Đặc điểm lượng từ tiếng hán hiện đại trong sự đối chiếu với loại từ tương đương tiếng việt (TT) - Pdf 41

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1) Lượng từ trong tiếng Hán và loại từ trong tiếng Việt có những đặc điểm mang
tính đặc thù ngữ pháp-ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ được giới Hán ngữ học và Việt ngữ
học quan tâm nghiên cứu từ lâu. Lượng từ trong tiếng Hán và loại từ trong tiếng Việt
được coi là thành phần bắt buộc nằm ở vị trí giữa số từ hoặc từ chỉ lượng và danh từ
trong kết cấu danh ngữ.
2) Đến nay, đã có không ít những công trình nghiên cứu về lượng từ tiếng Hán
và loại từ tiếng Việt ở các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Tuy nhiên, do
tính chất phức tạp của lớp từ này mà đến nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề chưa thống
nhất như về tên gọi, tiêu chí phân định, đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa và cách sử
dụng của chúng.
3) Nhằm phân tích một cách hệ thống, dựa vào những đặc điểm tương đồng và
khác biệt ẩn chứa trong tầng sâu ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp, luận án tập trung
nghiên cứu đặc điểm lượng từ tiếng Hán hiện đại (trong sự đối chiếu với loại từ
tương đương tiếng Việt).
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích của luận án là làm rõ những đặc điểm cơ bản của lượng từ tiếng Hán
hiện đại biểu hiện trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, đối chiếu với các đơn vị
tương đương ở tiếng Việt, nhằm làm rõ hơn những nét tương đồng và khác biệt của
lớp từ này trong hai ngôn ngữ, phục vụ mục tiêu dạy-học tiếng hiệu quả.
2.2. Nhiệm vụ của luận án gồm:
(i) Tổng quan tình hình nghiên cứu loại từ trên thế giới, lượng từ tiếng Hán và
loại từ tiếng Việt; hệ thống hóa một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài; (ii) Mô tả
và phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa của lượng từ tiếng Hán đối chiếu với loại từ
tương đương trong tiếng Việt; (iii) Phân tích những đặc điểm ngữ pháp của lượng từ
tiếng Hán đối chiếu với loại từ tương đương tiếng Việt; (iv) Khảo sát lỗi sử dụng
lượng từ tiếng Hán của người Việt học tiếng Trung Quốc và lỗi sử dụng loại từ tiếng
Việt của người Trung Quốc học tiếng Việt; đề xuất hướng khắc phục lỗi sử dụng

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng Việt
1.1.1.1. Lượng từ trong từ loại tiếng Hán
Trước những năm 80 của thế kỷ XX, các tác giả Mã Kiến Trung, Lê Cẩm Hy,
Cao Danh Khải cho rằng, phân loại từ loại phải dựa trên sự biến đổi hình thái, tiếng
Hán là ngôn ngữ không biến hình nên không phân loại được. Trần Vọng Đạo, Quách
Nhược, Lã Thúc Tương, Chu Đức Hy cho rằng, tiêu chí phân loại từ loại không thể
dựa vào hình thái mà có thể dựa vào chức năng ngữ pháp, từ loại tiếng Hán có thể
chia thành 10 loại: danh từ, đại từ, số từ, lượng từ, hình dung từ, động từ, phó từ, liên
từ, trợ từ, tượng thanh từ.
Vấn đề lượng từ tiếng Hán cũng được bàn luận trong các công trình nghiên cứu


