1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
LÝ BẢO MỴ CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN
TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60220240
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hùng Việt
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
LÝ BẢO MỴ CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN
TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
Lý Bảo Mỵ Danh mục các chữ viết tắt
A: Tính từ
4
BN: Bổ ngữ
C: Bổ ngữ
CN: Chủ ngữ
CTCP: Cấu trúc cú pháp
CTNBH: Cấu trúc nghĩa biểu hiện
DT: Danh từ
ĐT: Động từ
N: Danh từ, những sự vật có liên quan
Neg.: Phủ định
NP: Danh từ vị ngữ
O: Động từ tân ngữ
P: Vị từ
PĐ: Phủ định
Pron: Đại từ
S: Chủ ngữ
TPĐ: Từ phủ định
Tr.T: Trạng từ
V: Động từ
bié 15
什么
shén me
4
哪
nǎ 16
谁
shéi
5
未必
wèi bì 17
才怪
cái guài
6
有约
yǒu yuē 18
勿
wù
7
甭
béng 19
莫
mò
8
未
wèi 20
非
fēi
9
休
Danh mục phiên âm từ phủ định tiếng Hán trong luận văn
Mục lục
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 01
2. Lịch sử vấn đề 02
3. Mục đích và nghiện vụ nghiên cứu 04
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04
5. Phương pháp nghiên cứu 05
6. Đóng góp của luận văn 05
7. Cấu trúc của luận văn 05
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Phủ định xét về mặt lô-gích học 06
1.1.1 Khái niệm phủ định trong Lô-gích học nói chung 06
1.1.2 Khái niệm phủ định trong lô-gích toán 06
1.2 Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định trên quan điểm
ngôn ngữ học 07
1.2.1 Ký hiệu phủ định trong ngôn ngữ 08
1.2.2 Sự không tương ứng giữa khẳng định và phủ định trong ngôn ngữ 09
1.3 Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc về câu phủ định 14
1.3.1 Quan điểm về mặt hình thức và ngữ nghĩa của ký hiệu phủ định “不” và
“没” 15
1.3.2 Quan điểm về tính chủ quan và tính khách quan của ký hiệu phủ định
“不” và “没” 16
1.3.3 Quan điểm về phủ định trung tính và phủ định về “thời hoàn thành” của
ký hiệu phủ định “不” và “没” 17
1.3.4 Quan điểm về tính chia tách và tính chắp dính liên tiếp của ký hiệu phủ
định “不” và “没” 18
1.3.5 Quan điểm về phủ định cấm của ký hiệu phủ định “别” 19
1.4 Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam về câu phủ định 20
Việt 85
3.3.Tiểu kết 90
KẾT LUẬN
91
8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
93 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
nhau và khác nhau đó thể hiện như thế nào ? Khi người Việt học tiếng Hán hay
người Trung Quốc học tiếngViệt, thì về phần phủ định của câu, cần phải lưu ý
những gì, đó chính là những vấn đề mà luân văn của chúng tôi quan tâm , và đó
cũng là lý do để chúng tôi chọn đề tài này cho luận văn của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, cấu trúc phủ định tiếng Hán đã được rất nhiều nhà ngôn
10
ngữ Trung Quốc nghiên cứu và trình bày trong các công trình nghiên cứu ngôn
ngữ tiếng Hán. Cuốn sách ngữ pháp đầu tiên của Trung Quốc Mã thị văn thông
(
《马氏文通》
)[40] đã bắt đầu có sự nghiên cứu cấu trúc phủ định. Trong suốt
một thế kỷ sau cũng có nhiều nhà ngôn ngữ tiếp tục tiến hành việc nghiên cứu
cấu trúc phủ định, đặc biệt từ thập kỷ 80 thế kỷ 20 đến nay, các nhà ngôn ngữ
học Trung Quốc đã và đang tập trung nghiên cứu về từ - câu - cấu trúc của
những thành phần phủ định trên các bình diện khác nhau.
