Những lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) của doanh nghiệp nghiên cứu trường hợp của tập đoàn siam cement (SCG) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------

NGUYỄN TRƯỜNG XUÂN NAM

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI (CSR) CỦA DOANH NGHIỆP – NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP CỦA TẬP ĐOÀN SIAM CEMENT (SCG)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 06 năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------

NGUYỄN TRƯỜNG XUÂN NAM

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI (CSR) CỦA DOANH NGHIỆP – NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP CỦA TẬP ĐOÀN SIAM CEMENT (SCG)

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
Mã số: 60340102

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THANH HỘI


1.2 Kim tự tháp CSR ....................................................................................................... 12
1.3 Lợi ích của SCR đối với doanh nghiệp ..................................................................... 15
1.3.1 Lợi ích về tài chính ................................................................................................. 15
1.3.2 Lợi ích phi tài chính................................................................................................ 19
1.4 Kinh nghiệm CSR một số doanh nghiệp nước ngoài ................................................ 21
1.4.1 Kinh nghiệm thực hiện CSR của tập đoàn Toyota ................................................. 21
1.4.2 Kinh nghiệm thực hiện CSR của công ty KPMG Trung Quốc ............................... 23
1.5 Thực hiện CSR .......................................................................................................... 24
1.5.1 Tiến hành đánh giá CSR ........................................................................................ 25


1.5.2 Phát triển chiến lược CSR ..................................................................................... 25
1.5.3 Phát triển cam kết CSR.......................................................................................... 26
1.5.4 Thực hiện cam kết trách nhiệm xã hội.................................................................... 26
1.5.5 Báo cáo và kiểm tra tiến độ .................................................................................... 27
1.5.6 Đánh giá và cải tiến ............................................................................................... 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ THỰC HIỆN CSR TẠI TẬP ĐOÀN SIAM
CEMENT GROUP VIỆT NAM ...................................................................................... 29
2.1 Tổng quan về Tập đoàn Siam Cement Group (SCG) ................................................ 29
2.2 Chính sách Phát triển bền vững của SCG ................................................................. 33
2.3 Thực hiện phát triển bền vững tại SCG ..................................................................... 35
2.3.1 Giảm thiểu rủi ro .................................................................................................... 37
2.3.2 Vận hành xuất sắc .................................................................................................. 38
2.3.3 Tạo ra cơ hội kinh doanh ....................................................................................... 38
2.4 SCG thực hiện CSR với các bên liên quan ................................................................ 39
2.5 SCG và các phương diện ........................................................................................... 43
2.5.1 SCG và Phương diện môi trường ........................................................................... 43
2.5.2 SCG và Phương diện kinh tế .................................................................................. 49
2.5.3 SCG và Phương diện xã hội ................................................................................... 50
2.6 Đánh giá việc thực hiện CSR của các công ty SCG tại Việt Nam ............................ 54


Hình 1: Bộ ba yếu tố cốt lõi

13

Hình 2: Động lượng CSR

16

Hình 3: Đường giá trị CSR

17

Hình 4: Mối quan hệ giữa các yếu tố CSR cốt lõi của TMC

21

Hình 5: Phương thức Toyota

22

Hình 6: Các cơ quan thực thi chính sách CSR của TMC

22

Hình 7: So sánh lượng tiêu thụ năng lượng giữa năm 2007 và 2010

24

Hình 8: Ủy ban Phát triển bền vững


- Corporate Social Responsibility, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