3

ngữ pháp nổi tiếng của Mã Kiến Trung, Vương Lực, Chu Đức Hy, Lã Thúc Tương với
các tên gọi khác nhau: từ biệt xưng, danh từ đơn vị, phó danh từ, đơn vị từ… nhưng
tên gọi phổ biến là “lượng từ” (量词).
Trong giai đoạn từ sau những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, các nhà nghiên
cứu ngữ pháp đã cơ bản thống nhất về tiêu chí phân loại từ loại tiếng Hán hiện đại dựa
trên chức năng ngữ pháp của từ bao gồm khả năng kết hợp và vị trí của nó trong kết
cấu cú pháp. Từ loại tiếng Hán hiện đại được phân chia thành hai nhóm: (i) thực từ (实
词)/ thể từ và (ii) hư từ (虚詞); lượng từ luôn được xếp vào nhóm thực từ hoặc thể từ.
Cùng với các nhà nghiên cứu, giới giảng dạy tiếng Hán đã tập trung xem xét khả năng
và mức độ sử dụng lượng từ trong hoạt động ngôn ngữ với mục đích dạy tiếng.
1.1.1.2. Loại từ trong từ loại tiếng Việt
Chịu ảnh hưởng của khái niệm từ loại dựa trên cứ liệu ngôn ngữ Ấn-Âu, vấn
đề từ loại thường gắn với các phạm trù hình thái học, từ đó đã xuất hiện hai quan
điểm: (i) phủ nhận phạm trù từ loại, và (ii) thừa nhận sự có mặt của từ loại. Quan
điểm phủ nhận phạm trù từ loại có: Lê Quang Trinh, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu

LỚP DANH TỪ

LOẠI TỪ

Đặc điểm

(giống, tương hợp về số)

Chức
năng

- Số lượng nhỏ, xác định
- Hệ thống ngữ pháp chặt
- Đánh dấu ngoài DN
(thường là bổ tố)

- Số lượng lớn
- Hình thái tự do
- Không có đánh dấu
ngoài danh ngữ

Giải thích
Sở chỉ, tương hợp

Đặc điểm

LOẠI TỪ DANH TỪ
(Loại từ chung)

Chức

(i) “Loại từ danh từ” có khả năng đặc tả danh từ, cùng xuất hiện với danh từ trong
danh ngữ.
(ii) “Loại từ sở thuộc” có khả năng đặc tả danh từ sở thuộc trong kết cấu sở thuộc.
(iii) “Loại từ quan hệ” có khả năng đặc tả cách thức mà sở chỉ của một danh từ sở
thuộc liên quan đến chủ sở trong kết cấu.


5
(iv)

“Loại từ động từ” xuất hiện cùng với động từ nhưng chỉ đặc tả cho danh từ
điển hình về hình dáng, độ bền, cấu trúc, vị trí và vật tính.
(v) “Loại từ định vị” xuất hiện trong các vị trí định vị.
(vi) “Loại từ chỉ định” thường kết hợp với các chỉ định từ và quán từ.
1.2.1.3. Chức năng của loại từ trong ngôn ngữ
Loại từ có các chức năng phân loại danh từ, phản ánh quan niệm của người sử
dụng loại từ trong việc giải thích thế giới khách quan. Trong một số ngôn ngữ, mỗi danh
từ chỉ được tổ hợp với một loại từ; ở một số ngôn ngữ khác việc lựa chọn loại từ có độ
linh hoạt cao hơn cho phép thể hiện những nét nghĩa tinh tế khác nhau của danh từ.
1.2.2. Khái quát về lượng từ trong Hán ngữ học và loại từ trong Việt ngữ học
1.2.2.1. Khái quát về lượng từ trong Hán ngữ học
A) Khái niệm lượng từ trong Hán ngữ học
Trong Hán ngữ học, khái niệm lượng từ (量词) thường được xem xét từ góc độ
ý nghĩa ngữ pháp để chỉ một lớp từ nằm ở vị trí giữa số từ và danh từ làm thành phần
trong một kết cấu đoản ngữ chỉ lượng. Theo quan niệm của Hà Kiệt: “Lượng từ là
những từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác; và chia thành hai nhóm:
vật lượng từ (tính đếm cho thực thể, sự vật) và động lượng từ (tính đếm cho hành vi
động tác)”.
B) Phân loại lượng từ trong Hán ngữ học
Nhìn chung, lượng từ được chia thành hai nhóm chính: danh lượng từ (tính đếm

集体量词 (lượng từ tập hợp)
容器量词 (lượng từ vật chứa)
临时量词 (lượng từ lâm thời)
标准量词 (lượng từ đo lường)

动量词
(động
lượng
từ)