Trong tiếng Hán, Từ nòng cốt của cấu trúc phủ định chủ yếu gồm ba từ
“不” “没” “别”. Vậy ba từ này có sự phân bố ra sao? đặc điểm ngữ pháp, ngữ
nghĩa và cách dùng của chúng như thế nào? Những vấn đề trên đã thu hút được
nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như ngữ pháp truyền
thống, ngữ pháp hình thức hay ngữ pháp chức năng v.v . Các nhà ngôn ngữ học
như Thompson [58] cho rằng từ phủ định “没” chỉ dùng cho phủ định những sự
kiện đã hoàn thành; Lô Giáp Văn [32] và Trần Thuỳ Dân [22] từ nhiều góc độ
tìm hiểu sự khác biệt về ý nghĩa ngữ pháp của hai từ phủ định “不” và “没”;
Ernst [54] và Huang [56] đưa ra một khái niệm mới là cấu trúc chắp dính của từ
phủ định “不”, còn Lee và Pan [57] thì đưa ra cấu trúc nòng cốt của từ này; Lã
Thúc Tương [37][38] cho rằng, hai từ phủ định “不” và “没” thể hiện sự khu
biệt về chủ quan và khách quan của câu; Lin [59] cho rằng, sự khác biệt của hai
từ “不” và “没” thể hiện ở chỗ sự lựa chọn khác nhau về đối thể; còn La Hiểu
Anh [42] thì đi sâu tìm hiểu về ý nghĩa ngữ pháp của từ phủ định “别”, v.v.
cuối câu (dạng thức “trần thuật”); hoặc 2) bằng tổ hợp tình thái “có phải (là)”
đặt trước cho câu có nhận định tổng quát có tiểu tố tình thái “đâu” mở đầu hay
kết thúc toàn câu (dạng thức “nghi vấn không chính danh”) [7]
Ngoài ra, còn có rất nhiều nhà ngôn ngữ như Diệp Quang Ban, Nguyễn
Kim Thản, Nguyễn Đức Dân v.v cũng đã xác định cấu trúc phủ định cơ bản
trong tiếng Việt phải có các từ hoặc những yếu tố phủ định, tầm tác động của
yếu tố phủ định trong câu v.v
Tuy vậy, sự so sánh đối chiếu câu phủ định giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt
vẫn là một lĩnh vực mới, ít được chú ý. Những vấn đề đặt ra là: về cấu trúc ngữ
pháp, ý nghĩa biểu đạt và cách thức sử dụng câu phủ định và từ phủ định giữa
hai ngôn ngữ này có gì giống nhau và có gì khác nhau? Những người học tiếng
cần chú ý những gì trong khi sử dụng câu phủ định của hai ngôn ngữ này?
Những điều thắc mắc này chúng tôi rất muốn tìm hiểu và làm rõ, cũng như các
học giả hay những người đang học tiếng Hán, tiếng Việt đang quan tâm chú ý.
Trong luận văn này chúng tôi sẽ dựa trên các công trình nghiên cứu đã có
của các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc cũng như Việt Nam để tìm hiểu và
nghiên cứu thêm những vấn đề này.
12
3. Mục đích và nghiện vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn này đặt ra các mục đích sau:
Trên cơ sở trình bày câu phủ định và những từ phủ định tiêu biểu trong
tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại, tiến hành việc so sánh cấu trúc phủ định giữa
hai ngôn ngữ để tìm ra những tương đồng và khác biết giữa hai ngôn ngữ này
và tổng hợp lại những yếu tố khu biệt về cách thức sử dụng câu phủ định của
tiếng Hán và tiếng Việt.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những nét tổng quát về câu phủ định và những từ phủ định tiêu
biểu trong tiếng Hán hiện đại.
phủ định trong tác phẩm văn học được dẫn, đồng thời phân loại câu phủ định
về các mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Được sử dụng trong chương cuối để so
sánh đối chiếu các kiểu câu phủ định giữa tiếng Hán và tiếng Việt nhằm tìm ra
những điểm tương đồng và khác biệt của kiểu câu này trong hai ngôn ngữ .
6. Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn sẽ đóng góp cho việc nghiên cứu câu phủ định
trong tiếng Hán và xác định các điểm tương đồng cũng như sự khác biệt về câu
phủ định và từ dùng để phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt.
