Bộ giáo dục v đo tạo Viện khoa học x hội Việt Nam
Viện ngôn ngữ học
đặng ngọc hớng Danh ngữ tiếng anh
(trong sự đối chiếu với tiếng Việt) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học ứng dụng
M số: 62.22.01.05
Tóm tắt Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học
H Nội 2009
Th viện Viện Ngôn ngữ học
Th viện Viện Đại học Mở H Nội 3
danh mục các công trình đ đợc công bố
liên quan đến đề ti của luận án
1. Đặng Ngọc Hớng (2007), Hotel Niko và Niko
Hotel, Ngôn ngữ và Đời sống, (1+2).
2. Đặng Ngọc Hớng (2007), Điều biến tố và bổ ngữ
trong danh ngữ tiếng Anh, Ngôn ngữ và Đời sống, (9).
3. Đặng Ngọc Hớng (2007), Bàn về thể loại định
ngữ trong danh ngữ tiếng Anh, Ngữ học trẻ 2007 - Diễn
đàn học tập và nghiên cứu, Hội ngôn ngữ học Việt Nam.
4. Đặng Ngọc Hớng (2007), Đầu tố trong danh ngữ
tiếng Anh, Kỷ yếu hội nghị quốc tế về nghiên cứu khoa
học của Viện Đại học Mở Hà Nội (2007).
5. Đặng Ngọc Hớng (2008), Đầu tố hoà kết đặc biệt
trong danh ngữ tiếng Anh, Ngôn ngữ và Đời sống, (7).
tiếng Anh - tiếng Việt.
5
3. Nhiệm vụ của luận án
- Nhận diện cho đợc những hiện tợng ngôn ngữ đợc
coi là danh ngữ trong tiếng Anh dới các quan niệm hiện thời
trong Anh ngữ học.
- Miêu tả, phân loại các hiện tợng danh ngữ tiếng Anh về
hai mặt cấu trúc và chức năng.
- Đối chiếu với danh ngữ tiếng Việt để tìm ra những tơng
đồng và dị biệt giữa hai loại hình danh ngữ, qua đó nêu lên những
kiến giải cơ bản về những đặc trng loại hình của hai danh ngữ
hữu quan.
4. Đối tợng nghiên cứu
Luận án lấy đối tợng nghiên cứu chính là Danh ngữ tiếng
Anh. Việc đối chiếu danh ngữ tiếng Anh với danh ngữ tiếng Việt
chỉ đợc tiến hành trên cơ sở nhận diện và phân tích đầy đủ các
bình diện cơ bản về cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của danh ngữ
tiếng Anh.
5. Các giả thuyết trong luận án
Danh ngữ có thể đợc coi là một cái toàn thể, là một bộ phận
chức năng thành phần của câu. Danh ngữ có cấu trúc nội bộ, do đó
hoàn toàn có thể mô tả danh ngữ tiếng Anh dựa vào các đặc điểm
ngữ pháp, ngữ nghĩa và những mối liên kết đa dạng giữa các thành tố
cấu trúc của chúng, từ đó phân tích, tìm ra đợc những quy tắc kết
hợp giữa các thành tố, xây dựng đợc mô hình cấu trúc tổng thể của
danh ngữ tiếng Anh.
Danh ngữ tiếng Anh khác với danh ngữ tiếng Việt về cấu
trúc tổng thể và vị trí tuyến tính các thành tố, do sự khác nhau về loại
hình ngôn ngữ. Tuy nhiên, nội dung quan hệ cú pháp-ngữ nghĩa giữa
7
danh ngữ tiếng Anh, phơng pháp đối chiếu ứng với nhiệm vụ đối
chiếu danh ngữ tiếng Anh với danh ngữ tiếng Việt.
