Sự cần thiết của việc thực hiện trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn SA 8000 của các doanh nghiệp việt nam trong thời kỳ hội nhập WTO - Pdf 42

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam của chúng ta đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới WTO vào ngày 7/11/2006. Điều này đã mở ra cho chúng ta những cơ hội lớn trong
việc xâm nhập vào thị trường quốc tế để từ đó nâng tầm vị thế của chúng ta trong mắt bạn
bè quốc tế. Nó còn tạo ra những cơ hội lớn trong việc tiếp cận với những công nghệ kỹ
thuật hiên đại, học hỏi được những chiêu thức và đường hướng của những đại gia kinh tế
sừng sỏ. Nhưng song song với với việc này chúng ta cũng gặp không ít những khó khăn,
việc cạnh tranh về sản phẩm,thị phần là một vấn đề vô cùng khốc liệt mà đất nước ta còn
phải đối mặt nay và trong tương lai.
Đặc biệt trong hoàn cảnh ngày nay nhân loại đang đứng trước những nguy cơ lớn về
khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực và trái đất ấm dần lên do hiệu ứng khí
thải.Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khời đầu từ nườc Mỹ đã nhanh chóng lan rộng
sang các nước khác trên thế giới. Vấn đề đặt ra trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm
của thị trường và doanh nhân,trách nhiệm và quyền giám sát của người dân có những
thiếu sót gì để dẫn đến những thảm hoạ như vậy?
Và để hội nhập vào thị trường quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng được
những đòi hỏi, tiêu chuẩn ngày càng cao từ phía người tiêu dùng.Ngoài yêu cầu về giá cả,
chất lượng, còn những giá trị đạo đức của nhà sản xuất. Đó chính là những chính sách đối
với người lao động, là sự bảo đảm về tiền lương, thu nhập và an toàn lao động… Nhất là
khi người tiêu dùng tại Mỹ, Canada và các nước châu Âu ngày càng quan tâm đến các
điều kiện này khi mua các sản phẩm có nguồn gốc từ các nước đang phát triển.Vì vậy
xuất phát từ tình hình thực tế của các doanh nghiệp và tầm quan trọng của công tác trách
nhiệm xã hôi em đã chọn đề tài “Sự cần thiết của việc thực hiện trách nhiệm xã hội theo
tiêu chuẩn SA 8000 của các doang nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO” làm
chuyên đề này


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
I. Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm xã hội
1. Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
CSR: Corporate social responsibility

nghiệp trong đó có các vấn đề về lao động, môi trường, quyền con người cũng
được nêu ra.
4. Quan điểm của một số công ty đa quốc gia
Adidas: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp luôn là một khái niệm theo đó
doanh nghiệp lồng ghép các vấn đề xã hội và môi trường vào kế hoạch kinh doanh và vào
mối quan hệ với cổ đông trên cơ sở tự nguyện.”
Đưa ra bộ quy tắc ứng xử áp dung cho cả nhà cung cấp và gia công.
5. Ai ủng hộ việc đưa CSR vào thương mại quốc tế?vì sao?
 Phong trào chống ngược đãi, cưỡng bức người lao động, quyền được đối xử công
bằng và văn minh trên toàn thế giới
 Phong trào thiếu nhi các nước phát triển phản đối việc sử dụng lao động trẻ em tại
các nước bản xứ nhằm thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em
 Ai phản đối hoặc hoan nghênh?Vì sao?
 Các công ty đa quốc gia (đầu tư)
 Các công ty bán lẻ ( nhập khẩu) do giá thành sẽ bị đẩy lên cao hơn
II. Những vấn đề chung về SA8000
1. Khái niệm về tiêu chuẩn SA 8000
SA 8000 là một tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng dựa trên:







12 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
Công bố toàn cầu về nhân quyền
Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em
Công ước quốc tế của Liên Hiệp Quốc về việc loại trừ các hình thức phân biệt đối
xử đối với phụ nữ.