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần giúp
cho những người học tiếng Hán hay tiếng Việt có thêm sự hiểu biết về câu phủ
định và có thể sử dụng đúng loại câu này trong ngôn ngữ đang học.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
CHƯƠNG I Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG II Đặc điểm cấu trúc của câu phủ định tiếng Hán và tiếng Việt
CHƯƠNG III Đối chiếu câu phủ định tiếng Hán và tiếng Việt CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Phủ định xét về mặt lô-gích học
1.1.1 Khái niệm phủ định trong Lô-gích học nói chung
14
Từ xưa đến nay, phủ định đã là một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học và
lô-gích học cùng quan tâm chú ý. Từ góc nhìn của một mệnh đề lô-gích, thì phủ
định có đặc tính để xem xét và làm thay đổi một mệnh đề có đúng hay không.
Mệnh đề gồm có hai mặt là mệnh đề khẳng định và mệnh đề phủ định
Như vậy, trong lô-gích toán của sự phủ định, trong hai mệnh đề chỉ có một
15
mệnh đề đúng, tức mệnh đề a đúng (hoặc sai) thì mệnh đề -a sai (hoặc đúng).
Trong ngôn ngữ thường dùng, mối quan hệ giữa cấu trúc khẳng đỉnh của
câu với cấu trúc phủ định của câu có thể gọi là mối liên hệ chủ yếu của mâu
thuẫn (contradictory), tức là hai dạng câu - câu khẳng định và câu phủ định của
cùng một mệnh đề không thể hoàn toàn đúng, cũng không thể hoàn toàn sai; và
ngược lại, chúng có thể có mối quan hệ tương phản (contrary), tức câu khẳng
định và câu phủ định của cùng một mệnh đề tuy không thể hoàn toàn đúng,
nhưng chúng lại có thể hoàn toàn sai.
Sự phủ định trong ngôn ngữ và sự phủ định trong lô-gích tuy đều là
phạm trù quan trọng của hoạt động giao tiếp và cách phản ánh thế giới khách
quan của con người cũng như việc nhận thức thế giới, nắm bắt thông tin hay
bày tỏ tình cảm cá nhân v.v và tuy chúng có những điểm tương đồng như trên,
nhưng chúng cũng có sự khác biệt: ngôn ngữ là công cụ giao lưu về tư tưởng
hay sự suy nghĩ của con người, ngoài việc chịu ảnh hưởng và giới hạn của thế
giới khách quan ra, còn chịu sự hạn chế của những điều kiện ngữ dụng như đối
tượng giao tiếp, bối cảnh nhận thức của con người, ngữ cảnh và nội dung trong
giao tiếp, mục đích của giao tiếp v.v.
1.2 Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định
trên quan điểm ngôn ngữ học
Trong giao tiếp hàng ngày, giữa mỗi một cá thể con người bất kể có sự
khác biệt gì về chủng tộc, màu da hay địa vị xã hội v.v, đều có nhu cầu phủ
nhận và bác bỏ những quan điểm hay ý kiến mà mình không chấp nhận trong
những phát ngôn do người đối thoại đưa ra. Vì vậy, với tư cách là một trong
những phạm trù ngôn ngữ, tính phủ định thực sự là một thuộc tính chung của
tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới.
So với các phạm trù ngôn ngữ khác, cấu trúc phủ định không thể phân tích
theo hướng ngữ nghĩa dưới góc độ tự nhiên, vì phủ định không có dạng quá
khứ hay dạng tương lai về mặt ngữ pháp; phủ định cũng không có thuộc tính
nhau về phủ định của hai ngôn ngữ).
Nói chung, cả tiếng Hán và tiếng Việt đều có khá nhiều dấu hiệu phủ
định, nhưng xét về mặt mức độ sử dụng thì bất kể ngôn ngữ nào cũng đều có
một số ký hiệu tiêu biểu và thường dùng nhất.