Trong khi miêu tả, các phơng pháp thành viên: phơng pháp đối
lập, phơng pháp phân bố, phơng pháp mô hình hoá, các thủ pháp
phân tích thành tố, phân tích quan hệ giữa các thành tốđợc tập
trung sử dụng. Toàn bộ nghiên cứu đợc tiến hành theo hớng tiếp
cận hệ thống, phối hợp hai chiều diễn dịch và qui nạp. T liệu gồm
những phát ngôn có chứa trong các tài liệu ngữ pháp, tài liệu nghiên
cứu, sách học và từ điển tiếng Anh, tiếng Việt.
8. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Th mục tham khảo, luận án
gồm 4 chơng:
Chơng 1. Những đặc tính căn bản của danh ngữ tiếng Anh
(trong sự đối chiếu với tiếng Việt)
Chơng 2. Danh ngữ cơ sở tiếng Anh (Basic noun phrases)
Chơng3. Danh ngữ mở rộng tiếng Anh (Expanded noun
phrases)
Chơng 4. Đối chiếu danh ngữ tiếng Anh với danh ngữ tiếng
Việt.
Chơng 1
Những đặc tính cơ bản của danh ngữ tiếng
Anh
(trong sự đối chiếu với tiếng Việt)
Chơng này trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
luận án, đó là vấn đề về tính cấp bậc các đơn vị ngữ pháp tiếng Anh,
đặc điểm cơ bản và phân loại danh ngữ tiếng Anh trong sự đối chiếu
với tiếng Việt.
9
điểm cơ bản rằng cụm từ là nhóm từ thờng (không phải luôn luôn)
gồm từ hai từ trở lên, không có đặc điểm định đề của một câu. Khái
niệm cụm từ đợc xây dựng trên hai cơ sở: quan hệ giữa các thành tố
và chức năng ngữ pháp của cụm từ. Thuật ngữ cụm từ đợc hiểu nh
thế, ứng với trong tiếng Việt, trong tiếng Anh thờng đợc sử dụng
hơn cả là phrase. Nh vậy, nghiên cứu danh ngữ trong Anh ngữ học
là nghiên cứu một loại ngữ đoạn (hay còn gọi là cú đoạn hay đoản
ngữ) đợc chia ra từ trong câu trên cơ sở chức năng cú pháp. Trong
các sách ngữ pháp tiếng Anh, về cơ bản các học giả đồng thuận khi
nói về chức năng cú pháp danh ngữ giống nh của danh từ.
Chúng tôi quan niệm rằng danh ngữ tiếng Anh có hai đặc điểm
chính:
- Về phơng diện bản thể, danh ngữ tiếng Anh là một tổ hợp từ trong
mối quan hệ chính-phụ có danh từ chính tố đi cùng với thành phần
phụ hoặc đứng một mình.
- Về mặt chức năng, trong cấu trúc mệnh đề danh ngữ có thể đảm
đơng một số nhiệm vụ chính: làm chủ ngữ (subject), tân ngữ
(object), bổ chủ ngữ (subject complement). Trong ví dụ sau: She is
expecting her first child danh ngữ she là chủ ngữ, danh ngữ her first
child là tân ngữ:
1.3. Nhận xét chung về danh ngữ trong Anh ngữ học trong sự đối
chiếu với danh ngữ trong Việt ngữ học
Luận án cho rằng khái niệm danh ngữ tiếng Anh giống nh khái
niệm danh ngữ tiếng Việt. Danh ngữ có thể đợc coi nh là một cấu
trúc chức năng có tầng bậc, có thành tố cơ bản là từ, đảm nhận một
chức năng cú pháp nhất định trong câu. Xét về cấu tạo của danh ngữ
tiếng Anh, chúng tôi thấy có thể quy đợc về một trong hai trờng
hợp sau:
11
- Những danh ngữ có danh từ ở dạng đẳng lập, ví dụ: Jim and
his brother play together.
- Những danh ngữ có cấu trúc không liền mạch
(discontinuous), ví dụ: Rumour has it that he was fired.