GRI-G3

- Báo cáo hướng dẫn về Phát triển bền vững của GRI, lần 3

ICLEL

- Chính quyền địa phương phát triển bền vững

ISO

- Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

NGO

- Tổ chức phi chính phủ

OECD

- Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển

SCG

- Tập đoàn Siam Cement

TBL

- Triple Bottom Line, Bộ ba yếu tố cốt lõi

tiên ở Thái Lan. Công ty đầu tiên của SCG bắt đầu hoạt động trong ngành công
nghiệp xi măng và một số ngành liên quan, sau đó dần dần trở thành nhà sản xuất xi
măng lớn nhất ở Thái Lan. Kể từ đó các doanh nghiệp mở rộng vào giấy, hóa chất,
vật liệu xây dựng và thị trường hậu cần như vận chuyển, dịch vụ. Từ năm 1992,
SCG đã đầu tư vào Việt Nam với việc thành lập văn phòng đại diện tại thành phố
Hồ Chí Minh, sau đó thành lập nhiều Công ty tại Hồ Chí Minh và Bình Dương.
Hiện nay, SCG đã khoảng 24.000 nhân viên trên toàn Thái Lan, Việt Nam và một
số nước Đông Nam Á với 200 công ty thuộc 5 nhóm kinh doanh trên thị trường
chính ở cả hai cấp độ trong nước và quốc tế. Trong lịch sử kinh doanh, đã có nhiều
cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính khiến các doanh nghiệp phải đóng cửa, CSR
đã được giới thiệu và ứng dụng để khắc phục vấn đề bằng cách đạt được sự tin
tưởng của tất cả các bên liên quan để đạt được tính bền vững dài hạn.
Việc tiếp cận CSR mới có thể vừa hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh
lâu bền vừa đóng góp vào việc bảo vệ và cải thiện tiêu chuẩn xã hội, tiêu chí xây
dựng CSR là trọng tâm trong tổng thể chiến lược kinh doanh nhằm thức đẩy và hỗ
trợ doanh nghiệp giải quyết một cách sáng tạo những vấn đề và thách thức trong
quá trình kinh doanh và phát triển.


Nhận thức về phát triển bền vững, công ty chủ yếu tập trung vào bộ ba cốt lõi
bền vững “Triple Bottom Line” phụ thuộc vào ba yếu tố chính là môi trường, xã hội
và kinh tế. Và đây chính là một trong những yếu tố đã được xây dựng tại tập doàn
SCG. Hơn nữa SCG đã mở rộng chiến lược kinh doanh của họ để đáp ứng tất cả các
khía cạnh theo khái niệm bộ ba cốt lõi để giảm rủi ro và tăng danh tiếng của công
ty. Thực hiện trách nhiệm xã hội trong các công ty được coi là cách giao tiếp và sự
hiểu biết trách nhiệm xã hội đối với tất cả các bên liên quan, để đạt được sự hợp tác
giữa các tổ chức hướng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội một cách đồng nhất.
Đồng thời, việc nghiên cứu trường hợp của SCG được thực hiện thông qua phân
tích các yêu cầu tích hợp các khía cạnh xã hội, đạo đức và sinh thái đã góp phần làm
rõ định hướng phát triển bền vững của SCG. Theo đó, các cấp quản lý chiến lược và

Hiện nay, Thụy Điển dường như là quốc gia có việc thực hiện trách nhiệm xã
hội và phát triển bền vững bởi nhiều công ty thành công rất quan tâm như IKEA và
H&M. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa được nhận thức đầy đủ và chỉ có số ít công ty
đã và đang thực hiện trách nhiệm xã hội. Vì thế, Tôi muốn tiến hành nghiên cứu
liên quan đến lĩnh vực này. Ngoài ra, luận văn tập trung vào “Những lợi ích của
việc thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) của doanh nghiệp – nghiên cứu trường hợp


2

của tập đoàn Siam Cement (SCG)” để có thể hiểu rõ hơn về việc thực hiện và làm
thế nào nó ảnh hưởng lên toàn bộ tổ chức. Hơn nữa, SCG là một trong những hình
mẫu cơ bản trong việc phát triển các hoạt động CSR của Thái Lan và Việt Nam, đây
là một trong những lý do Tôi đã chọn SCG làm tình huống nghiên cứu thực tế.
Ngoài ra, SCG được xếp thứ 14 trong 200 công ty tham gia vào CSR ở Châu Á theo
như Đánh giá về phát triển bền vững châu Á năm 2009.
Thêm vào đó, báo cáo này tập trung vào các lợi ích của việc hoạt động CSR
cũng như phát triển bền vững. Dựa trên ý tưởng chính là đạt được phát triển kinh tế
và xã hội đảm bảo không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên. Nó đi kèm với
những điều cơ bản để giảm việc sử dụng các nguồn tài nguyên cũng như để duy trì
các hệ sinh thái và công bằng trong thời gian dài cho thế hệ sau (Laszlo, 2003).
Theo đó, phát triển kinh tế phải đi cùng với việc duy trì môi trường.
2. Tình hình nghiên cứu về CSR trên thế giới.
2.1 Lịch sử phát triển của CSR
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã trở thành một chủ đề gây nhiều
tranh luận cho tất cả các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học, và cả các
chính trị gia trên toàn thế giới trong nhiều năm qua.
Trong cuốn sách Kinh Doanh có trách nhiệm: Làm thế nào để quản trị thành
công một chiến lược CSR, tác giả Manfred Pohl và Nick Tolhurst đã dẫn ra nghiên
cứu của Weyne Visser về cuộc cách mạng của CSR. Ông chỉ ra rằng khái niệm về