- Cam kết đạo đức của công nhân và nhân viên tăng lên
- Tiền đền bù cho công nhân do xảy ra tai nạn ít đi
- Danh tiếng tốt hơn
- Niềm tin cho các nhà đầu tư và người tiêu thụ cao hơn
- Nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm tỉ lệ hỏng hóc
- Có thể tăng năng suất
- Cải thiện mối quan hệ với các tổ chức công đoàn và các cổ đông quan trọng
3.2. Các nội dung của SA8000


tâm tới:

Thuật ngữ Trách nhiệm xã hội rất rộng, tuy nhiên tiêu chuẩn SA 8000 chỉ quan

1. Lao động trẻ em
2. Lao động cưỡng bức
3. An toàn và sức khoẻ
4. Tự do hiệp hội và Thoả ước tập thể
5. Phân biệt đối xử
6. Các hình thức kỷ luật
7. Giờ làm việc
8. Thù lao
9. Hệ thống quản lý
3.2.1. Lao động trẻ em
Lao động trẻ em là lao động dưới 14 tuổi trở xuống
Công ty không được thuê mướn hoặc ủng hộ lao động trẻ em như định nghĩa
ở trên.
Công ty phải thiết lập, viết thành văn bản, duy trì và thông tin một cách có
hiệu
quả đến các bên liên quan về chính sách và thủ tục cho việc khắc phục

làm ca đêm, làm việc với hoá chất độc như Toluen, Chì…
B- Hiện nay công ước ILO 138 tuân theo chính sách quốc gia để bãi bỏ đến cùng lao
động trẻ em
C- Nâng độ tuổi lao động đến một mức phù hợp với sự phát triển đầy đủ về thể chất và
tinh thần của trẻ vị thành niên.
D- Các quốc gia đang phát triển đang có ít nhất 12- triệu có độ tuổi 5-14 làm việc hết
thời gian. Nếu kể cả lao động bán thời gian thì là 250 triệu (Châu Á chiếm 61%. Châu
Phi chiếm 32%, Châu Mỹ Latinh có 7%)
3.2.2. Lao động cưỡng bức
Công ty không được tham dự hoặc ủng hộ việc sử dụng lao động cưỡng bức, cũng không
được yêu cầu người được thuê mướn trả tiền đặt cọc hoặc giấy cam kết cho công ty mới
được bắt đầu làm việc.
Chú ý: SA nghiêm cấm mọi hình thức cưỡng bức lao động.
Phải liên hệ các hiện tượng lạm dụng lao động (lao động trẻ, sự yếu kém về an toàn sức
khoẻ, sự trừng phạt bằng các nhục hình, mức lương tồi, phân biệt đối xử) để kết luận về
sự cưỡng bức.
3.2.3. An toàn và Sức khoẻ
Công ty, luôn nhớ rằng phải phổ biến kiến thức về ngành công nghiệp và bất kỳ các
mối nguy hiểm nào, phải cung cấp môi trường làm việc an toàn và vệ sinh, phải có các
biện pháp thích hợp để ngăn ngừa tai nạn và làm tổn hại đến sức khoẻ mà xuất hiện trong
lúc, có liên quan đến hoặc xảy ra trong khi làm việc bằng cách giảm tối đa, đến khả năng
có thể được, nguyên nhân gây ra các mối nguy hiểm vốn có trong môi trường làm việc
Công ty phải chỉ định đại diện lãnh đạo chịu trách nhiệm về sức khoẻ và an toàn cho
toàn bộ nhân viên và chịu trách nhiệm thực hiện các yếu tố về sức khoẻ và an toàn trong
tiêu chuẩn này
Công ty phải đảm bảo rằng tất cả nhân viên đều được huấn luyện về an toàn và sức
khoẻ thường kỳ, hồ sơ huấn luyện này phải được thiết lập và các huấn luyện đó được lập
lại đối với nhân viên mới vào hoặc chuyển công tác
Chú ý: Thường kỳ tức là ít nhất 1 lần/ năm
Công ty phải thiết lập hệ thống theo dõi, tránh hoặc xử lý các nguyên hiểm tiềm ẩn

