VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ BÊ
ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH
DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Văn Vân
Phản biện 1: GS.TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 2: GS. TS. Nguyễn Quang
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Văn Chính
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
vào hồi…giờ….phút, ngày….tháng….năm 2019
đây là động lực chủ yếu để chúng tôi triển khai đề tài ĐẶC ĐIỂM TIẾNG
ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI
TIẾNG VIỆT.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: (i) Mục đích
nghiên cứu: Luận án đặt ra hai mục đích nghiên cứu cơ bản sau: Thứ nhất,
phân tích bản chất và đặc điểm để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội
trong văn bản chuyên ngành dược học (VBCNDH) tiếng Anh và tiếng Việt từ
quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ
vực (Register). Thứ hai, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt về
đặc điểm ngôn ngữ trong hai loại văn bản trên để tìm ra những nét tương
1
đồng và khác biệt về phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể là
về đặc điểm: Hệ thống chuyển tác, Tham thể/Chủ ngữ, thuật ngữ, cấu
trúc/dạng, thức, tình thái, đề ngữ, quy chiếu và liên kết logic; (ii) Nhiệm vụ
nghiên cứu: (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên
ngành, ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành y dược tiếng Anh và tiếng
Việt trên thế giới và ở Việt Nam; (ii) Tổng quan những đặc điểm cơ bản về
cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để xây dựng khung lí
thuyết cho luận án ngữ vực; (iii) Sử dụng khung lí thuyết đã được thiết lập
để mô tả, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và
tiếng Việt trên quan điểm của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về phương
diện Trường, Không khí và Cách thức; (iv) Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ
trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt theo các phương diện đã nêu, từ
đó thiết lập những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ; và (v)
Kết luận chung về những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội về đặc điểm Trường,
Không khí, Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án: (i) Phạm vi nghiên
cứu của luận án gồm những đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức
phân tích theo ba phạm trù ngữ vực là Trường, Không khí, và Cách thức.
Những kết quả đạt được của công trình nghiên cứu này đã cho thấy
phương pháp phân tích diễn ngôn được áp dụng để phân tích và so sánh
văn bản chuyên ngành dược học là phù hợp và có hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ý nghĩa trải nghiệm, ý nghĩa liên
nhân, ý nghĩa văn bản và mối quan hệ biện chứng giữa chúng rất quan
trọng cho việc tìm hiểu và so sánh ý nghĩa của các văn bản chuyên ngành
dược học trong hai ngôn ngữ.
6. Ý nghĩa và cái mới của luận án: (I) Về lí luận: Thông qua nghiên
cứu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu với tiếng Việt, luận
án sẽ góp phần cung cấp cho lý luận ngôn ngữ một số cứ liệu về đặc điểm ngôn
ngữ văn bản dược học tiếng Anh. Do đó, luận án góp phần làm phong phú
thêm phương pháp phân tích diễn ngôn về các văn bản chuyên ngành khác
trong tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Về thực tiễn: Nghiên cứu có ý nghĩa thực
tiễn đóng góp vào việc nâng cao kĩ năng viết các ngôn bản khoa học liên quan
đến chuyên ngành dược học, khả năng đọc hiểu nội dung các ngôn bản này
trong hai ngôn ngữ nhanh hơn và thấu đáo hơn, và dịch các văn bản thuộc
chuyên ngành dược học từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại một cách
hiệu quả.
7. Bố cục luận án: Luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan
nghiên cứu và cơ sở lí thuyết; Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản
chuyên ngành dược học tiếng Anh; Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn
bản chuyên ngành dược học tiếng Việt; Chương 4: Đối chiếu đặc điểm ngôn
ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh với tiếng Việt.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
đan xen nhau; (ii) Tính kỹ thuật; (iii) Cách diễn đạt đặc biệt; (iv) Mật độ từ
vựng cao; (v) Sự tối nghĩa về mặt cú pháp; (vi) Ẩn dụ ngữ pháp; và (vii) Có
tính không liên tục về ngữ nghĩa học.