专职量词 (lượng từ chuyên dùng)
借用量词
(lượng từ mượn dùng)

mượn dùng danh từ
mượn dùng động từ

Hệ thống lượng từ tiếng Hán
1.2.3.2. Về loại từ trong tiếng Việt
Theo Nguyễn Tài Cẩn loại từ thuộc nhóm từ loại danh từ, là một bộ phận của
danh từ chỉ đơn vị chuyên dùng để phục vụ việc đếm thành từng cá thể, thành từng
đơn vị tự nhiên của sự vật, cũng như phục vụ việc phân chia sự vật vào các loại. Loại
từ tiếng Việt chia thành 3 tiểu loại: (i) loại từ chỉ người (đứa, thằng), (ii) loại từ chỉ
đồ đạc (cái, chiếc), (iii) loại từ chỉ động vật, thực vật (con, cây, quả). Căn cứ vào
chức năng và cách dùng, loại từ còn được chia thành: (i) loại từ chuyên dùng (đứa,
thằng, con cái), (ii) loại từ lâm thời (người, anh, chị, cây, quả).
1.2.3.3. Đặc điểm đối chiếu lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng Việt
1) Đối chiếu khái niệm “lượng từ” trong tiếng Hán và tiếng Việt có thể thấy sự
khác biệt trong quan niệm và cách phân định: lượng từ trong tiếng Việt là những từ chỉ
số lượng nhiều hoặc ít một cách tổng quát, gần với số từ, không có chức năng xác định

Tiếng Hán và tiếng Việt là hai ngôn ngữ điển hình về loại hình đơn lập với các
đặc điểm nổi trội như âm tiết tính, có thanh điệu, không có hình thái từ. Cả hai ngôn
ngữ đều dùng trật tự từ làm phương thức cơ bản để biểu hiện quan hệ ngữ pháp.

CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
2.1.

GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Luận án giới hạn khảo sát, phân tích ngữ nghĩa của nhóm danh lượng từ và
động lượng từ tiếng Hán đối chiếu với loại từ tương đương trong tiếng Việt.
2.2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA DANH LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN (ĐỐI
CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)


8

2.2.1. Quan niệm về nghĩa của danh lượng từ tiếng Hán
Lượng từ cá thể (danh lượng từ) tiếng Hán còn được gọi là loại từ, đó là những
đơn vị có nghĩa, biểu thị hình thức tồn tại của thực thể hoặc biểu thị những sự vật
được ngôn ngữ đối xử như những thực thể phân lập, có kích thước xác định, có thể
đếm được, phân loại được theo phạm trù. Ví dụ:
(1)

a. 部 bu

一部电话

Yi bu dianhua

Lượng từ
个 ge (đứa), 位 wei (ông)

Loài vật (bình thường >< đặc biệt)

只 zhi (con), 匹 pi (con)

Tròn (to >< nhỏ)

个 ge (cục), 粒 li (hột)

(mềm >< cứng)

条 tiao (dòng), 根 gen (ống)

Phẳng (dày >< mỏng)

塊 kuai (tấm), 张 zhang (tờ)

Hình dáng Dài

Công cụ
Phương tiện giao thông (bộ, thủy, không)
Chức năng Máy móc (thiết bị)
Trang phục (quần, áo, váy, mũ...)

把ba (cái), 根gen, 支zhi (cái)
辆 liang (cái), 艘 sou, 架 jia
台tai (cái), 部bu, 盏zhan
件 jian (cái), 条 tiao (chiếc)

只 zhi;

件 jian; 条 tiao; 顶 ding ...

2.3.

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN (ĐỐI
CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
2.3.1. Quan niệm về nghĩa của động lượng từ tiếng Hán
Động lượng từ có thể lượng hóa một hoạt động, một quá trình, và có thể tham
gia trong thành phần các kết cấu khác nhau. Tuy nhiên, động lượng từ thường đi với
những vị từ đánh dấu [±động] hoặc [±chủ ý] của hành vi. Ví dụ: 打了他一下 (đánh
anh ta một cái); vị từ 打 da đánh dấu [+động] và [+chủ ý].
2.3.2. Tiêu chí nhận diện nghĩa của động lượng từ tiếng Hán
2.3.2.1. Động lượng từ chuyên dùng
次 cì, 回 huí, 趟 tàng, 顿 dùn, 阵 zhèn, 番 fàn, 遭 zào, 下 xìa, 便 biàn...