- Những cụm từ không có danh từ nhng có chức năng nh
một danh ngữ trong cấu trúc mệnh đề, ví dụ cụm từ chỉ có đại từ:
One shouldnt pamper himself, hoặc động từ nguyên thể: To do is to
learn.
Chơng 2
Danh ngữ cơ sở tiếng Anh
2.I. Các kiểu danh ngữ cơ sở tiếng Anh
Danh ngữ cơ sở tiếng Anh đợc chúng tôi trình bày trong
luận án thuộc hai kiểu kết hợp: kiểu 1 chỉ gồm hai thành tố: chính tố
kết hợp với thành tố định tố, ví dụ: a student, đôi khi chính tố vắng
mặt chúng tôi gọi là chính tố hoà kết (fused heads), và kiểu 2 chỉ
gồm chính tố, ví dụ: students.
Loại danh ngữ cơ sở thứ nhất về cơ bản tơng ứng với loại
danh ngữ cơ sở theo cách phân loại của Quirk & Greenbaum et al.
(1973). Tuy nhiên, cách phân loại danh ngữ cơ sở tiếng Anh của luận
án có điểm khác là, trong danh ngữ cơ sở tiếng Anh, chính tố thông
thờng phải hiện hữu, tuy nhiên có một số trờng hợp chính tố hiện
hữu không rõ ràng, ngữ pháp truyền thống gọi trờng hợp này là
chính tố tỉnh lợc, hoặc thành tố định ngữ đã chuyển thành đại từ giữ
chức năng chính tố. Luận án đi theo quan điểm của Huddleston &
Pullum (2002) chỉ dùng một phơng pháp phân tích rằng trong những
trờng hợp nh thế, chính tố không cần xuất hiện, chính tố hoà kết
13
xác định nhân xng (we,you) Chúng tôi quan niệm rằng, dựa vào
nghĩa và khả năng kết hợp, định tố trong danh ngữ tiếng Anh đợc
chia làm hai loại: định tố cơ bản và định tố bổ sung, ví dụ: the four
students. Định tố cơ bản cung cấp những thông tin cơ bản, hạn định
chính tố (về tính xác định, sở hữu, ), và có đặc điểm là loại trừ
nhau. Định tố bổ sung có nhiệm vụ bổ sung nghĩa hạn định cho chính
tố, khi cùng xuất hiện thì định tố bổ sung đứng sau định tố cơ bản.
Danh ngữ cơ sở tiếng Anh dạng 1 có thể có những kiểu kết
hợp sau:
- Chính tố kết hợp với thành tố định tố cơ bản. Thành tố định
tố cơ bản gồm một số từ loại khác nhau: mạo từ phiếm định a(n): a
book, mạo từ xác định the: the book; từ xác định tổng lợng (all,
some, eaery, either, no,): all men; từ xác định chỉ định (this,
that,): this girl; từ xác định nhân xng (we, you): we students; từ
xác định nghi vấn (what, which, whose): which book; từ và cụm từ
xác định sở hữu (my, mine, my brothers,): my family, my brothers
wife.
- Ngoài định tố cơ bản, chính tố còn có thể kết hợp với định
tố bổ sung. Định tố bổ sung có thể đứng một mình trớc chính tố
hoặc có thể đi cùng với định tố cơ bản. Danh ngữ cơ sở có thành tố
định tố bổ sung gồm một số từ loại sau: số từ (two, second,): two
boys; từ và cụm từ xác định tổng lợng phỏng định (many, a lot
of,): many/a lot of people; từ xác định chỉ sự đầy đủ (enough,
sufficient): enough water; từ xác định chỉ sự thêm vào (other): other
days, từ xác định chỉ sự nhấn mạnh sở hữu (own): my own car, từ xác
định chỉ sự so sánh (such): such weather, và một số tính từ chỉ sự nối
tiếp
(next, following,): the next question.
15
hợp với từ xác định tổng lợng: few, some, many, all trong lối nói
trang trọng: Few would quarrel with that assessment.