1.2. Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành đã đưa ra
các khái niệm khác nhau về tiếng Anh chuyên ngành. Phan Văn Hòa (2011)
quan niệm tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh vì/theo những mục đích cụ
4
thể. Tuy nhiên, về cơ bản, ESP được gọi chung là tiếng Anh chuyên ngành
ở Việt Nam (Lâm Quang Đông, 2014). Khi nghiên cứu về bản chất các văn
bản khoa học trong mối quan hệ với dịch thuật, đi theo cách tiếp cận của
Halliday (1993), Hoàng Văn Vân (2005, 2010) đã chỉ ra một số đặc điểm có
thể khu biệt văn bản khoa học với các kiểu ngữ vực. Ông đã phác thảo một
bức tranh khái quát về ngữ vực trong ngôn ngữ khoa học. Ông cũng cho
thấy các văn bản khoa học trong tiếng Anh thường có những thuật ngữ bằng
tiếng Latinh hay có nguồn gốc từ tiếng Latinh. Như vậy, xét trên bình diện
nghiên cứu diễn ngôn, Hoàng Văn Vân (1993, 2005, 2006) v.v. và một số
công trình nghiên cứu khác của ông đã có những đóng góp đáng kể vào
nghiên cứu ngữ pháp, dịch thuật, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nói
chung và đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng. Ngoài ra, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ chuyên ngành,
mặc dù những chuyên ngành này không gần với chuyên ngành dược học
như công trình của Nguyễn Hòa (1999), Lê Hùng Tiến (1999), Nguyễn
Xuân Thơm (2001), Đỗ Tuấn Minh (2001), Nguyễn Thị Thanh Hương
(2003), Đỗ Kim Phương (2012), Trần Bình Tuyên (2017) v.v.
Bên cạnh những công trình về tiếng Anh chuyên ngành, đã có nhiều
nghiên cứu về tiếng Việt trên các bình diện khác nhau dựa trên các quan
điểm lí thuyết khác nhau như Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban
chuyên ngành y dược cũng như trong việc dịch thuật tiếng Anh như là một
ngoại ngữ. Tiếp theo là công trình nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp trong diễn
ngôn dược học của Vũ Thị Mẫu (2012). Nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm
của ẩn dụ ngữ pháp trong các diễn ngôn dược học tiếng Anh và mối quan
hệ mật thiết giữa việc sử dụng ẩn dụ ngữ pháp và sự tạo thành của văn bản
dược học. Như vậy, có thể cho thấy ngôn ngữ chuyên ngành có thể được
tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ và trên các bình diện của diễn ngôn
chuyên ngành (Nguyễn Xuân Thơm, 2008).
1.4. Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích thể loại diễn ngôn (genre
analysis)
1.4.1. Khái niệm diễn ngôn: Trên thế giới, khái niệm diễn ngôn đã
được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra những quan điểm khác
nhau. Khái niệm diễn ngôn lần đầu được Z. Harris (1952) cho rằng diễn
ngôn là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu. Nó là một đơn vị mở, có khả
năng phân tích. Sau này Halliday và Hassan (1976) cũng nhận định diễn
ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó khi nó nhấn mạnh văn bản hay
diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp. Ở Việt Nam, đi theo
khuynh hướng về quan điểm diễn ngôn của Halliday và Hassan, Hoàng Văn
Vân (2006) đã khẳng định ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử
dụng. Chính vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ diễn
ngôn và văn bản thay thế cho nhau để mô tả đặc điểm văn bản chuyên
ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt.
1.4.2. Khái niệm phân tích diễn ngôn: Cho đến nay đã có nhiều
quan điểm về phân tích diễn ngôn. Halliday (1994) đã có quan điểm khái
quát hơn về phân tích diễn ngôn. Ông cho rằng: “Phân tích diễn ngôn phải
được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ. Đồng thời,
lý do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng tỏ ngôn bản –
điều mà người ta nói và viết, nghe và đọc. Cả hệ thống và ngôn bản đều
phải nằm trong tiêu điểm của sự chú ý. Nếu không thì sẽ không có cách nào
để so sánh ngôn bản này với ngôn bản kia, hay với cái mà chính nó có thể
tập hợp CÁC KIỂU QUÁ TRÌNH (PROCESS TYPES) có thể xử lý được.
Ông cũng chỉ ra khung giải thích này có thể phổ quát cho mọi ngôn ngữ và
ở hình thức khái quát nhất, nó gồm có ba thành phần: (i) chính quá trình,
(ii) các tham thể tham gia vào quá trình, và (iii) các chu cảnh liên quan đến
quá trình. Ông cũng nhận định các khái niệm quá trình, tham thể và chu
cảnh là những phạm trù ngữ nghĩa giải thích một cách khái quát nhất các
hiện tượng của thế giới hiện thực được thể hiện trong các cấu trúc ngôn
ngữ. Trong tiếng Việt, Hoàng Văn Vân (2002) cũng đã nhận định các kiểu
quá trình được Halliday đề xuất cũng tồn tại giống như tiếng Anh.
1.5.2. Lý thuyết chức năng liên nhân
1.5.2.1. Lý thuyết về thức
Trong tiếng Anh, Halliday (2004) đã nhận định bất kỳ cú độc lập nào
cũng đều có sự lựa chọn về thức. Một cú chính hoặc có thức chỉ định hoặc
có thức cầu khiến; nếu nó là thức chỉ định (indicative) thì nó hoặc là thức
7
tuyên bố (declarative) hoặc là thức nghi vấn có cực (kiểu cú yêu cầu trả lời
có/không) hoặc thức nghi vấn có nội dung. Thành phần của THỨC gồm hai
tiểu thành phần: (1) Chủ ngữ (Subject) và (ii) Tác tử hữu định (Finite).