Ở tiếng Hán hiện đại, chúng ta thường thấy ba dấu hiệu phủ định sau hay
được sử dụng: “不”, “没”và “别”. Thông thường, ba ký hiểu phủ định này có
vai trò và tác dụng riêng mặc dù chúng được đồng thời xuất hiện ở cùng một
ngữ cảnh, nhưng ý nghĩa của những dấu hiệu phủ định này lại hoàn toàn khác
nhau, và có lúc chỉ có một ký hiệu mang nghĩa phủ định, còn những ký hiệu
còn lại thì có chức năng ý nghĩa khác. Ví dụ:
(1)仰起头两面一望,只见许多古怪的人,三三两两,鬼似的在那里徘
17
徊;定睛再看,却也看不出什么别的奇怪。
Dịch: Ngước đầu nhìn xung quanh, lão thấy bao nhiêu người kỳ dị hết sức,
cứ hai ba người một, đi đi lại lại như những bóng ma. Nhưng nhìn kỹ thì lại
chẳng lấy gì làm quái lạ nữa. [118]
Trong ví dụ trên “不” là dấu hiệu phủ định vì nó được sử dụng với kết cấu
“看出” đối lập với “看不出” (không nhìn ra được); nhưng từ “别” ở trường
hợp này chỉ có nghĩa là “cái khác” chứ không mang nghĩa phủ định.
(2)康大叔见众人都耸起耳朵听他,便格外高兴,横肉块块饱绽,越发
大声说,“这小东西不
1
要命,不
2
要就是了 ”
Dịch: Bác Cả Khang thấy mọi người vểnh tai nghe, lấy làm thú lắm,
những thớ thịt trên mặt nổi từng cục. Bác ta cao hứng nói càng to:
- Cái thằng nhãi con ấy không
1
muốn sống nữa, thế thôi [118]
ứng, nhưng xét về mặt ngôn ngữ thì chúng chưa chắc đã là tương ứng, và có thể
có những trường hợp có một mệnh đề khẳng định, nhưng không có một mệnh
đề phủ định tương ứng, ví du:
(3) a.“yêu là vì thích.”
b.“yêu là vì không thích.”
Thì ở trong hai ví dụ trên, về cấu trúc ngữ pháp thì hai câu đều đúng,
nhưng về mặt ý nghĩa thì câu “b.” là sai, vậy nhóm câu khẳng định và phủ định
này không tương ứng với nhau.
Ngược lại, cũng có một số trường hợp cấu trúc phủ định trong mệnh đề là
đúng, nhưng nếu câu phủ định này tương ứng sang bên khẳng định thì lại sai về
ngữ pháp và không thành lập được, ví dụ:
(4) a.“Cô bé nhìn thấy con chuột to chạy qua dưới bàn ăn, sợ hết hồn mà
không dám động đậy”.
b.“Cô bé nhìn thấy con chuột to chạy qua dưới bàn ăn, sợ hết hồn mà
dám động đậy”.
Chúng ta cũng dễ dàng phát hiện là sự khẳng định trong câu “b.” không
hợp lệ vì cô bé kia đang sợ con chuột to mà lại dám động đậy là việc trái ngược
với tình hình thực tế trong cuộc sống, vậy thì ở đây khẳng định với phủ định
vẫn không thể tương ứng trong hoàn cảnh này.
1.2.2.2 Không tương ứng với ngữ cảnh
Ngoài ra, ở trong một số ngữ cảnh tuy khẳng định với phủ định tương ứng
với nhau, nhưng với nội dung câu nói thì câu khẳng định sẽ là đúng và câu phủ
định tương ứng đó là sai. Chẳng hạn:
(5)A: Anh Hoàng ơi, lâu lắm không gặp anh, dạo này thế nào rồi?
B: 1) À, con anh vừa bảo vệ xong luận văn thạc sĩ đấy!
2) À, con anh chưa bảo vệ luận văn thạc sĩ.
Với ngữ cảnh này, mặc dù câu hỏi của A rất trung tính và A cũng không
bày tỏ sự mong muốn nhận được câu trả lời là khẳng định hay phủ định, nhưng
nếu B trả lời theo câu 1) thì sẽ tự nhiên hơn và cũng dễ diễn ra cuộc giao tiếp
tiếp theo và có thể A sẽ có lời chúc mừng cho B v.v, nhưng nếu B trả lời bằng
thường, danh từ làm tân ngữ trong câu phủ định phải là danh từ chỉ định và xác
định được, nhưng trong câu khẳng định lại không có điều kiện này. Và đây
chính là sự khác biệt rõ ràng giữa khẳng định và phủ định về chức năng thông
báo của thông tin.