- hoặc chính tố hoà kết chỉ vật khi kết hợp với định tố cơ bản
(this, these): I like the taste of this, hoặc kết hợp với cụm từ sở hữu:
She hasnt been to the doctors since, hoặc kết hợp với định tố bổ
sung: much, little, hoặc enough: She never eats much for breakfast.
2.4 Danh ngữ cơ sở kiểu chỉ có chính tố
Trên trật tự hình tuyến, danh ngữ chỉ có chính tố xuất hiện,
trớc và sau chính tố không có thành phần phụ. Chính tố có thể là
danh từ chung số ít hoặc số nhiều, ví dụ: cloth, tigers , hoặc danh
từ riêng, ví dụ: Tom, Mary.
Đối với danh ngữ chính tố là danh từ chung, thông thờng
danh từ chung số nhiều dùng với mạo từ zero dùng để nói chung
chung, quy loại sự vật, ví dụ: They say elephants never forget. Danh
từ chung số ít đếm đợc cũng có thể đi với mạo từ zero làm chính tố
danh ngữ cơ sở ở một trong ba trờng hợp: chính tố là danh từ số ít
đếm đợc mang nghĩa chỉ khối: by train, go to school; dùng với
nghĩa chung chung: Cloth is sold by the metre now; hoặc dùng với
nghĩa chỉ công việc hoặc chức vụ duy nhất: I like to be president.
Chơng 3
Danh ngữ mở rộng tiếng Anh
3.1. Các kiểu danh ngữ mở rộng tiếng Anh
Danh ngữ mở rộng tiếng Anh đợc trình bày trong chơng
này thuộc hai kiểu:
- Danh ngữ mở rộng nội vi.
- Danh ngữ mở rộng ngoại vi.
3.2. Danh ngữ mở rộng bởi thành tố mở rộng nội vi
- Đối với kiểu danh ngữ mở rộng bởi thành tố phụ bổ tố, luận án
phân biệt sự khác nhau giữa bổ tố và điều biến tố. Khảo sát cho thấy
rằng, cả điều biến tố và bổ tố đều bổ nghĩa cho chính tố, tuy nhiên bổ
tố mang tính phân loại; bổ tố là tính từ không có điều biến tố cấp thấp
(submodifiers); bổ tố đứng sát với chính tố: a legal adviser (một cố
vấn luật); còn điều biến tố mang tính miêu tả, điều biến tố là tính từ
có thể có điều biến tố cấp thấp, khi cùng xuất hiện thì điều biến tố
phải đứng trớc bổ tố, ví dụ: an honest legal adviser /* a legal
honest adviser.
* Thành tố phụ mở rộng sau chính tố:
Danh ngữ mở rộng có thể có thành tố phụ sau chính tố là:
- thành tố bổ tố sau (postcomplements) là cụm giới từ: the
destruction of the city; cụm giới từ sau chính tố hoà kết mang nghĩa
chỉ bộ phận: some of the books ; mệnh đề biến vị: the fact that John
had overeaten, hoặc mệnh đề không biến vị: the appeal to give
blood.
- hoặc điều biến tố sau (postmodifiers) là: tính từ và cụm tính
từ: a door ajar, từ xác định và cụm định ngữ: I have money almost
enough, cụm danh từ: a man my age, cụm giới từ: a girl with red
hair, điều biến tố đồng vị: my husband George, mệnh đề biến vị và
không biến vị: The food which was eaten/ being eaten.
Có thể thấy rằng, khi đứng sau chính tố có hơn một thành tố
phụ thì trật tự thông thờng là chính tố>bổ tố>điều biến tố. Tuy
nhiên, khảo sát cho thấy có thể có hơn một điều biến tố sau chính tố.