Trong tiếng Việt, theo Hoàng Văn Vân (2017), hệ thống thức được tổ chức
như là một sự kiện tương tác bao gồm người nói hay người viết, và khán giả
hay cử tọa. nó phân các vai diễn tương tác ra thành các cặp như người nói/
viết – người nghe/ đọc, thức khẳng định được hiện thực hóa điển hình bằng
mẫu thức ‘+Chủ ngữ +Vị ngữ’. Xét theo quan điểm ngữ pháp ngữ nghĩa,
Nguyễn Văn Hiệp (2008) chỉ ra thức là một phạm trù ngữ pháp của động từ
biểu thị giá trị tình thái của câu. Thức là cách biểu thị đã được ngữ pháp hóa
về tình thái.
1.5.2.2. Lý thuyết về Tình thái
Theo Halliday (2012), tình thái là một hệ thống của ngữ pháp liên
của các chỉ tố liên kết văn bản. Như vậy, đặc trưng về Cách thức trong
VBCNDH tiếng Anh được tiến hành tìm hiểu các loại cấu trúc đề thuyết,
các cách thức tổ chức diễn ngôn cả ở phương tiện quy chiếu cũng như liên
kết logic sẽ được dựa chủ yếu vào khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ
thống của Halliday cũng tham khảo lý thuyết của nhà ngôn ngữ Nguyễn
Văn Hiệp và một số nhà Việt ngữ học khác trong tiếng Việt.
1.6. Lý thuyết về ngữ vực
Halliday & Hassan (1989) mô tả như sau: (i) Trường của ngôn bản là
chỉ ra cái gì đang xảy ra, bản chất của hành động xã hội đang diễn ra (ii)
Không khí của ngôn bản là chỉ ra việc ai đang tham gia vào, bản chất của
những người tham gia, các vai diễn và vị thế của họ; (iii) Cách thức của ngôn
bản là chỉ ra vai trò của ngôn ngữ đang đóng, cái mà những người tham gia
đang chờ đợi ngôn ngữ thực hiện cho họ trong tình huống đó là gì. Như vậy,
trong phạm vi luận án, nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ chuyên ngành
dược học trên các phương diện ngữ vực theo quan điểm ngữ pháp chức năng
hệ thống của Halliday chính là nghiên cứu các đặc điểm về Trường, Không
khí và Cách thức được thực hiện hóa qua các bình diện về kinh nghiệm, liên
nhân và văn bản.
1.7. Lý thuyết ngôn ngữ so sánh đối chiếu
Luận án áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh
Hùng (2008). Bước một, mô tả (luận án mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ
pháp – từ vựng, văn bản sử dụng chủ yếu khung ngữ pháp chức năng hệ
thống của Halliday và tham khảo một số nhà nghiên cứu khác. Bước hai,
xác định những thông số để so sánh đối chiếu (dựa vào những đặc điểm
ngôn ngữ qua mô tả chúng tôi sẽ chọn các đặc điểm ngôn ngữ điển hình của
văn bản chuyên ngành dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt để so sánh
đối chiếu). Bước ba, đối chiếu.
1.8. Tiểu kết
Chương này luận án đã điểm lại tình hình nghiên cứu tiếng Anh
chuyên ngành nói chung cũng như ngôn ngữ chuyên ngành dược trong
là người mà là các sự vật liên quan đến các hóa dược, dược chất, dược liệu,
bệnh hoặc một loại thuốc nào đó v.v.
2.1.3. Kết quả phân tích thuật ngữ khoa học
Thứ nhất, tần số xuất hiện thuật ngữ khoa học trong một cú bao gồm
cả cú có Chủ ngữ hiển ngôn và cú không có Chủ ngữ hiển ngôn rất cao.
Đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ khoa học,
người ta sẽ không thể tạo được một ngôn bản khoa học nếu thiếu đặc điểm
này mà Halliday đã chỉ ra trong công trình Writing science (1993) (ví dụ:
(thuật ngữ được gạch chân, Tham thể/Chủ ngữ được in đậm) Peptic Ulcer
Disease (PUD) encompassing gastric and duodenal ulcer is the most
prevalent gastrointestinal disorder). Thứ hai, các thuật ngữ có trong Tham
thể chủ ngữ hiển ngôn chủ yếu tập trung trong các cú vật chất và cú quan hệ
và trong các cú phóng chiếu thông qua các cú tinh thần và cú phát ngôn.