Chú ý: Công ty tôn trọng các quyền hợp pháp của mọi CBCNV về hội họp, thành lập
công đoàn, nhóm,…
Mục đích của SA bảo đảm quyền lợi chính đáng của CBCNV
Công ty phải đảm bảo rằng đại diện người lao động không bị đối xử phân biệt và các đại
diện đó phải có cơ hội tiếp cận với các thành viên trong môi trường làm việc của họ
3.2.4. Phân biệt đối xử
Công ty không được tham gia hoặc ủng hộ việc phân biệt đối xử trong khi thuê
mướn, bồi thường, cơ hội huấn luyện, thăng tiến, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc nghỉ
hưu trên cơ sở chủng tộc, đẳng cấp, nguồn gốc quốc gia, tôn giáo, tật nguyền, giới tính,
thành viên của nghiệp đoàn hoặc phe đảng chính trị
Công ty không được can thiệp vào quyền xử lý của nhân viên trong việc tuân thủ
các nguyên lý hoặc lề thói, hoặc đáp ứng các nhu cầu liên quan đến chủng tộc, đẳng cấp,
nguồn gốc quốc gia, tôn giáo, tật nguyền, giới tính, thành viên của nghiệp đoàn hoặc phe
đảng chính trị.
Công ty không được cho phép cách cư xử như cử chỉ, ngôn ngữ và tiếp xúc thân thể
mà cưỡng bức, đe doạ, sỉ nhục, lợi dụng tình dục
Chú ý: SA nhằm đảm bảo không phân biệt đối xử với mọi người trong mọi trường
hợp
3.2.5. Các hình thức kỷ luật
Công ty không được tham gia vào hoặc ủng hộ việc dùng nhục hình, ép buộc về vật
chất hoặc tinh thần và sỉ nhục
Chú ý: SA nhằm đảm bảo Công ty luôn luôn tôn trọng CBCNV theo 1 phương thực
nhất quán có kỷ luật
3.2.6. Giờ làm việc


Công ty phải phù hợp với các luật đang áp dụng và các tiêu chuẩn công nghiệp về
thời gian làm việc; bất kỳ trường hợp nào không được yêu cầu, trên nguyên tắc thường
xuyên, nhân viên làm việc vượt quá 48 giờ/ tuần và cứ 7 ngày làm việc thì phải sắp xếp ít
nhất 1 ngày nghỉ cho nhân viên.

các yêu cầu khác công ty tán đồng và thừa nhận các văn kiện quốc tế và các giải thích của
các văn kiện đó (như liệt kê trong phần II)
C- bao gốm các liên kết liên tục cải tiến
D- Được lập thành văn bản, thực hiện, duy trì và thông tin một cách có hiệu quả và
gần gũi với sự hiểu biết là tất người lao động bao gồm Giám đốc, người điều hành, giám
sát và nhân viên lao động trực tiếp có hợp đồng hay không hợp đồng đan làm việc tại
công ty
E- Công khai


Lãnh đạo cao nhất phải định kỳ xem xét tính đầy đủ, hợp lý, phù hợp, và tính liên
tục hiệu quả của chính sách công ty, thủ tục và kết quả thực hiện so với yêu cầu của tiêu
chuẩn này và các yêu cầu khác mà công ty công nhận. Sửa đổi và cải tiến hệ thống phải
được thực hiện khi cần thiết
Công ty phải chi định đại diện lãnh đạo, không kể các trách nhiệm khác đảm bảo yêu
cầu của tiêu chuẩn này được áp dụng
Công ty phải để cho các nhân viên chọn ra một đại diện từ chính trong nhóm của họ để
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông tin với lãnh đạo về vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn
này
Chú ý :
CTCĐ được bầu thế nào, có đủ thẩm quyền thảo luận với LĐ công ty các biện pháp khắc
phục, nếu có? CTCĐ có thực hiện đúng nhiệm vụ của mình? Có thực hiện các biện pháp
khắc phục,… cần thiết? Có bị ảnh hưởng bởi lãnh đạo công ty?
ĐD về SA có vai trò thế nào, ai bổ nhiệm?
ĐD về ATLĐ, SK có vai trò thế nào, ai bổ nhiệm?
Công ty phải đảm bảo rằng các yêu cầu của tiêu chuẩn này được thông hiểu và thực
hiện tại mọi cấp của công ty; các phương pháp sử dụng bao gồm nhưng không giới hạn
- Xác định rõ ràng vai trò, trách nhiệm, và quyền hạn
huấn luyện các nhân viên mới và/ hoặc thuê mướn tạm
thời

Công ty phải thiết lập và duy trì các thủ tục để thường xuyên tiếp xúc, thu thập
thông tin với tất cả các bên có liên quan và các thông tin khác liên quan đến việc thực
hiện các yêu cầu của tiêu chuẩn này, bao gồm nhưng không giới hạn, kết quả xem xét
lãnh đạo và theo dõi các hoạt động.
 Quyền xem xét
Khi hợp đồng yêu cầu, công ty phải cung cấp những thông tin phù hợp và cho phép
tiếp cận với các thông tin đó cho các bên liên quan để giám sát sự phù hợp với các yêu
cầu của tiêu chuẩn này; khi hợp đồng yêu cầu cao hơn về các thông tin tương tự và các cơ
hội tiếp cận với các thông tin đó thì nhà cung cấp và nhà thầu phụ của công ty cũng phải
tạo điều kiện cho phép thông qua việc đưa các yêu cầu như vậy trong hợp đồng mua hàng
của công ty
 Hồ sơ
Công ty phải duy trì các hồ sơ thích hợp nhằm chứng minh sự tuân thủ với các yêu
cầu của tiêu chuẩn SA 8000
II. Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp
1. Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
Xã hội học coi trách nhiệm xã hội như một sự cam kết về tinh thần, đạo đức, văn
hoá đối với gia đình, cộng đồng địa phương và toàn xã hội, nhân viên, môi trường. Trong
nền kinh tế thị trường, mọi cá nhân và doanh nghiệp đều hành xử sao cho có lợi nhất cho
mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Kinh tế thị trường được mô tả trong Tư bản
của C.Mác không có trách nhiệm xã hội, ở đó người ta thấy người chủ tư bản được mô tả
là một kẻ bóc lột tàn bạo, mù quáng, mất nhân tính, vô văn hoá đến kiệt sức người lao
động nhằm tối đa hoá lợi nhuận ngắn hạn. Sự mô tả chính xác đó đã giúp kinh tế thị
trường tự hoàn thiện trong quá trình đấu tranh của nhân dân cùng với tiến bộ trong nhận
thức của khoa học kinh tế. (Chẳng hạn như kinh tế học về thông tin đã chỉ rõ bản chất của
sự lừa đảo là bất đối xứng thông tin, giải pháp là công khai, minh bạch, giám sát nhằm
giảm bớt sự bất đối xứng thông tin đó chứ không phải gán ghép lừa đảo như một bản chất
của kinh tế thị trường). Kinh tế kế hoạch hoá tập trung dưới chế độ toàn trị một đảng đã
không đem lại giải pháp thực chất và bền vững cho tăng trưởng, không đem lại hệ thống

một phạm trù của đạo đức kinh doanh (Business Ethics), có liên quan đến mọi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Ở thế kỷ thứ XXI, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, khi ý
thức của loài người về các nguy cơ đối với môi trường sống ngày càng cao thì các đòi hỏi
về trách nhiệm xã hội cũng ngày càng tăng lên, như đòi hỏi phải kiểm soát khí thải của xe
hơi lưu hành trên đường phố, kiểm soát mức độ khói bụi trong các khu dân cư, v.v.. Như
vậy, có thể thấy, ít nhất đã có bốn nhóm đối tượng mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm
thực hiện TNXH sau đây:
Thị trường và người tiêu dùng, bao gồm cả nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung ứng và hợp
tác; Người lao động; Cộng đồng trong khu vực và trong xã hội trong nước và thế giới
(như vụ sữa nhiễm độc melamine của công ty Tam Lộc ở Trung Quốc); Môi trường sống.
Đối với thị trường và người tiêu dùng, doanh nghiệp phải bảo đảm chữ “tín”, bảo


đảm chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thực hiện đúng các tiêu chuẩn chất lượng của sản
phẩm, dịch vụ, thực hiện các cam kết dịch vụ sau khi bán như đã bảo đảm với khách
hàng, không quảng cáo quá sự thật. Pháp luật không thể quy định và tiết chế tất cả các
hoạt động của doanh nghiệp. Chính doanh nghiệp phải bảo đảm thương hiệu của mình
bằng cách duy trì chất lượng, tính ổn định của chất lượng sản phẩm, dịch vụ không vượt
ra khỏi các quy định của pháp luật. Trong kinh doanh, doanh nghiệp có quan hệ không chỉ
với khách hàng, mà còn quan hệ với các nhà đầu tư ngân hàng, nhà cung ứng các sản
phẩm, dịch vụ trợ giúp, các viện khoa học, trường đại học thực hiện các dịch vụ nghiên
cứu, giảng dạy, thiết kế, v.v.. Trong tất cả các mối quan hệ đó, doanh nghiệp không chỉ
thực hiện đúng các cam kết theo Luật Dân sự, Luật Hợp đồng, mà còn phải từ bỏ tham
vọng làm “giàu nhanh” một cách bất chính bằng cách lừa đảo khách hàng và đối tác. Việc
làm giàu của doanh nghiệp không những phải phù hợp với pháp luật, mà còn phải bảo
đảm và tôn trọng lợi ích chính đáng và hợp pháp của khách hàng và đối tác. Như vậy,
cách làm giàu “chụp dật” là hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội. Không thể chỉ trông
đợi vào sự tự nguyện hay kêu gọi đạo đức, luật pháp, người tiêu dùng, xã hội phải phát
hiện, ngăn chặn và trừng phạt các hành động gian trá, lừa đảo, đồng thời khuyến khích,
ủng hộ các doanh nghiệp làm ăn chính đáng.

thực hiện trách nhiệm xã hội của cá nhân và doanh nghiệp nhằm chế ngự lòng tham và
kiểm soát các hành vi làm giàu vô đạo đức, gây nguy hại cho cộng đồng.
Bên cạnh vai trò của nhà nước, rõ ràng là cần phải có vai trò bổ sung của xã hội dân
sự nhằm phát huy các mặt tích cực của nhà nước, đồng thời bổ sung cho nhà nước, giám
sát và hạn chế các hành vi tư lợi, lạm dụng chức quyền của nhà nước.
Vậy phải hiểu chính xác CSR là gì? Đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra như “Trách
nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy
phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58-64). Hay “Trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp,
đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” (Archie.B
Carroll, 1979). Maignan và Ferrell cũng đưa ra khái niệm súc tích của riêng họ về CSR:
“Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra
và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”. Tuy nhiên


theo quan điểm cá nhân tác giả, định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân
hàng thế giới về CSR là hoàn chỉnh và rõ ràng nhất. Theo đó, CSR là “sự cam kết của
doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động
nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho
cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung
của xã hội”. Khi cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi yêu cầu từ khách hàng ngày càng
cao và xã hội có cái nhìn ngày càng khắt khe đối với doanh nghiệp thì các doanh nghiệp
muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường
thiên nhiên, môi trường lao động, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động,
đào tạo và phát triển nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng,…
3. Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
Các doanh nghiệp có thể thực hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng cách đạt một
chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộ quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC).
Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội.
Có trách nhiệm với xã hội là tăng đến mức tối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối

hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền
riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc.
Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và
dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an
toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh
tranh.
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt
động của doanh nghiệp. Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế
hoá thành các nghĩa vụ pháp lý
3.2. Khía cạnh pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải
thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Những
điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường,
thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi
sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự. Về cơ bản, nghĩa
vụ pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh
(2) Bảo vệ người tiêu dùng
(3) Bảo vệ môi trường
(4) An toàn và bình đẳng
(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.


Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được
chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp
lý của mình
3.3. Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là những hành vi và
hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp nhưng không được quy định trong hệ
thống luật pháp, không được thể chế hóa thành luật.