Khi cùng xuất hiện thì điều biến tố có cấu trúc ngắn đứng trớc, dài
đứng sau, cụm từ đứng trớc mệnh đề. Ví dụ: the engine of Freds old
car outside in the back garden which John tried to mend. Khi sau
chính tố có cả bổ tố và điều biến tố nếu điều biến tố có cấu trúc cụm
18
19
Predependents Postdependents
3. Ext. dep 2. Det 1. Int. dep 1. Int. dep 2. Ext. dep
3b 3a 2b 2a 1b 1a
Head
0
1a 1b 2a 2b
Ví dụ:
even
all the three qualified university teachers of English
3b 3a 2b 2a 1b 1a 0 1a
in the room
themselves too.
1b 2a 2b
Chú thích:
0: chính tố (head); 1: thành phần phụ nội vi, 1a: bổ tố trớc, 1b: điều biến tố trớc;
2: định tố, 2a: định tố bổ sung, 2b: định tố cơ bản; 3: thành phần phụ ngoại vi trớc,
3a: điều biến tố trớc định ngữ, 3b: điều biến tố ngoại vi biên trớc; 1: thành phần
phụ nội vi sau, 1a: bổ tố sau, 1b: điều biến tố sau; 2: thành phần phụ ngoại vi sau,
2a: điều biến tố trớc biên sau, 2b: điều biến tố biên sau . Chơng 4
Danh ngữ tiếng Anh
đối chiếu với danh ngữ tiếng Việt
4.1. Mấy điểm quan yếu trong sự đối chiếu
Trong sự đối chiếu giữa danh ngữ tiếng Anh với danh ngữ tiếng
Việt, luận án lấy chỗ dựa là danh ngữ tiếng Anh để nhận rõ hơn nữa
Việt chênh nhau về mặt số lợng từ loại. Cụ thể là, thành tố phụ trớc
chính tố của danh ngữ tiếng Anh dạng cơ sở nh trình bày ở Chơng
2 có cả thảy 16 loại. Đó là, mạo từ: a (an), the; từ xác định tổng
lợng: all, both,; từ xác định nhân xng: we, you, Trong khi đó
thành tố phụ của danh ngữ tiếng Việt tơng ứng, có cả thảy 6 loại, đó
21
là: cái
2
(chỉ xuất), số từ : ba, bốn, mời, loại từ: chiếc, tấm,
thằng ,
- Thành tố phụ của danh ngữ tiếng Anh đa dạng về hình thái
ngữ pháp (ngôi, số, giống), trong khi ở danh ngữ tiếng Việt không
có hình thái ngữ pháp: that book / those books.
- Danh ngữ cơ sở tiếng Anh có thành tố định tố là định tố bổ
sung mang nghĩa tổng lợng thờng tơng ứng với danh ngữ tiếng
Việt có dạng: thành tố phụ + chính tố: two workers
-> hai công
nhân. Tuy nhiên, có nhiều trờng hợp danh ngữ cơ sở tiếng Anh có
thành tố định tố là định ngữ cơ bản lại tơng đơng với danh ngữ
tiếng Việt có dạng: chính tố + thành tố phụ: the book
-> cuốn sách
ấy.
- Đối chiếu danh ngữ mở rộng tiếng Anh với danh ngữ tiếng
Việt
* Đối chiếu hai danh ngữ trên cơ sở chính tố
- Thành tố chính tố trong danh ngữ mở rộng tiếng Anh khi dịch
sang danh ngữ tiếng Việt tơng ứng, nhiều trờng hợp vừa có thể
đợc dịch thành động từ, hoặc danh từ. Ví dụ: Comparison [danh từ]
between the plural denoting words in Vietnamese and Chinese -> (sự)
- Thành tố bổ tố là cụm giới từ, cụm chủ vị trong danh ngữ
tiếng Anh có thể dịch tơng đơng với định ngữ miêu tả trong danh
ngữ tiếng Việt. Ví dụ: The second of four sons -> Con thứ hai trong
số bốn ngời con trai.
- Thành tố bổ tố trong danh ngữ tiếng Anh có thể dịch tơng
đơng với định ngữ chỉ loại trong danh ngữ tiếng Việt, chúng đều
23
đứng sát chính tố. Ví dụ: a linguistics student -> một sinh viên
ngôn ngữ học.