Thứ ba, các thuật ngữ chuyên ngành dược học tiếng Anh là những thuật
ngữ: (i) sử dụng nguyên dạng của thuật ngữ Latinh và tiếng Hi Lạp, (ii) tiếp
nhận thuật ngữ nước ngoài; (iii) phương thức sử dụng “tiền tố”, “hậu tố”;
(iv) phương thức ghép; (v) phương thức kết hợp “tiền tố”, “hậu tố” và
10
phương pháp ghép; (vi) phương thức viết tắt. Thứ tư, thuật ngữ dược học
tiếng Anh đều là các từ loại mở, bao gồm danh từ, tính từ, động từ, và có thể
có cả trạng từ (dẫn theo Vương Thị Thu Minh, 2005).
2.1.4. Kết quả phân tích cấu trúc/dạng
Thứ nhất, dạng bị động được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng Anh
(chiếm 31%), đặc biệt là ở phần thân bài. Kết quả này cũng minh chứng cho
quan điểm khi phân tích ngữ vực của tiếng Anh khoa học của Ewer &
Latorre’s đã được Tom Hutchinson & Alan Waters chỉ ra “There was little
that was distinctive in the sentence grammar of Science English beyond a
tendency to favour particular forms such as the present simple tense, the
2.3. Đặc điểm về Cách thức trong văn bản chuyên ngành dược
học tiếng Anh
2.3.1. Kết quả phân tích Đề ngữ
Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh sử dụng phổ biến kiểu Đề ngữ trùng
khớp với chủ ngữ, với mục đích chỉ rõ đối tượng được đề cập đến có thể là
đại từ, danh từ, ngữ danh từ. Chính vì vậy đã tạo nên sự đa dạng của Đề
ngữ không đánh dấu (Trần Bình Tuyên, 2017). Thứ hai, việc sử dụng Đề
ngữ đánh dấu trong VBCNDH tiếng Anh còn chỉ ra trạng thái, cách thức
tồn tại của sự vật. Thứ ba, Đề ngữ văn bản trong VBCNDH tiếng Anh được
xuất hiện chủ yếu dưới hình thức Đề ngữ mang ý nghĩa liên hợp như: and,
both v.v. Thứ tư, VBCNDH tiếng Anh sử dụng một số phụ ngữ điển hình
với chức năng liên nhân xuất hiện với chức năng Đề ngữ liên nhân.
2.3.2. Kết quả phân tích quy chiếu ngôi và liên kết logic
Thứ nhất, trong VBCNDH tiếng Anh, các danh từ hay danh ngữ
thường được sử dụng lần đầu, sau đó được thay bằng hệ thống quy chiếu.
Trong quy chiếu ngôi, các từ chỉ ngôi được diễn đạt bằng các từ thuộc phạm
trù ngôi nhân xưng như đại từ nhân xưng, đại từ sở hữu, tính từ sở hữu. Thứ
hai, tần số sử dụng của quy chiếu chỉ định cao vượt trội trong VBCNDH
tiếng Anh. Kết quả chỉ ra là do sự xuất hiện 2.091 lần của mạo từ xác định
the và các từ chỉ định như this, that, these, those v.v. Điều này cũng phù
hợp với nhận định của Thomson (1960) “Trong tiếng Anh, mạo từ xác định
the được sử dụng nhiều trong các ngữ cảnh khác nhau. Mạo từ the được
dùng khi danh từ chỉ đối tượng được cả người nói và người nghe biết rõ đối
tượng nào đó. Nó là mạo từ xác định dùng cho cả danh từ đếm được (số ít và
số nhiều) và danh từ không đếm được”. Như vây, có thể thấy quy chiếu chỉ
định đã tham gia vào việc tạo liên kết VBCNDH tiếng Anh. Ngoài ra, các từ
chỉ định như this, that, these, those v.v. cũng được xuất hiện để chỉ cụ thể
người hoặc một loại dược liệu, thuốc, bệnh hay một phương pháp điều trị nào
đó được nói. Thứ ba, liên kết logic được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng
Anh. Nó khẳng định cho nhận định của (Tony Dudley-Evan, 1998) như sau:
3.2. Đặc điểm về Trường trong văn bản chuyên ngành dược học
tiếng Việt
3.2.1. Kết quả phân tích các kiểu quá trình
Thứ nhất, quá trình vật chất và quá trình quan hệ chiếm ưu thế tuyệt
đối (chiếm 40% cú quá trình vật chất). Thứ hai, quá trình phát ngôn được sử
dụng như là quá trình giải thích ‘hành động hữu ngôn’ hay hành động phát
ngôn. Thứ ba, quá trình hiện hữu chỉ xuất hiện 3,3% nhưng VBCNDH tiếng
Việt đã thể hiện hay thừa nhận một thực thể nào đó hiện hữu. Thứ tư,
quá trình tinh thần tri giác trong VBCNDH tiếng Việt có thể được biểu hiện
quá trình chỉ cảm giác như nhận thấy, quan sát thấy. Thứ năm, VBCNDH
tiếng Việt thể hiện các ngữ vực khoa học, vì vậy chúng chỉ có thể tồn tại
hay hoạt động, chúng không thể ứng xử như các thực thể có tư duy (Hoàng
Văn Vân, 2016).
3.2.2. Kết quả phân tích Tham thể/ Chủ ngữ
Thứ nhất, các cú có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn phân bố không
đồng đều trong VBCNDH tiếng Việt. Thứ hai, đối với các cú không có
Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn được tái hiện lại đa phần các sự vật, hiện
tượng hình thành nên một phần của văn bản. Tuy nhiên, các cú không có
Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn ở phần kết luận khi được tái hiện lại thì đại đa
số là Tham thể/Chủ ngữ chỉ người hoặc sự vật.
13
3.2.3. Kết quả phân tích thuật ngữ khoa học
Thứ nhất, thuật ngữ khoa học xuất hiện trong tất cả các cú. Chính đặc
điểm này đã minh họa cho nhận định của Halliday về đặc điểm cơ bản của
văn bản khoa học “Các khái niệm đan xen nhau, tính kỹ thuật, và mật độ từ
vựng cao” (Halliday, 1993). Thứ hai, các thuật ngữ xuất hiện trong Chủ
ngữ tập trung hầu hết trong quá trình vật chất và quá trình quan hệ (ví dụ:
Viêm khớp là chứng bệnh thường gặp với biểu hiện viêm sưng và đau
xuất hiện là thường/thông thường và luôn/luôn luôn. Ngoài ra chỉ xuất hiện duy
nhất 1 lần Phụ ngữ tình thái chỉ sự thường lệ khác.
14
3.4. Đặc điểm về Cách thức trong văn bản chuyên ngành dược
học tiếng Việt
3.4.1. Kết quả phân tích Đề ngữ
Thứ nhất, kiểu Đề ngữ không đánh dấu được sử dụng phổ biến hơn
Đề ngữ đánh dấu. Điều này cho thấy, trong VBCNDH tiếng Việt kiểu Đề
ngữ trong cú “cú như là thông điệp” (Halliday, 1998), nó giữ chức năng
tuyền tải thông điệp, đề cập thẳng đối tượng được nói đến người nghe/người
đọc. Thứ hai, các Đề ngữ đánh dấu tuy xuất hiện ít hơn Đề ngữ không đánh
dấu, nhưng VBCNDH tiếng Việt muốn nhằm tới mục đích đảm bảo tính chân
thực, tính chính xác của các hành động, các sự việc diễn ra về không gian,
thời gian, cách thức v.v. Thứ ba, Đề ngữ văn bản trong VBCNDH tiếng Việt
có chức năng liên kết thông điệp, tạo nên sự logic trong văn bản. Thứ tư, Đề
ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt bao gồm các phụ ngữ tình thái với
chức năng liên nhân có giúp người viết/ người nói bộc lộ cách đánh giá tạo
nên sự tương tác với người đọc/ người nghe.
3.4.2. Kết quả phân tích liên kết
Thứ nhất, Quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định được sử dụng không
đáng kể. Kết quả này cũng nhận định quan niệm của Brown (dẫn theo
Nguyễn Quang, 2002) “Việc sử dụng tên riêng chính là xác định cá nhân
như một thể duy nhất”. Thứ hai, VBCNDH tiếng Việt đã sử dụng liên kết
logic cao để diễn đạt trong lập luận của diễn ngôn. Thứ ba, các tổ hợp từ
ngoài ra, hơn nữa làm liên tố và chỉ cái dùng để so sánh (cách nói khác:
hơn thế nữa) trong cú chứa nó, đồng thời nêu lên quan hệ bổ sung với
những điều đã nói đến trước đó trong VBCNDH tiếng Việt.
3.5. Tiểu kết
chức năng và khai thác tất cả các kiểu quá trình. Nghiên cứu cũng chỉ ra tỉ lệ
chiếm áp đảo của quá trình vật chất và quá trình quan hệ. Ngoài ra, một đặc điểm
giống nhau nổi bật trong cả hai ngôn ngữ đó là quá trình hành vi rất hiếm được
khai thác. Thứ hai, quá trình phát ngôn và quá trình tinh thần trong cả hai văn bản
đều được khai thác với tỷ lệ cao ngang nhau và cùng có tiềm năng “phóng chiếu
thông báo lại”.