1.2.2.3 Không tương ứng về mức độ ngữ nghĩa của từ
Sự không tương ứng giữa khẳng định và phủ định còn thể hiện ở mức độ
20
ngữ nghĩa của từ được sử dụng trong câu, chẳng hạn một số động từ chỉ có thể
dùng trong câu khẳng định, và một số động từ khác lại chỉ có thể sử dụng trong
câu phủ định.
Theo nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Thạch Dục Trí [45], những từ có mức
độ ngữ nghĩa thấp thì chỉ có thể sử dụng trong kết cấu phủ định; những từ có
mức độ ngữ nghĩa cao thì chỉ có thể sử dụng trong cấu trúc khẳng định; còn
những từ có mức độ ngữ nghĩa vừa phải thì có thể sử dụng tự do giữa hai cấu
trúc khẳng định và phủ định. Và những từ chỉ có thể sử dụng trong cấu trúc
khẳng định hay cấu trúc phủ định được gọi là ngữ tuyến tính (polarity item).
Ví dụ:
(7)高盛五并不介意党委书记的玩笑。
Dịch: Cao Thịnh Ngũ không hề để bụng những chuyện đùa của ông bí thư
Đảng uỷ. [52]
(8) a.我还清楚地记得昨天发生的事。
Dịch: Tôi còn nhớ rất rõ về chuyện tối hôm qua đã xảy ra.
b.我不记得昨天发生的事。
Dịch: Tôi không nhớ những chuyến tối qua đã xảy ra. [52]
(9) 我们要时刻铭记党对我们的教诲。
Dịch: Chúng ta phải luôn ghi nhớ trong lòng những điều mà Đảng
yêu cầu với chúng ta. [52]
Với ba nhóm ví dụ trên, ba từ “介意” “记得” và “铭记” về khái niệm ngữ
nghĩa thì giống nhau, đều mang nghĩa là “nhớ tới”, nhưng chúng khác nhau về
mức độ ngữ nghĩa. Từ “介意” mức độ ngữ nghĩa rất thấp, thường dùng trong
(10) 树上的苹果熟透了, 就落到地下。这种现象从来没有引起人们
的注意
Dịch: Những quả táo trên cây đã chín và rơi xuống đất. Hiện tượng này
từ xưa đến này chưa bao giờ khiến mọi người lưu ý. [137]
Với ví dụ này, mức độ ngữ nghĩa của từ “从来” rất thấp và nó chỉ dùng
trong câu phủ định, nhưng có điều thú vị là trong tiếng Việt, cụm từ “từ xưa
đến nay” lại có mức độ ngữ nghĩa trung bình, nó có thể sử dụng trong cả hai
cấu trúc - khẳng định và phủ định.
1.3 Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc về
câu phủ định
Trong tiếng Hán, vấn đề phủ định nói chung và hình thức biểu hiện của
Cấu trúc câu
Dấu hiệu
mức độ ngữ nghĩa
Khẳng định Phủ định
Cao -
Thấp +
22
câu phủ định nói riêng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học Trung Quốc chú ý đến,
trong đó không ít nhà ngôn ngữ học như Lã Thúc Tương [34], Vương Lực [48],
Thảm Gia Huyên [44], Thạch Dục Trí [15], Kim Triệu Tử [31], Liêu Tự Đông
[28] v.v đã trình bày những quan điểm về phủ định trên các bài báo hoặc những
cuốn sách đã xuất bản.
Theo nhà nghiên cứu Kim Triệu Tử trong sách Nghiên cứu văn pháp quốc
ngữ (
《国文法之研究》
của loại câu này là câu phủ định của phủ định, (ở phần sau chúng tôi sẽ trình
bày rõ thêm).