- Thành tố điều biến tố nội vi trớc chính tố trong danh ngữ
tiếng Anh có thể dịch tơng đơng với định ngữ miêu tả trong danh
ngữ tiếng Việt. Ví dụ: a new bag -> một chiếc túi mới
- Trật tự tuyến tính giữa chính tố với bổ tố và điều biến tố trong
danh ngữ tiếng Anh có hai dạng tuyến tính, danh ngữ tiếng Anh có
thể mở rộng cả hai phía, về phía trái gồm những thành tố phụ chủ yếu
là từ, về phía phải chủ yếu là cụm từ và mệnh đề. Khi chuyển sang
danh ngữ tiếng Việt nhất loạt chỉ có một dạng tuyến tính, nói khác đi
danh ngữ tiếng Việt chỉ mở rộng về phía phải. Ví dụ: a brilliant legal
adviser -> một cố vấn luật pháp giỏi.
* Đối chiếu hai danh ngữ trên cơ sở thành tố phụ ngoại vi
Thành tố điều biến tố ngoại vi trong danh ngữ tiếng Anh
thờng là các từ ngữ đa dạng mang tính tình thái, ví dụ: trạng từ, đại
từ và các kết cấu với trạng từ, đại từ, có tơng đơng khi dịch sang
tiếng Việt là định ngữ biểu thị thái độ bình giá đợc diễn đạt bằng các
từ tình thái và các kết cấu tình thái tiếng Việt. Ví dụ: It was such a
disaster
-> Đó là một tai hoạ ghê gớm.
5. Danh ngữ cơ sở tiếng Anh là đơn vị cú pháp có thành tố phụ
chức năng tối thiểu nhất - thành tố định tố, và định tố trong danh ngữ
cơ sở tiếng Anh đợc chia làm hai loại: định tố cơ bản và định tố bổ
sung:
- Định tố cơ bản khái quát các tính chất của sự vật đợc chính
tố biểu thị về các mặt: tồn tại không gian, số lợng, quan hệ nhân
thân,
25
- Định tố bổ sung góp phần thể hiện chính xác hơn thuộc tính
số lợng của sự vật, và những đánh giá về sự vật đợc chính tố biểu
thị.
Quan hệ của định tố cơ bản với chính tố luôn đợc biểu thị
bằng hình thái ngữ pháp của từ, tạo điều kiện cho định tố cơ bản đủ
sức rời xa chính tố, nhờng cho định tố bổ sung đứng sát chính tố.
6. Chính tố thờng phải hiện hữu đầy đủ và rõ ràng, tuy nhiên
có khi chính tố hiện hữu không đầy đủ, thờng đợc coi là bị tỉnh
lợc. Luận án theo quan điểm cho rằng khi ấy đã xuất hiện một kết
cấu hoà kết sâu sắc giữa chính tố và định tố, tạo điều kiện để chính tố
dù không cần phải đợc thể hiện bằng hình thức vật chất đầy đủ
nhng ý nghĩa vẫn đợc nhận thức rõ ràng trong tâm thức của ngời
sử dụng ngôn ngữ nhờ ngữ cảnh. Kết cấu ấy đợc gọi là chính tố hoà
kết.
7. Danh ngữ cơ sở khi đợc bổ sung thêm các loại thành tố phụ
chức năng thì thành danh ngữ mở rộng theo cả hai phía- trớc và sau
chính tố, ở cả hai khu vực- nội vi và ngoại vi, của danh ngữ. Do vậy,
danh ngữ mở rộng tiếng Anh có hai loại: loại mở rộng nội vi và loại
mở rộng ngoại vi. Thành tố dùng để mở rộng nội vi trớc thờng là
các từ, phổ biến là các tính từ có giá trị miêu tả cụ thể, đôi khi kèm
theo cả sự đánh giá về các mặt kích cỡ, màu sắc của thực thể đợc