4.2.1.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh khai thác
quá trình vật chất nhiều nhất trong khi nó chỉ chiếm vị trí thứ hai, sau quá
trình quan hệ trong VBCNDH tiếng Việt. Điều này chứng tỏ hoạt động giao
tiếp trong VBCNDH tiếng Anh có liên quan nhiều đến sự vận động. Tuy
nhiên, trong tiếng Việt, những đặc điểm của hóa chất, dược chất, tá dược,
thuốc, tình trạng người bệnh v.v thường được minh họa bằng các động từ
hướng nội, “đó là những động từ diễn đạt những hành động và trạng thái
như những quá trình đóng kín trong phạm vi chủ thể” (Nguyễn Văn Thành,
2003). Thứ hai, sự khác biệt cơ bản giữa phóng chiếu phát ngôn trong cả
hai ngôn ngữ. Trong VBCNDH tiếng Anh, hai quá trình này được phóng
chiếu để thể hiện Khách thể tường minh thì trong VBCNDH tiếng Việt, quá
trình phát ngôn và quá trình tinh thần thường được thể hiện Khách thể
tường minh thông qua động từ “thấy” và “cho thấy”.
4.2.2. Kết quả đối chiếu đặc điểm Tham thể/Chủ ngữ và thuật
ngữ khoa học
4.2.2.1. Những nét tương đồng: Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh và tiếng
Việt đều khai thác số lượng lớn các cú có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn. Ngoài
ra, các cú có Tham thể/Chủ ngữ được tái hiện lại trong hai ngôn ngữ đều là các
sự vật, chủ yếu là các thuật ngữ khoa học có liên quan đến một phần chủ đề của
văn bản (Kress, 1981). Thứ hai, thuật ngữ dược học trong cả hai ngôn ngữ luôn
16
tồn tại những đơn vị từ vựng mà nó vừa có mặt trong ngôn ngữ thông thường,
tiếng Anh cao hơn nhiều so với tiếng Việt. Kết quả này được Janice R Mathews
và Robert W Mathews (2007) nhận định về dạng bị động được sử dụng trong văn
bản khoa học trong Successful scientific writing. Thứ hai, dạng bị động trong
VBCNDH tiếng Anh hầu như thường có dạng: Chủ ngữ + be +Quá trình ở
mẫu phân từ quá khứ + by. Trong khi đó, trong VBCNDH dược học tiếng
Việt, các cú ở dạng bị động được xuất hiện dưới hai hình thức mà ngữ pháp
truyền thống gọi là các động từ bị động “bị” và “được”. Sự khác nhau về
các cấu trúc tương ứng giữa dạng chủ động và dạng bị động có thể được
trình bày như sử dụng thuật ngữ của ngữ pháp hình thức: NP1 + V (chủ
17
động) + NP2 [chủ động]; NP2 + V1 (bị động) + NP2 + V2 [bị động]
(Hoàng Văn Vân, 2002). Hoặc, các cú ở dạng bị động trong VBCNDH
tiếng Việt, ngoài cấu trúc: Chủ ngữ + được/bị (theo cách gọi của ngữ pháp
truyền thống) + Động từ (quá trình) + Chu cảnh (chu cảnh chỉ nguyên
nhân) thì còn có nhiều cú được sử dụng với cấu trúc: Chủ ngữ + được/bị +
Chủ ngữ + Quá trình (Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên, 2004).
4.3. Đối chiếu đặc điểm về Không khí trong VBCNDH tiếng Anh
với tiếng Việt
4.3.1. Kết quả đối chiếu đặc điểm Thức
Thứ nhất, việc khai thác tỉ lệ cao của cú tuyên bố trong cả hai
ngôn ngữ kết hợp xu hướng tạo Phụ ngữ tình thái nhằm diễn tả quan điểm
của người viết diễn ngôn trong VBCNDH. Thứ hai, dạng thức nghi vấn hoặc
thức mệnh lệnh vắng mặt trong cả hai ngôn ngữ mặc dù cùng chỉ sử dụng
dạng thức tuyên bố và chủ yếu là thức tuyên bố khẳng định để kiến tạo văn
bản. Kết quả này cũng thể hiện rõ nét VBCNDH tiếng Anh cũng như tiếng
Việt mang những đặc trưng chung của văn bản khoa học đã được Lưu Trọng
Tuấn (2008) chỉ ra như sau: “Văn bản khoa học có chức năng thông báo là
chủ yếu, thường trình bày những hiện tượng, quy luật của tự nhiên v.v”.