2.3.2.2. Động lượng từ mượn dùng
Động lượng từ mượn dùng (còn gọi là lượng từ lâm thời) thường có nguồn gốc
từ danh từ hoặc/ và động từ.
A) Mượn dùng danh từ
- Lượng từ “mượn dùng” danh từ chỉ dụng cụ vật chứa do danh từ biểu thị: 杯
(chén), 碗 (bát), 盆 (chậu), 壶 (bình)...; các công cụ mà nhờ đó một động tác được
thực hiện: 刀 (dao), 笔 (bút), 棒 (gậy)...; hoặc phương tiện vận chuyển: 车 (xe), 船


10

(tàu), 轿 (kiệu)...
B) Mượn dùng động từ

(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
3.1.

ĐẶC ĐIỂM CỦA LƯỢNG TỪ TRONG DANH NGỮ TIẾNG HÁN (ĐỐI
CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
3.1.1. Khái niệm chung về danh ngữ
Danh ngữ hay đoản ngữ danh từ (名词短语) là từ tổ trong đó thành tố trung
tâm hay trung tâm ngữ (TTN) do danh từ đảm nhận, còn các thành tố khác được gọi
là các định ngữ hay định tố (定素). Định ngữ (ĐN) có chức năng bổ sung ý nghĩa cho
danh từ trung tâm, cụ thể hoá danh từ trung tâm.
Mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Hán thông thường gồm có 6 vị trí, lần lượt từ
trái sang phải: (vi) ĐN sở thuộc, (v) ĐN chỉ định, (iv) ĐN định lượng (gồm lượng
từ), (iii) ĐN định tính, (ii) ĐN định danh, (i) Trung tâm ngữ (TTN).
(1) 我们学校的 两位 有三十年教学的 优秀 语文 老师们
(hai vị giáo viên ngữ văn ưu tú có ba mươi năm trong nghề của trường chúng tôi)
Ví dụ (1) được thể hiện theo trục ngữ đoạn như sau:
6

5

4

3

2

1 (TTN)

我们学校 的


phụ sau như ở mô hình:
Phần phụ trước
ĐN
ĐN
ĐN
chỉ gộp
số lượng
chỉ xuất
(5)
(4)
(3)
tất cả
những
cái
(ba)

TTN
LT

DT

(T1)
con

(T2)
mèo

Phần phụ sau
ĐN miêu
ĐN


ĐN
chỉ lượng (+LGT)
4




ĐN
định tính
3

ĐN
định danh
2

DT
(TTN)
1

有名的

汉语

老师

tất cả ba cái con mèo đen ấy (dẫn theo Nguyễn Tài Cẩn):

(3)


3

2

1 (TTN)

Tầng bậc cấu trúc ngữ nghĩa chỉ mối quan hệ giữa các định ngữ với TTN trong
danh ngữ tiếng Hán được thể hiện như sau:
ĐN
sở thuộc