được ban hành, hơn 100 trong số đó có thể tìm thấy trong cuốn: “Từ A đến Z những
điều cần biết về CSR” (The A to Z of corporate social responsibilities).
Thậm chí hiện nay trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện khái niệm CSR mới – CSR
2.0 (Corporate Sustainability Responsibility) trên cơ sở kế thừa và phát triển khái
niệm CSR 1.0.
John D. Rockefeller: sáng lập tập đoàn dầu lửa Standard Oil, sáng lập trường
ĐH Chicago và Rockefeller, sang lập quỹ từ thiện Rockefeller. Như vậy có thể xem
CSR như một làn sóng mạnh mẽ đang trỗi dậy trên thế giới trong suốt nhiều thập kỷ
qua. Nó đã trở thành một trong những đề tài nghiên cứu gây nhiều chú ý và tranh
luận nhất cho các học giả. Chúng ta hãy thử nhìn nhận những hướng nghiên cứu
chính về CSR của các học giả nước ngoài và trong nước sau đây..


4

* Những hướng nghiên cứu chính .
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
được công bố trên thế giới. Các đề tài liên quan trực tiếp đến các học giả nước ngoài
có thể được chia thành 4 nhóm như sau:
Nhóm 1: Nhóm chủ yếu nghiên cứu, đưa ra những lý luận cơ bản về trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp. Tuy nhiên những lý luận này là khác nhau, tùy thuộc vào
từng góc độ đánh giá của các học giả. Nhưng nhìn chung, các bài lý luận thuộc
nhóm này có sự kế thừa và phát triển từ những bài nghiên cứu trước đó. Nhóm này
là một trong hai nhóm có số lượng bài nghiên cứu nhiều nhất. Một số bài tiêu biểu
của nhóm này gồm có:
- “The social responsibility of business is to increase its profit”, Fredman Milton
(1970), đăng trên tạp chí the New York Times, ngày 13 tháng 9, năm 1970. Bài báo
cho rằng doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm xã hội là làm sao để tối đa hóa lợi
nhuận, tăng giá trị cổ đông trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh
trung thực và công bằng. Ông cho rằng trách nhiệm xã hội là của nhà nước, nên

bài nghiên cứu hay có những điểm tương đồng. Nội dung chủ yếu nêu ra những
quan điểm của các tác giả về mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới giá trị và sáng
tạo trong doanh nghiệp.
Sau đó tác giả áp dụng lý luận vào phân tích các trường hợp cụ thể như ngành y
dược, giáo dục hay thậm chí là một doanh nghiệp cụ thể ở Ireland. Qua đó, thấy rõ
được vai trò của CSR đối với hoạt động đổi mới và sáng tạo của doanh nghiệp.
- Corporate Social Responsibility: CSR Communication as an Instrument to
Consumer-Relationship Marketing, của tác giả Elena Bueble (2009). Cuốn sách nêu
lên mối quan hệ giữa CSR và sự thể hiện của công ty, và đặc biệt là coi giao tiếp
CSR như một kênh quản trị quan hệ khách hàng. Tác giả còn có những đóng góp
quan trọng trong việc định hình phương pháp tính toán mức độ giao tiếp CSR với
khách hàng. Thông qua đó, tác giả cũng đưa ra những chiến lược để các doanh
nghiệp có thể áp dụng việc thực hiện CSR vào quản trị quan hệ khách hàng.
- “Corporate Social Responsibility: The key role of human resource
management”, của các tác giả Surpan Sarma, Joity Sarma, và Arti Devi (2009).
Nhóm các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa CSR và hoạt động quản trị
nhân sự trong công ty. CSR có thể làm nền tảng cho việc quản trị nhân sự được hiệu


6

quả, và quản trị nhân sự được gợi ý mang ý nghĩa quan trọng nhất trong việc thúc
đẩy các hoạt động CSR ở mọi cấp độ trong công ty.
Nhìn chung nhóm này là nhóm có số lượng bài nghiên cứu đông đảo nhất và
cũng đa dạng nhất. Mỗi bài nghiên cứu lại bao gồm một chủ đề nhỏ trong bức tranh
toàn cảnh CSR. Vì vậy muốn hiểu được hầu hết các quan điểm, cần phải có một hệ
thống kết nối cũng như phân loại cụ thể, rõ rang.
Nhóm 3: Nhóm chủ yếu đi tìm các phương pháp để đánh giá vai trò, ý nghĩa, mức
độ hiệu quả của các chương trình CSR đối với doanh nghiệp.
Một số đại diện của nhóm này gồm có:

Abagail; Siegel Donald S; Wright Patrick, M (2005), đăng trên tạp chí Journal
Management Studies. Nhóm các tác giả đã phát triển một khuôn mẫu cho việc nhận
định các hàm ý chiến lược về CSR trong doanh nghiệp. Sau đó các tác giả nghiệm
thu những kết quả nghiên cứu trước đó, phân loại và đưa vào áp dụng cho phù hợp
với những khuôn mẫu sẵn có. Nhờ vậy mà, nhóm các tác giả đã đưa ra được một bộ
các chiến lược về việc thực hiện CSR dựa trên kế thừa quan điểm của khá nhiều học
giả khác.
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, nhắc đến CSR là nhắc đến một khái niệm còn rất mới mẻ và mơ
hồ đối với một số không ít các doanh nghiệp. CSR được giới thiệu tới Việt Nam bởi
các công ty đa quốc gia có nhà máy tại Việt Nam, thông qua các quy tắc ứng xử.
Các công ty may mặc và da giầy, điển hình là May 10 là những công ty đầu tiên ở
Việt Nam thực hiện chính sách về CSR. Chính vì lẽ đó mà số lượng các bài nghiên
cứu về CSR ở Việt Nam là chưa nhiều. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu có
thể kể đến:
- Báo cáo về CSR ở Việt Nam”, Nigel Twose và Tara Rao (2003) tổng kết tình
hình thực hiện CSR trong ngành dệt may và da giầy của Việt Nam, đã chỉ ra những
động lực thúc đẩy thực hiện CSR trong 2 ngành này nhấn mạnh vai trò của chính
phủ trong việc thúc đẩy thực hiện CSR trong cộng đồng doanh nghiệp.
Theo các tác giả, chính phủ Việt Nam nên quan niệm rằng thực hiện CSR chính
là cơ chế quan trọng để đạt được lợi thế cạnh tranh quốc gia trên thị trường thế giới.
- “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – CSR: một vấn đề lý luận và yêu cầu
đổi mới trong quản lý nhà nước đối với CSR ở Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn


8

Đình Cung và Lưu Minh Đức, đăng trên viện khoa học xã hội Việt Nam. Bài viết đã
tóm tắt một số vấn đề lý luận về CSR, các vấn đề tranh cãi xoay quanh chủ đề này,
cũng như đã nêu ra được thực trạng hoạt động CSR ở Việt Nam. Nhóm tác giả đồng



9

-

Lợi ích của việc thực hiện các hoạt động CSR là gì?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Vấn đề thực hiện CSR tại các công ty trực thuộc tập đoàn SCG tại
Việt Nam.
- Phạm vi:
Không gian: Các công ty trực thuộc tập đoàn SCG tại Việt Nam.
Thời gian: Giai đoạn 2012 – 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở các tài liệu thứ cấp, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp – phân
tích, phương pháp thống kê để phân tích, nhận định để có được những đánh giá về
vấn đề và đưa ra các gói giải pháp.
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng vấn đề thực hiện CSR tại tập đoàn Siam Cement Group
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả CSR đối với tập đoàn Siam
Cement Group tại Việt Nam


10


11

Còn A. Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả những vấn
đề pháp lý, kinh tế, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh
nghiệp trong những thời điểm nhất định”. Trong khi đó, theo Matten và Moon
(2004): “CSR là một khái niệm bao trùm các khái niệm khác như đạo đức kinh
doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách
nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng
hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”.
Như vậy, chúng ta phần nào thấy được bản chất của CSR và trong luận văn
này tác giả quyết định lấy quan điểm chính thức của Hội đồng doanh nghiệp vì sự
phát triển bền vững – World Business Council for Sustainable Development
(WBCSD) làm để làm bật lên bản chất của CSR, đó là: “CSR là cam kết liên tục
của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh
tế, trong khi đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ
cũng như của cộng đồng và xã hội”. Lý do tác giả chọn quan điểm này để minh
họa cho khái niệm CSR vì WBCSD là một tổ chức nghiêm túc trong thúc đẩy CSR
trong các doanh nghiệp thành viên và quan điểm này cũng được giới khoa học đánh
giá cao.
Đồng thời, cũng có rất nhiều định nghĩa khác về trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp:
Theo liên minh châu Âu:
“Một khái niệm theo đó các công ty tích hợp vấn đề xã hội và môi trường trong
hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên
cơ sở tự nguyện” (www.eu-trader.org)
Định nghĩa khác về trách nhiệm xã hội (BSR)
“CSR đề cập đến các công ty đạt được thành công thương mại theo những cách
nhằm tôn vinh giá trị đạo đức và tôn trọng nhân dân, cộng đồng và môi trường tự
nhiên” (www.bsr.org/AdvisoryServices /CSR.cfm)


và phúc lợi của con người, chẳng hạn như những đóng góp cho nghệ thuật, giáo


13

dục, hoặc cộng đồng. Quá trình này là rất quan trọng để các nhà quản lý và nhân
viên tham gia hoạt động tình nguyện và từ thiện trong cộng đồng (Carroll AB,
1991).
Trờ thành công dân
doanh nghiệp tốt

Trách nhiệm
từ thiện

Đóng góp công đồng, cải
thiện chất lượng cuộc sống

Có đạo đức

Trách nhiệm
đạo đức

Làm đúng, công bằng,
không gây hại

Tuân thủ pháp luật

Trách nhiệm
pháp lý



nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận nền tảng, cơ bản nhất và không
thể thiếu đối với CSR.
- Trách nhiệm đạo đức: đây là những chuẩn mực, quy tắc được xã hội thừa
nhận nhưng chưa có mặt trong các văn bản luật. Trên thực tế, những chuẩn mực xã
hội luôn biến đổi và vì thế những chính sách pháp luật chỉ có thể theo sau trong quá
trình biến đổi này. Do đó, pháp luật không thể phản ánh hết những đòi hỏi về những
quy tắc ứng xử của xã hôi. Vì vậy, trách nhiệm thực hiện đúng luật pháp là đòi hỏi
tối thiểu với doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần phải thực hiện những
nghĩa vụ, quy tắc ngoài luật hay chính là trách nhiệm đạo đức. Việc thực hiện trách
nhiệm đạo đức là tự nguyện đối với mọi doanh nghiệp nhưng lại có vai trò trung
tâm đối với CSR (ví dụ như việc thực hiện ngày nghỉ cuối tuần, tiền cho nhân công
làm thêm ca, uy tín đối với đối tác, quan hệ tốt với khách hàng…).
- Trách nhiệm từ thiện: là những hoạt động của doanh nghiệp đã vượt qua sự
kỳ vọng của xã hội. Một số ví dụ như trao quà cho trẻ mồ côi, tài trợ học bổng cho
học sinh, sinh viên,… Trách nhiệm từ thiện khác trách nhiệm đạo đức ở chỗ, doanh
nghiệp thực hiện trách nhiệm này “hoàn toàn tự nguyện”. Nếu doanh nghiệp không
thực hiện CSR tới mức độ này thì họ vẫn được coi là đã hoàn thiện đầy đủ trách
nhiệm với xã hội.
Bên cạnh những phân tích về nội dung của mô hình trên, nó cũng được đông
đảo học giả đưa ra rất nhiều đánh giá tích cực:
- Có tính toàn diện và khả thi cao. Mô hình này có thể được áp dụng trong việc xây
dựng khuôn khổ chính sách về CSR của nhà nước.
- Việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng đã làm thỏa mãn nhu cầu về lý thuyết
đại diện trong quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, việc làm này còn giúp xóa đi
những hoài nghi về tính trung thực trong những chương trình CSR của doanh
nghiệp. Cũng vì vậy, nó xóa đi ranh giới của việc thực hiện CSR là “vì mình” hay
“vì người”, khiến hai mục đích này là không thể tách rời.
- Ranh giới giữa các tầng của kim tự tháp luôn chồng lấn lên nhau, không thể tách
rời và tác động lẫn nhau.

kiệm được chi phí vận chuyển vì các trang trại gần 2 nhà máy của họ. Hơn nữa việc
sử dụng các trang trại địa phương là sự đảm bảo tốt nhất cho chất lượng sản phẩm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status