4.4.1. Kết quả đối chiếu đặc điểm Đề ngữ
4.4.1.1. Những nét tương đồng: Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh và tiếng
Việt sử dụng Đề ngữ trùng khớp với chủ ngữ nhằm mục đích gọi thẳng tên hay
đối tượng để thể hiện rõ mục đích cho người nghe/người đọc. Thứ hai,
VBCNDH tiếng Anh cũng như tiếng Việt đều sử dụng một lượng Đề ngữ liên
nhân. Ngoài ra, Đề ngữ liên nhân trong cả hai ngôn ngữ đều được xuất hiện bởi
các Phụ ngữ tình thái, đồng thời các Phụ ngữ tình thái này có thể đứng trước hoặc
đứng trong cú để diễn tả nghĩa liên nhân trong cả hai ngôn ngữ. Thứ ba, Đề ngữ
văn bản được khai thác với tỉ lệ cao trong cả văn bản tiếng Anh cũng như tiếng
Việt với ý nghĩa kết nối các thông điệp nhằm tạo tính liên kết văn bản. Ngoài ra,
VBCNDH trong hai ngôn ngữ cùng khai thác Đề ngữ chuyển tiếp, Đề ngữ cấu
trúc, và Đề ngữ liên hợp với mục đích dấu hiệu hoặc để chuyển sang một vấn đề
mới hoặc để kết nối các cú với nhau trong một cú phức.
4.4.1.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, tỷ lệ các kiểu Đề ngữ không
đánh dấu, Đề ngữ liên nhân, và Đề ngữ văn bản trong văn bản tiếng Anh lần lượt
cao vượt trội so với văn bản tiếng Việt. Thứ hai, văn bản tiếng Việt không thấy
xuất hiện thành phần tác tử hữu định. Thứ ba, hoặc việc sử dụng đại từ vô nhân
xưng “It” làm chủ ngữ hình thức trong VBCNDH tiếng Anh, trong khi không
tồn tại chủ ngữ vô nhân xưng nào trong VBCNDH tiếng Việt. Kết quả này góp
phần minh chứng cho đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học tiếng Anh (Lưu
Trọng Tuấn, 2008) và cũng giống như nhận định về đặc điểm của tiếng Anh
chuyên ngành địa chất của Đỗ Kim Phương (2012).
4.4.2. Kết quả đối chiếu đặc điểm quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định
4.4.2.1. Những nét tương đồng: VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt
cùng khai thác số lượng quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định với tần số cao đã
làm tăng tính liên kết và minh xác trong cả hai ngôn ngữ.
4.4.2.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, quy chiếu ngôi được khai
thác với tần số cao vượt trội trong VBCNDH tiếng Anh so với quy chiếu
ngôi trong tiếng Việt là do “Trong tiếng Anh, các danh từ hay danh ngữ
thường được sử dụng lần đầu, sau đó chúng được thay thế bằng hệ thống quy
một văn bản có thể có những yếu tố thuộc các loại khác nhau làm thành những
tuyến phối hợp với nhau, tạo nên tính hoàn chỉnh về nội dung cho văn bản, và
cũng có thể nhằm mục đích tạo ra những ấn tượng nào đó (Diệp Quang Ban,
2012). Ngoài ra, “Trong ngữ pháp văn bản và phân tích diễn ngôn, những yếu tố
liên kết cú ở bậc văn bản, hay bậc cấu trúc trên cú thì thực chất chúng là những
từ biểu thị những mối quan hệ logic – ngữ nghĩa giữa các cú. Đó là quan hệ
nhân – quả, quan hệ tương phản, quan hệ tương đồng, quan hệ giải thích v.v.”
và chúng được Nguyễn Văn Hiệp xếp vào nhóm phương thức liên kết đặc trưng
quan trọng (2008).
4.5. Tiểu kết
(i) Đặc điểm Trường, kết quả đã chỉ ra những nét tương đồng và
khác biệt trong việc khai thác tất cả các kiểu quá trình trong hai văn bản.
Hơn nữa luận án cũng chỉ ra được những nét tương đồng và khác biệt cơ
bản về hệ thống dạng cũng như việc sử dụng của các cú có Tham thể/Chủ
ngữ hiển ngôn và cú không có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn. Thêm vào
đó, với hệ thuật ngữ dược học tiếng Anh có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh
và tiếng Hy Lạp, kết hợp với nhiều thuật ngữ thuộc các ngành khoa học
khác. Trong khi hệ thuật ngữ dược học tiếng Việt ngoài sự kết hợp của
20
các ngành khoa học khác, còn có tính đặc thù của từ Hán - Việt; (ii) Đặc
điểm Không khí, chương này cũng chỉ ra nét tương đồng cơ bản về việc sử
dụng Thức tuyên bố, trong đó chủ yếu là Thức tuyên bố khẳng định trong hai
văn bản. Ngoài ra, Tình thái cũng được xuất hiện với tần số cao trong cả
VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt mặc dù có sự khác biệt không đáng kể về tỷ
lệ Tình thái trong cả hai ngôn ngữ. Điều này cho thấy xu hướng thể hiện khách
quan trong VBCNDH tiếng Anh khác hơn so với VBCNDH tiếng Việt; (iii)
Đặc điểm Cách thức: xu hướng sử dụng Đề ngữ văn bản cũng như Đề ngữ
liên nhân trong văn bản tiếng Anh cao hơn trong tiếng Việt. Hơn nữa, có sự
mà là các sự vật, chủ yếu là các thuật ngữ chỉ các dược liệu, dược chất,
hóa dược, thuốc, bệnh, phương thức sử dụng thuốc v.v. Tuy nhiên, chúng
được sử dụng vượt trội trong phần kết luận của văn bản tiếng Việt.