ĐN
chỉ định

ĐN
định lượng

ĐN
định tính

ĐN
định danh

TTN

Cấu trúc quan hệ giữa các thành tố trong danh ngữ tiếng Hán


13
Biểu thức danh ngữ tiếng Việt

3.1.2.2. Vị trí của động lượng từ trong danh ngữ tiếng Hán (đối chiếu với tiếng
Việt)
Khi kết hợp với số từ tạo thành tổ hợp chỉ lượng, động lượng từ có thể đặt sau
động từ [ĐT... + ĐLT]. Ví dụ:
(4) 他去年病了两次. (Năm ngoái ông ấy bị ốm hai lần.)
Động lượng từ tu sức cho danh từ, tạo thành kết cấu danh ngữ. Cụ thể, kết cấu
[số từ + động lượng từ] như: 一班 (một chuyến), 一次 (một lần), 一遍 (một lượt)
biểu thị số lần của hành động.
[số từ + động lượng từ + danh từ]: 一班飞机 (một chuyến bay)
[chỉ từ + động lượng từ + danh từ]: 这次会议很成功. (Hội nghị này rất thành công.)
3.1.3. Khả năng kết hợp của lượng từ tiếng Hán (đối chiếu với tiếng Việt)
3.1.3.1. Khả năng kết hợp của lượng từ cá thể với số từ
五棵 (5 cây); 20 多节 (hơn 20 tiết); 第三层 (tầng thứ 3)...
3.1.3.2. Khả năng kết hợp của lượng từ cá thể với danh từ
本书 (quyển sách); 张纸 (tờ giấy); 条鱼 (con cá)...
3.1.3.3. Khả năng kết hợp của lượng từ cá thể với hình dung từ
一厚本词典 (một cuốn từ điển dày); 一大条黄瓜 (một quả dưa chuột to)...
3.1.3.4. Khả năng kết hợp của lượng từ cá thể với đại từ chỉ thị
这本书 (cuốn sách này); 那把刀 (con dao kia)…
3.1.3.5. Khả năng kết hợp của lượng từ cá thể trong thành ngữ
Đặc điểm về khả năng kết hợp của lượng từ trong tiếng Hán là: (i) Không độc
lập làm danh ngữ; (ii) Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng (một, hai, ba...); (iii)


14

Có khả năng kết hợp với từ ngữ chỉ xuất (này, kia...); (iv) Có khả năng mang mọi loại
định ngữ.
Lượng từ trong tiếng Hán luôn bắt buộc phải xuất hiện trong danh ngữ có từ chỉ
lượng (ví dụ: 一个学生). Biểu đạt nội dung tương tự, trong tiếng Việt có thể có hoặc


15

trong một ngữ đoạn, nó hoàn toàn có thể thực hiện được chức vụ này. Ở ví dụ: 黑猫,
白猫,我喜欢只黑 (Mèo đen, mèo trắng, tôi thích con đen), 只黑 (con đen) làm tân
ngữ. Trong câu: 宝玉买了三本书, 黛玉也买了三本 (Bảo Ngọc mua ba cuốn sách,
Đại ngọc cũng mua ba cuốn), 三本 (ba cuốn) giữ chức vụ tân ngữ. Tương tự, ở câu
他 送 我 一本书 (Anh ấy tặng tôi một quyển sách), cụm 一本书 là tân ngữ.
3.2.1.4. Chức vụ định ngữ
Tổ hợp [số từ + lượng từ] có thể làm thành phần định ngữ trong câu, thường đứng
trước danh từ hoặc đại từ. Ví dụ: 我今天买了三本杂志, 一本汉英辞典, 一件衬衫.
(Hôm nay tôi mua ba cuốn tạp chí, một cuốn từ điển tiếng Anh, một chiếc áo sơ mi.)
3.2.1.5. Chức vụ bổ ngữ
Chỉ xuất hiện sau hình dung từ (tính từ). Ví dụ: 这里菜的价格比那个市场贵
一倍. (Giá rau ở đây đắt gấp đôi ở chợ kia.)
3.2.1.6. Chức vụ trạng ngữ
Kết cấu [số từ + lượng từ] làm thành phần trạng ngữ trong câu. Ví dụ: 三次去
他家都没找着他. (Ba lần đi đến nhà anh ấy đều không gặp được anh ta.)
3.2.2. Chức vụ cú pháp của động lượng từ
3.2.2.1. Chức vụ chủ ngữ
Tổ hợp [数词 + 动量词] (số từ + động lượng từ)
Tổ hợp [số từ + động lượng từ] tiếng Hán có thể làm thành phần chủ ngữ trong
câu. Ví dụ: 一次也不去. (Một lần cũng không đi.); 一遍也不读. (Một lượt cũng
không đọc.)
3.2.2.2. Chức vụ vị ngữ
Tổ hợp [số từ + động lượng từ] có thể làm thành phần vị ngữ trong câu. Ví dụ:
小王一次 小李一次. (Tiểu Vương một lần, Tiểu Lý một lần.); 他总共才一遍.
(Anh ta tổng cộng mới một lần.)
Trong tiếng Việt không có hình thức kết cấu như tiếng Hán. Loại từ trong tiếng
Việt được coi là một lớp từ phi vị ngữ tính, không có khả năng tự mình trực tiếp làm


CHƯƠNG 4
ỨNG DỤNG THỰC TẾ: KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
LƯỢNG TỪ CỦA NGƯỜI VIỆT HỌC TIẾNG HÁN VÀ LOẠI TỪ CỦA
NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT
ĐẶT VẤN ĐỀ
Về khả năng ứng dụng thực tế, có thể nói lượng từ trong tiếng Hán và loại từ
trong tiếng Việt có phạm vi hoạt động rộng lớn từ phương diện giao tiếp, nghiên cứu,
giảng dạy, đến dịch thuật... Chúng tôi chọn việc ứng dụng thực tế lượng từ/ loại từ
trong giảng dạy, vì trước hết, số người học ngôn ngữ rất lớn (cả tiếng Hán và tiếng
Việt). Thực tế hoạt động ngôn ngữ cho thấy, bên cạnh những tương đồng, giữa chúng
còn có nhiều điểm rất khác biệt. Chính những đặc điểm này ở những góc độ khác nhau
lại là nguyên nhân tiềm ẩn gây khó khăn cho người sử dụng và dẫn đến mắc lỗi.
4.1. KHÁI QUÁT VỀ LỖI VÀ PHÂN TÍCH LỖI
4.1.1. Khái quát về lỗi sử dụng lượng từ/ loại từ
Trong quá trình thụ đắc một ngoại ngữ (người Việt học tiếng Hán, người Trung
Quốc học tiếng Việt), thường xuất hiện những khó khăn về ngôn ngữ mà người học gặp
phải, đó là mắc lỗi. Những nhà ngôn ngữ học ứng dụng như Selinker, Richards và Ellis
đã nhìn nhận lỗi (error) từ những góc độ khác nhau. Lỗi được phân tích dựa trên hai luận
thuyết chính: thuyết phân tích đối chiếu (contrastive analysis) và thuyết phân tích lỗi
(error analysis).
NGÔN NGỮ TRUNG GIAN
NGÔN NGỮ THỨ NHẤT
(L1)

NGÔN NGỮ THỨ HAI
(L2)

NGÔN NGỮ NGUỒN


Tham gia khảo sát này có 247 sinh viên Trung Quốc năm thứ ba chuyên ngành
tiếng Việt đang học tiếng tại Việt Nam năm học 2014-2015, có 107 người tham gia
trả lời trắc nghiệm trực tuyến thông qua hệ thống bảng hỏi (SurveyMonkey), với
1173 phát ngôn có chứa lỗi loại từ được thu thập.
Phân loại lỗi sử dụng loại từ tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc
TT
1
2
3
4

Loại lỗi
Dùng sai loại từ

Số lượng
730

Tỉ lệ (%)
62

Dùng thừa loại từ
Dùng thiếu loại từ
Nhầm lẫn khác

221
213
9

19
18

Trung cấp (năm 2 + 3)
Cao cấp (năm 4)
Tổng

Số lượng
(n)
108
187
75
370

Số lỗi
LGT
SL
%
114 58
57
29
25
13
197 100

Thiếu
LGT
SL
%
31
27
22
39

lượng từ chiếm 31%.
4.2.2.1. Lỗi dùng thiếu lượng từ tiếng Hán
Lỗi dùng thiếu lượng từ ở sinh viên Việt Nam học tiếng Hán chiếm tỉ lệ 31%.
4.2.2.2. Lỗi dùng thừa lượng từ tiếng Hán
Lỗi dùng thừa lượng từ ở sinh viên Việt Nam học tiếng Hán chiếm tỉ lệ 33%.
4.2.2.3. Lỗi dùng sai lượng từ tiếng Hán
Lỗi dùng sai lượng từ ở sinh viên Việt Nam học tiếng Hán chiếm tỉ lệ 36%.
4.2.2.4. Các loại lỗi khác
Thứ nhất, lỗi do nhầm lẫn do các lượng từ đồng âm. VD: 支, 枝, 只 /zhi/;
Thứ hai, lỗi do ảnh hưởng của âm Hán Việt. VD:本 (bản), 类 (loài/loại).
Kết quả khảo sát nguyên nhân mắc lỗi lượng từ tiếng Hán
Nguyên nhân gây mắc lỗi
CD (chuyển di ngôn ngữ)
NNĐ (tự ngôn ngữ đích)
VT (vượt tuyến/ khái quát quá thái)
Các nguyên nhân khác