Nhà ngôn ngữ học Trần Bình [24] cũng cho rằng, sự phủ định trong ngôn
ngữ chủ yếu là phủ nhận cấu trúc trần thuật của câu, và trong thực tế có thể phủ
nhận những khái niệm về sự vật cũng như tính chất, động tác, quan hệ hay
trạng thái của những sự vật hiện tượng mà mình muốn phủ định; ngoài ra, sự
phủ định cũng có những nghĩa rộng để chỉ về ngăn cấm, không tồn tại hay trái
ngược với thực tế bằng cách sử dụng ngôn ngữ.
1.3.1 Quan điểm về mặt hình thức và ngữ nghĩa của dấu hiệu phủ định “
不
” và
“
没
”
Nhà ngôn ngữ học Lã Thúc Tương [37] [38] là người đầu nghiên cứu tỉ mỉ
nhất về sự khu biệt giữa hai từ phủ định “不” và “没”. Theo ông, hai từ phủ
định này có sự khác biệt về hình thức và ngữ nghĩa.
Về mặt hình thức, từ “不” là phó từ chuyên làm phụ tố cho động từ và nó
không thể thay thế vị trí của động từ; còn từ “没” là trợ động từ, nó không chỉ
có thể đi kèm với động từ mà còn có thể đảm nhiệm vai trò của động từ.
Về mặt ngữ nghia, từ “不” chỉ có nghĩa phủ định; còn từ “没” là sự phủ
định của hai nội dung: phủ định những việc đã hoàn thành và phủ định của
những trải nghiệm đã xảy ra. Về nội dung phủ định thứ nhất, ở cấu trúc câu
trong tiếng Hán thường có từ “了” biểu thị đã hoàn thành hoặc đã được thực
hiện, ngoài ra còn có từ “过” biểu thị đã trải nghiệm, từ “没” có nghĩa phủ định
những việc trong quá khứ đã xảy ra.
Ở hai nhóm ví dụ dưới đây, chỉ có thể dùng ký hiệu “没” phủ định chứ
không thể phủ định bằng ký hiệu “不”, vì với ngữ cảnh cụ thể này là phủ định
về việc hoàn thành hay trải nghiệm:
(11) a.母亲和宏儿都睡着了。
没
”
Nhà ngôn ngữ học Bạch Thuyên [21] cho rằng, dấu hiệu phủ định “不”
25
phủ định về mặt chủ quan, còn dấu hiệu phủ định “没” phủ định về mặt khách
quan.
Bạch Thuyên [21] đã đi sâu vào quan điểm này và phân tích rằng: dấu
hiệu phủ định “不” chủ yếu phủ định về ý chủ quan làm một việc nào đó. Việc
này còn chưa làm, có thể đang làm hoặc sau này sẽ làm, và như vậy, dấu hiệu
phủ định “不” cũng sẽ đi theo những ý thức chủ quan mà dùng trong thời hiện
tại hoặc thời tương lai; ngược lại, sự thật khách quan là những việc đã xảy ra
hoặc những tình huống đã tồn tại, vì vậy dấu hiệu phủ định “没” chỉ có thể phủ
định những sự thật trong quá khứ.
Nói chung, những quan điểm phân tích của Bạch Thuyên và Lã Thúc
Tương bổ sung lẫn cho nhau, và cũng nêu rõ sự khác biệt về tính chủ quan và
tính khách quan của hai dấu hiệu phủ định “不” và “没”.
1.3.3 Quan điểm về phủ định trung tính và phủ định về “thời hoàn thành” của
dấu hiệu phủ định “
不
” và “
没
”
Nhà ngôn ngữ học Charles N.Li và Sandra A.Thompson [58] có quan
điểm khác với Lã Thúc Tương là sự khác biệt giữa “不” và “没” ở chỗ: “不”
dùng cho phủ định trung tính (neutral negation), còn “没” dùng để phủ định
cho sự hoàn thành của sự việc. Một số trường hợp được phủ định bằng ký hiệu
“不” như sau:
1) Trong cấu trúc câu xuất hiện tính từ hoặc động từ, thì dấu hiệu phủ định “不”
dùng để phủ định sự tồn tại của trạng thái tương ứng, và ở đây không được
dùng “没”. Ví dụ: