòa đồng
cao thì sẽ ít có xung đột hay mâu thuẫn với các thành viên khác trong nhóm
nhiều hơn.


10

2.1.3. Nhận thức.
2.1.3.1. Nhận thức và các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức.
Nhận thức là một quá trình qua đó cá nhân sắp xếp và lý giải những ấn

tổ chức. Chẳng hạn, các nhà quản lý thường xuyên đánh giá kết quả làm việc của
nhân viên dưới quyền, các nhân viên đánh giá liệu những nhà quản lý có thực sự
công bằng không. Trên thực tế, các cá nhân thường sử dụng "những lối tắt" để
đánh giá.
2.1.4. Học hỏi.
2.1.4.1. Học hỏi.
Khái niệm cuối cùng được đưa ra là học hỏi với lý do là hầu như toàn bộ
hành vi phức tạp nhất của con người đều được học hỏi. Nếu chúng ta muối giải
thích, dự đoán hay kiểm soát hành vi, chúng ta cần phải hiểu người ta học hỏi ra
sao.
2.1.4.2. Quá trình học hỏi.
Học hỏi giúp chúng ta thích nghi và làm chủ môi trường; bằng cách thay
đổi hành vi cho phù hợp với các điều kiện đang thay đổi, chúng ta trở thành
những công dân có trách nhiệm. Học hỏi được xây dựng dựa trên quy luật ảnh
hưởng, quy luật cho rằng hành vi phụ thuộc vào những hệ quả của nó. Hành vi
mà theo sau nó là một hệ quả không thuận lợi thường không được lập lại; hành vi
mà theo sau đó là một hệ quả thuận lợi thường được lập lại.


12

2.2. Một số các hành vi vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng.
2.2.1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối
làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm
tội để chiếm đoạt tài sản đó.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 Bộ luật hình
sự nước CHXHCNVN.
Về hình phạt:
- Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có

pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt
này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian
dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối
khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của
khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này
mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm
tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho
người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho
kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.
- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội
sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà
không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường
hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ
dân sự


14
- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào
một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng
đó.
Dấu hiệu khác
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai
triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi
kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người

trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
- Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì
bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.
- Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm
Cũng như đối với tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà
nước”, chủ thể của tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” cũng được
coi là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ
quan, tổ chức mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Việc xác định tư cách chủ
thể của tội phạm này là việc làm đầu tiên khi xác định hành vi phạm tội.
Cũng như đối với các tội phạm về chức vụ khác, người có chức vụ,
quyền hạn là người đã được phân tích ở phần khái niệm về chức vụ. Tuy nhiên,
đối với tội phạm này khác với các tội thiếu trách nhiệm quy định tại các Điều
144, 235 và 301 Bộ luật hình sự ở chỗ, trách nhiệm của người phạm tội là trách


16
nhiệm gián tiếp đối với hậu quả xảy ra (hành vi thiếu trách nhiệm không phải là
nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nghiêm trọng). Đây cũng là dấu hiệu để
phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với ba trường hợp thiếu
trách nhiệm quy định tại các Điều 144, 235 và 301 Bộ luật hình sự.
Mặc dù chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biêt, nhưng điều khẳng
định này cũng chỉ đúng đối với trường hợp vụ án không có đồng phạm, nếu vụ án
có đồng phạm thì chỉ yêu cầu người thực hành phải là người có chức vụ, quyền
hạn, còn những người đồng phạm khác không nhất thiết phải là người có chức
vụ, quyền hạn.
Dù là người có chức vụ, quyền hạn hay người đồng phạm khác trong vụ
án, thì họ cũng chỉ trở thành chủ thể của tội phạm này trong những trường hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status