Số lượng
67
53
48
29

%
35
27
24
14



138
59

4.2.3.1. Nhóm lượng từ có tỉ lệ dùng đúng cao nhất
Gồm có: 本, 次, 朵, 封, 个, 句, 口, 辆, 只, 种
4.2.3.2. Nhóm lượng từ có tỉ lệ dùng đúng thấp nhất
Gồm có: 瓣, 班, 盏, 色, 任, 般, 具, 项, 帧, 出
4.2.3.3. Nhóm lượng từ có tỉ lệ nhầm lẫn cao nhất
Gồm có: 1) 只 và 条; 2) 枝, 支 và 只; 3) 道 và 条 (dao/tiao); 4) 架 và 台 (jia/
tai); 5) 页 và 张 (yè/zhāng); 6) 根 và 条 (gen / tiao)…
4.3. BÀN LUẬN
4.3.1. Tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi
i, chuyển di ngôn ngữ; ii, nguyên nhân “vượt tuyến”

4.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc mắc lỗi
4.3.2.1. Đặc điểm sử dụng lượng từ/ loại từ trong tiếng Hán và tiếng Việt
4.3.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa
4.3.2.3. Đặc điểm văn hóa - xã hội của người sử dụng
4.4. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI SỬ DỤNG LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN VÀ
LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
4.4.1. Về vấn đề khắc phục lỗi


21
Khắc phục lỗi hay chữa lỗi (error correction) là một trong những hoạt động cần thiết
và quan trọng trong quá trình dạy-học ngoại ngữ. Thời điểm chữa lỗi tốt nhất là “ngay tức
thì” khi người học mắc lỗi; còn “chữa lỗi ngay sau đó”, hoặc “chữa lỗi muộn hơn” sẽ ít hiệu
quả hơn.
4.4.2. Đề xuất phương pháp sư phạm đối với việc dạy-học lượng từ/ loại từ
4.4.2.1. Đối với người dạy

khảo sát các hiện tượng ngôn ngữ để khẳng định quan điểm của luận án đưa ra. Lượng từ
(量词) tiếng Hán bao gồm danh lượng từ và động lượng từ. Loại từ tiếng Việt (danh từ đơn
vị) có đủ các tiêu chí đặc trưng tương đương với danh lượng (nhóm lượng từ cá thể) và
động lượng (nhóm kết hợp với danh từ chỉ sự kiện) trong tiếng Hán.
3) Trên cơ sở phân tích, đối chiếu lượng từ tiếng Hán với các loại từ tương đương
trong tiếng Việt từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ pháp, luận án đã chỉ ra được những đặc điểm
giống nhau giữa chúng, đồng thời, quan trọng hơn là chỉ ra sự khác nhau giữa chúng do đặc
trưng tư duy văn hóa dân tộc mang lại cũng như khả năng kết hợp của chúng trong đoản
ngữ. Lượng từ và loại từ đều có đặc điểm chung là mang tính ước định (conventional) và
tính võ đoán 武断 (arbitrary) đặc thù của mỗi cộng đồng bản ngữ. Về khả năng kết hợp và
chức vụ cú pháp của lượng từ và loại từ được xem xét và phân tích dựa trên các biểu thức
ngôn ngữ là các kết cấu danh ngữ cơ bản [số + lượng/loại + danh], chúng có thể tổ hợp với
các lớp từ loại khác để lập thành ngữ đoạn.
4) Trong cách cấu trúc hóa, phạm trù hóa, ý niệm hóa thế giới khách quan, có
không ít “vật” được người Hán và người Việt nhìn nhận tương đồng thông qua việc sử
dụng các công cụ phạm trù hóa danh từ: lượng từ và loại từ. Thế giới khách quan qua cách
tạo kí hiệu mang tính hình tượng như 只 (con), 个 (cái), 本 (quyển), 页 (trang)... đều được
người Hán và người Việt sắp xếp lại như những “vật” được phân lập về hình thức và
lượng hóa được. Đối với cộng đồng bản ngữ Hán và Việt, đặc điểm về hình thể của “vật”
và tính không đếm được của “chất” luôn được được coi trọng. Tuy nhiên, ranh giới giữa
vật và chất không còn quan trọng như trong trường hợp: hòn /bi/ đất, sợi tóc/ chỉ, dòng
/sông/ nước, que /tăm/ sắt, thanh/ kiếm/ gỗ...
Cùng loại hình ngôn ngữ không biến hình, trong tiếng Hán, cũng như trong tiếng Việt ý
nghĩa ngữ pháp của từ loại nói chung và của lượng từ/ loại từ nói riêng không được biểu hiện
trên bình diện hình thái từ. Do vậy, đặc điểm ngữ pháp của lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng
Việt được xem xét trên bình diện khả năng kết hợp của chúng trong danh ngữ và khả năng đảm
nhận các chức vụ cú pháp của chúng trong câu. Về quan hệ hệ hình (xét trên trục đối vị/ liên
tưởng), nhìn chung, danh ngữ tiếng Hán và danh ngữ tiếng Việt có những tương đồng nhất
định, đó là về thành phần các thành tố cấu tạo và tầng bậc kết hợp.
5) Ngoài những điểm tương đồng, lượng từ trong tiếng Hán và loại từ tiếng Việt có

đếm hoặc từ chỉ lượng, danh từ bắt buộc phải có lượng/ loại từ. Vì vậy, lượng từ/ loại từ là
một bộ phận cực kì quan trọng trong hệ thống từ loại có khả năng kết hợp trực tiếp với số từ
để phân lập hoặc tính lượng sự vật hay sự kiện.
Mặc dù được xác định là thực từ trong hệ thống từ loại, nhưng lượng từ/ loại từ ít khi
độc lập làm thành phần câu, lượng từ/ loại từ thường phải kết hợp với số từ, đại từ chỉ thị để
tạo thành một đoản ngữ mới có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ. Lượng từ tiếng
Hán muốn làm chủ ngữ hoặc vị ngữ phải thay đổi hình thức ngữ pháp. Loại từ trong tiếng
Việt rất khó tồn tại một mình trong danh ngữ vắng danh từ thường, trừ khi phải có sự chuẩn bị
của ngữ cảnh.
6) Do những đặc điểm khác nhau tinh tế mang tính đặc thù giữa lượng từ tiếng Hán và
loại từ tiếng Việt nên trong quá trình thụ đắc tiếng Hán, cũng như tiếng Việt như một ngôn
ngữ thứ hai (L2), người học thường mắc lỗi “sử dụng lượng từ/ loại từ”. Luận án, trên cơ sở


24
phân tích các lỗi của người học, đề xuất cách khắc phục lỗi cũng như cách sử dụng chúng một
cách hiệu quả. Bản thân chúng tôi là giáo viên thực hành tiếng Hán, khi trực tiếp giảng dạy và
khảo sát ngữ liệu để thực hiện luận án đã nhận thấy rằng, chuyển di tiêu cực của tiếng mẹ đẻ
và lỗi tự ngôn ngữ đích là hai nguyên nhân chủ yếu gây mắc lỗi ở người Trung Quốc học
tiếng Việt và người Việt học tiếng Trung Quốc. Lỗi sử dụng lượng từ/ loại từ có thể khắc
phục được thông qua hệ thống bài tập giao tiếp và phương pháp sửa lỗi tích cực dựa trên mức
độ khó dễ và tần số xuất hiện của các nhóm lượng từ/ loại từ trong mỗi ngôn ngữ.
Tóm lại, đối chiếu lượng từ tiếng Hán hiện đại với các tương đương trong tiếng Việt
là một vấn đề nghiên cứu hấp dẫn, nhưng đầy thách thức. Với kết quả nghiên cứu bước đầu
còn khiêm tốn này, luận án mong muốn góp phần cải thiện quan niệm và có cách nhìn tích
cực về một lớp từ còn tồn tại nhiều tranh cãi ở cả hai ngôn ngữ, tiếng Hán và tiếng Việt,
đồng thời góp phần khẳng định bản chất từ loại quan trọng của chúng để có hướng nghiên
cứu tiếp theo.
2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status