Hiện nay, CSR đang được cấp quản lý nhận thức một cách sâu rộng hơn. Theo thống
kê của Trung tâm nghiên cứu về quản lý Ashridge, cứ 10 nhà quản lý điều hành cấp
cao thì có đến 9 người tin rằng CSR là rất quan trọng với các hoạt động kinh doanh
của công ty. Hơn 3/4 các nhà quản lý cho rằng công ty cần hoạt động theo những
phương thức có trách nhiệm với xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, có những công ty
vẫn xem xét CSR như là một chi phí hơn là một cơ hội.
Môi trường là một trong những vấn đề như vậy. Sức ép từ những tổ chức như Hoà
bình xanh (Greenpeace) đã thúc đẩy các công ty có trách nhiệm hơn với môi trường
và xã hội từ thập niên 60. Bên cạnh một số công ty lớn tại Mỹ và châu Âu đã coi việc
bảo vệ môi trường là một trong những ưu tiên trong sản xuất kinh doanh, thì tiêu
chuẩn môi trường quốc gia và quốc tế chưa được các công ty ở các nước đang phát
triển quan tâm. Họ coi những điều khoản quy định về bảo vệ môi trường như là một
gánh nặng đối với công việc quản lý sản xuất kinh doanh của họ, vì vậy công tác môi
trường chỉ được theo kiểu đối phó, qua loa. Đặc biệt, khái niệm cần phải có yếu tố


môi trường trong các hàng hoá và dịch vụ lại càng ít được các giám đốc công ty đưa
vào trong các quyết định sản xuất kinh doanh của công ty.
Theo các chuyên gia kinh tế, công ty cần phải coi vấn đề tiêu chuẩn môi trường trong
sản xuất, cung cấp hàng hoá và dịch vụ là nhu cầu thiết thân của công ty, xuất phát từ
lợi ích của chính công ty. Trong khi các công ty tại các nhiều nước đang phát triển
thường cho rằng chi phí môi trường do không nằm trong giá cả cấu thành sản phẩm
nên thường làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá, thì tại nhiều nước phát triển, ví dụ
như Mỹ, Anh, các công ty chủ động đầu tư áp dụng công nghệ thân thiện với môi
trường đã có mức doanh thu tăng đáng kể: Tập đoàn sản xuất bóng đèn của Mỹ,
Haitech Group năm 1994 đã đầu tư 4,3 tỷ USD vào việc kiểm soát ô nhiễm môi
trường, từ đó uy tín của công ty tăng nhanh và đến năm 1999 đã xuất khẩu được tới 8
tỷ USD. Hay tại Hàn Quốc, dự án trình diễn kỹ thuật sản xuất sạch hơn triển khai từ
7/1999 đến 8/2000, với sự tham gia của 15 công ty, thì có tới 13 công ty thành công.
Dự tính 13 công ty này tiết kiệm được tới 770.000 USD/năm, trong khi chỉ phải đầu

được công bố 50 năm trước, các nhà nghiên cứu và những người làm kinh doanh đã và
đang kêu gọi doanh nghiệp hãy hành động có trách nhiệm với xã hội, bởi vì “không còn
nghi ngờ gì nữa, nguyên tắc xử thế của ngày hôm nay có thể là luật định của ngày hôm
sau” (Gaski, 1999).
Tục ngữ Trung Hoa có câu: “ Cho người một con cá, bạn nuôi người đó một ngày. Dạy
người đó câu cá, bạn nuôi sống anh ta một đời”. Nếu chỉ tính trong ngắn hạn, lợi ích mà
CSR có thể đem lại là các đơn đặt hàng từ những công ty mua hàng đòi hỏi các tiêu chuẩn
về CSR. Tuy nhiên chi phí để áp dụng chương trình CSR có thể làm ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh của công ty. Những người lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng sẽ có mục
tiêu hoạt động không chỉ giới hạn bởi lợi nhuận. Thước đo thành công của họ bắt nguồn
từ tác động mà họ tạo ra đối với nhu cầu xã hội. Các doanh nhân này tìm kiếm những giải
pháp để thay đổi xã hội theo chiều hướng tốt hơn và đổi ngược lại, doanh nghiệp của họ
sẽ có những điều kiện để phát triển bền vững hơn. Lợi ích dài hạn chủ yếu của CSR là cho
chính nội bộ doanh nghiệp như cải thiện quan hệ trong công việc, giảm bớt tai nạn, giảm
tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động. Ngoài ra, CSR còn giúp nâng cao uy tín
của doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng và các đối tác, tạo ra ưu thế trong cạnh
tranh và thuận lợi trong việc kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
Vậy chìa khóa để quản lý một doanh nghiệp một cách có trách nhiệm với xã hội là gì?
Có những e ngại rằng áp dụng CSR ở doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) gặp nhiều khó
khăn hơn những doanh nghiệp lớn vì các nguồn tài nguyên của DNVVN quá hạn chế
không thể đáp ứng được những chương trình CSR đắt tiền. Quan điểm đó không hoàn


toàn chính xác, một doanh nghiệp nhỏ mới thành lập nếu muốn thành công và phát triển
bền vững thì không thể không tham gia vào các hoạt động mang tính trách nhiệm đối với
xã hội ngay từ đầu. Hơn nữa, chương trình CSR không nhất thiết phải tốn kém. CSR là
quan trọng nhưng không phải ở tờ giấy chứng nhận mà ở chính quy trình thực hiện nó.
Nếu doanh nghiệp chỉ chạy theo hình thức mà không thực thi nghiêm túc thì CSR không
còn ý nghĩa. Doanh nghiệp sẽ thành công trong việc áp dụng CSR nếu có sự cam kết của
ban lãnh đạo, thực sự hiểu rõ tầm quan trọng và lợi ích CSR sẽ mang lại trong dài hạn và

chất
lượng
dịch
vụ
massage,
cắt
tóc,
v.v..
Hệ thống luật pháp đã được đổi mới và xây dựng lại một cách sâu rộng, từ Hiến
pháp đến hệ thống luật, nghị định song còn thiếu đồng bộ, giữa các luật được chuẩn bị bởi
các Bộ khác nhau, được ban hành vào những thời điểm khác nhau còn không ít chồng
chéo, mâu thuẫn với nhau. Việc thực thi luật pháp còn có nhiều vấn đề phải đổi mới,
khoảng cách giữa luật trên văn bản và luật trong thực tế còn lớn.
Do cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý còn chưa được thể chế hoá đầy đủ và
cụ thể, cơ quan đảng có quyền quyết định cao nhất, trong khi Nhà nước, cụ thể là Chính
phủ chịu trách nhiệm trước pháp luật và Quốc hội về việc tổ chức thực hiện làm cho quá
trình quyết định và tổ chức thực hiện khá phức tạp, như sơ đồ sau đây cho thấy.
Hệ quả là hiệu lực của pháp luật chưa cao, trách nhiệm của doanh nghiệp trong thực
thi pháp luật chưa cao. Đã xuất hiện nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận, như vụ
công ty Vedan làm ô nhiễm sông Thị Vải nhưng không được xử lý nghiêm minh; có tới
bốn Bộ chịu trách nhiệm về chất lượng thực phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế), nhưng trách nhiệm chưa rõ
ràng và tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều thiếu sót kéo dài.
Về các doanh nghiệp tham gia thị trường, bên cạnh khoảng 350.000 doanh nghiệp có
đăng ký có đến 3 triệu hộ kinh doanh gia đình, 5 triệu hộ nông dân có quy mô rất nhỏ.
Nhiều doanh nghiệp chưa có thương hiệu, chưa đăng ký chất lượng sản phẩm, số nông
sản được sản xuất theo quy trình hiện đại (GAP Good Agricultural Practice), có đăng ký
nhãn hiệu vùng sản xuất, như thanh long, xoài, cà phê, bưởi, v. v. tuy đã tăng lên nhiều,
nhưng vẫn còn ít so với tổng sản lượng các sản phẩm gieo trồng và chăn nuôi. Việc các
doanh nghiệp lớn như Metro đã ký kết hợp đồng và hướng dẫn sản xuất, thu mua nhiều

hành, nhưng việc thực hiện trong thực tế còn nhiều hạn chế. Việt Nam đang chuẩn bị Luật
về Quyền tiếp cận thông tin, song chưa có luật về Hiệp hội và chưa chuẩn bị Luật về Vận
động hành lanh. Thông tin kinh tế còn nhiều hạn chế, nhiều số liệu chưa được công bố
công khai và kịp thời. Các hoạt động giám sát đối với ngân hàng, thị trường chứng khoán,
thị trường bất động sản còn sơ khai và cần được nhanh chóng hoàn thiện. Các tổ chức
thuộc xã hội dân sự Việt Nam đã được hình thành và hoạt động, có đóng góp thiết thực,
như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Hiệp hội ngành nghề, như Dệt
may, Xuất khẩu Thuỷ sản, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính, v. v… Nhiều tổ chức đã tổ
chức tập huấn, hướng dẫn, vận động thực hiện các tiêu chuẩn và quy định của trách nhiệm
xã hội, nhất là đối với người lao động và người tiêu dùng. Song, do thiếu cơ sở pháp lý
cần thiết, nên sự đóng góp đó còn hạn chế. Bản thân các hiệp hội đó còn cần phải nâng
cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả thiết thực đối với hội viên.
Tóm lại, trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực
hiện. Chắc chắn rằng, cùng với quá trình phát triển của đất nước, trách nhiệm đó sẽ được
đề cao hơn cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh
tờng và các thể chế của xã hội dân sự
IV. Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp Việt Nam qua
việc phỏng vấn Ban giám đốc,chuyên gia của một số doanh nghiệp tai địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh
1. Cuôc phỏng vấn giữa Báo chí “Người Đô Thị” với Giáo sư ,tiến sĩ Võ Tòng
Xuân,Hiệu trưởng trường Đại học An Giang. Ông đã chủ trì một hội thảo quốc
tế tại Việt Nam với chủ đề”Doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội” vào hai ngày
27 và 28/09/2007.
Thưa Giáo sư, cụm từ "trách nhiệm xã hội" của các doanh nghiệp, sẽ được ông
nhận định như thế nào ?
Hội đồng Thương mại Thế giới với chủ trương phát triển bền vững đã đưa ra định nghĩa
như sau: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một sự cam kết trong việc ứng xử một
cách hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng
cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và
của toàn xã hội nói chung.

như cải thiện quan hệ trong công việc,giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc,
tăng năng suất lao động” Chị vừa trở về sau chuyến tham quan khảo sát học tập kinh
nghiệm tại Mỹ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Sau chuyến đi này, nhận thức
của chị về điều này như thế nào?Trước đây khái niệm trách nhiệm xã hội (CSR) đối với
tôi cũng không được rõ nét. Tôi chỉ đơn giản nghĩ, đó là việc bảo vệ môi trường, làm từ
thiện giúp đỡ những người nghèo, nhưng sau chuyến đi này tôi học hỏi thêm được rất
nhiều điều. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm nhiều vấn đề. Thứ nhất,
doanh nghiệp phải đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi
trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản
xuất, hoạt động kinh doanh của mình. Thứ hai, doanh nghiệp phải biết quan tâm đến
người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh
thần. Thứ ba, doanh nghiệp phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân
biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự
công bằng về năng lực của mỗi người. Thứ tư, không được phân biệt đối xử về mặt sắc
tộc, không được phân biệt đối xử giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về
mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ. Thứ năm, phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng
tốt, không gây tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng. Thứ sáu, phải biết dành một phần
lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng, bởi doanh nghiệp
luôn tồn tại trong lòng một cộng đồng nào đó nên không thể chỉ biết có bản thân mình.
Thứ bảy, phải tham gia kiến tạo hòa bình và an ninh của quốc gia cũng như thế giới.
Các doanh nghiệp nước bạn thực hiện trách nhiệm xã hội như thế nào, thưa chị?
Chuyến khảo sátdoanh nghiệp tại Mỹ vừa qua mang lại cho chúng tôi nhiều điều bất
ngờ. Mỗi doanh nghiệp tập trung vào một hoặc một vài hình thức trong 7 hình thức trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà tôi đã nêu ở trên, tất cả đều được lên kế hoạch và
thực hiện một cách cụ thể, hoàn hảo. Trách nhiệm xã hội được thông suốt từ ban lãnh
đạo đến từng nhân viên. Ví dụ như Sable Inc - là doanh nghiệp chuyên về các giải pháp
du lịch, máy bay. Tòa nhà trụ sở của họ được cấp chứng nhận LEED (Leadership in
Energy and Environmental Design - chứng nhận về thiết kế tiết kiệm nhiên liệu và thân
thiện môi trường). Trong khu căng-tin của họ, toàn bộ dao, dĩa được làm từ bột ép khoai
tây, trông hoàn toàn giống dao dĩa nhựa bình thường nhưng những chất này dễ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status