- Về đặc điểm hệ thuật ngữ dược học: Một điểm chung của văn bản
chuyên ngành dược học tiếng Anh với tiếng Việt là mật độ thuật ngữ khoa
học cao. Đồng thời có sự kết hợp với các thuật ngữ hóa học, vật lý, sinh
học, y học v.v. tạo tính đóng gói thông tin. Hơn nữa, hệ thuật ngữ dược học
trong văn bản dược học tiếng Anh có yếu tố ngoại lai chủ yếu có gốc La
tinh và Hy Lạp. Trong khi từ Hán – Việt vốn là từ vay mượn từ tiếng Hán,
ngôn ngữ bác học trong một thời gian dài ở Việt Nam. Tuy nhiên, từ Hán Việt không phải là ngôn ngữ bình dân dễ hiểu với quảng đại quần chúng.
- Về đặc điểm cấu trúc/dạng: Dạng bị động đều được khai thác
trong hai ngôn ngữ, nét đặc trưng nhằm đảm bảo tính khách quan trong
văn bản khoa học. Đây chính là đặc điểm cơ bản không thể thiếu của ngôn
ngữ dược học trong tiếng Anh cũng như tiếng Việt. Tuy nhiên tỷ lệ dạng
bị động được khai thác với tỷ lệ cao vượt trội trong tiếng Anh hơn so với
tiếng Việt.
1.2. Đặc điểm về Không khí
- Về đặc điểm Thức: Đặc trưng về Không khí trong VBCNDH tiếng
Anh đối chiếu với tiếng Việt được hiện thực hóa qua chức năng liên nhân,
thể hiện việc người nói/người viết lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ trong
việc diễn đạt và tương tác với người nghe/người đọc. Nghĩa liên nhân
trong VBCNDH được thể hiện thông qua các kiểu Thức tuyên bố, trong
đó kiểu thức tuyên bố khẳng định được tình thái hóa (có yếu tố tình thái)
chiếm tỷ lệ áp đảo. Điều này đã nhận định được nét tương đồng rõ nhất
trong cả hai ngôn ngữ là chỉ sử dụng duy nhất kiểu Thức tuyên bố, đồng
thời không có sự khác biệt đáng kể về số lượng các kiểu thức trong hai
ngôn ngữ.
- Về đặc điểm Tình thái: Hệ thống Tình thái trong các động từ tình
hiện bất kỳ đại từ vô nhân xưng nào trong văn bản tiếng Việt.
- Về đặc điểm quy chiếu và liên kết logic: VBCNDH tiếng Anh
tiếng Việt đã lựa chọn và sử dụng một cách hợp lý về cách thức tổ chức
nội dung của văn bản ở các phương diện về quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ
định cũng như liên kết logic thông qua các nguồn lực ngữ pháp – từ vựng
được sử dụng một cách phù hợp với mục đích giao tiếp nhằm hướng tới
xây dựng nên những văn bản trọn vẹn, thống nhất về chủ đề cũng như về
kết cấu, trên cơ sở đó tạo nên sự hiện thực hóa các đặc trưng về Trường,
Không khí và Cách thức trong VBCNDH trong hai ngôn ngữ. Mặc dù
vậy, vẫn có nét khác biệt đáng kể về đặc điểm quy chiếu, cụ thể là
VBCNDH tiếng Anh khai thác quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định cao
vượt trội so với tiếng Việt. Trong khi đó, liên kết logic trong VBCNDH
tiếng Anh và tiếng Việt gần như không có sự khác biệt đáng kể.
2. Luận án là một công trình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn
thuộc thể loại văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh, có đối chiếu với
tiếng Việt. Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng chủ yếu của
luận án được phát triển trên cơ sở lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống
của Halliday về lý thuyết ngữ vực với các đặc trưng về Trường, Không
khí, và Cách thức. Những kết quả đạt được của công trình nghiên cứu này
đã cho thấy phương pháp phân tích diễn ngôn được áp dụng cho văn bản
chuyên ngành dược học là phù hợp và có hiệu quả. Kết quả nghiên cứu
không những hướng đến bình diện nghĩa biểu hiện, mà còn hướng đến
bình diện nghĩa liên nhân, nghĩa văn bản cũng như mối quan hệ biện
23