Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
(ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT NAM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LÝ THỤY KỲ
(LI RUI QI)
i MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục ⅰ
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích của luận văn 1
3.Nhiệm vụ nghiên cứu 1
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Cấu trúc của luận văn 2
Nội Dung 3
Chƣơng 1 Cơ sở lý thuyết của luận văn………………… 3
1.1. Một số vấn đề về lý thuyết vay mượn từ vựng……………. 3
1.1.1.Vay mượn từ vựng là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ 3
1.1.2. Vay mượn là sản phẩm của tiếp xúc văn hóa 5
1.1.3. Vay mượn là sản phẩm tiếp xúc xã hội 6
1.2. Khái niệm "từ vay mượn" 6
1.2.1. Thuật ngữ ―từ vay mượn‖ 6
1.2.2. Quan niệm về từ vay mượn của một số nhà ngôn ngữ học Trung Quốc
và Việt Nam 9
ii
2.2.2.7. Kết hợp dịch âm và dịch nghĩa 37
2.2.3. Ở bình diện ngữ âm và chữ viết 37
2.2.3.1. Sự Hán hóa về số lượng âm tiết 38
2.2.3.2. Sự Hán hóa về âm tố , tổ hợp âm tố và kết cấu âm tiết 40
2.2.4. Ở bình diện chữ viết 42
2.3. Nguyên tắc vay mượn từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán 44
2.4. Chức năng của từ mượn Anh trong tiếng Hán trong tiếng Hán hiện
đại 48
2.4.1. Chức năng ngôn ngữ 49
2.4.2. Chức năng văn hóa 50
2.4.3. Chức năng năng xã hội 52
2.4.4. Chức năng tâm lý 54
2.5. Tiểu kết 56
Chƣơng 3 Đối chiếu đặc điểm tiếp nhận từ ngữ tiếng Anh trong tiếng
Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại 59
iv 3.1. Đặt vấn đề……………………………………………………… 59
3.2. Đối chiếu về cách vay mượn giữa tiếng Hán và tiếng Việt 60
3.3. Đối chiếu về sự Hán hóa và Việt hóa của từ mượn Anh trong tiếng Hán
hiện đại và tiếng Việt hiện đại 61
3.4. Đối chiếu sự quy phạm hóa từ mượn Anh trong tiếng Hán và tiếng
Việt 63
3.4.1. Quy phạm hóa từ mượn Anh trong tiếng Hán 63
3.4.2. Chuẩn hoá từ mượn Anh trong tiếng Việt 66
3.4.3. Những nhận xét rút ra……………………………… 69
3.4.3.1. Ưu điểm của từ mượn Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt 70
3.4.3.2. Hạn chế của từ mượn Anh trong tiếng Hán và tiếng Việt 72
3.5.Tiểu kết 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp của
ngôn ngữ học đối chiếu; phương pháp diễn dịch, quy nạp; và các
phương pháp khác như thống kê, phân loại.
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, gồm ba
chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết của luận văn
Chƣơng 2: Đặc điểm tiếp nhận từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Hán hiện
đại
Chƣơng 3: Đối chiếu đặc điểm tiếp nhận từ ngữ tiếng Anh trong
tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại
Kết Luận
Tài liệu tham khảo 3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
NỘI DUNG
Chƣơng Ⅰ
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
tôn giáo chủ yếu của xã hội tại Trung Quốc. Theo đó, hàng loạt các từ
ngữ Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ xuất hiện trong tiếng Hán.
Thời kì cận đại, do những nhà truyền giáo và những thương nhân lần
lượt sang Trung Quốc, làm cho tiếng Hán xuất hiện nhiều từ vay mượn
của các ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh, tiếng Pháp. Bắt đầu trong
thế kỷ 19, do nhu cầu phải dịch các tác phẩm về khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội, văn hóa phương tây từ các tiếng Anh, tiếng Pháp sang tiếng
Hán đã làm cho hàng loạt các từ mang tải các khái niệm này vào trong
tiếng Hán. Ví dụ: 咖啡(coffe),可可(coca),吉普车(jeep),沙发(sofa)
芭蕾(ballet),香槟(champagne)v.v.
Trong tiếng Việt cũng vậy. Hiện nay, trong hệ thống từ vựng của tiếng
Việt có nhiều từ mượn từ các nguồn khác nhau như:
(1) Những từ ngữ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Hán;
(2) Những từ ngữ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Pháp;
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
(3) Những từ ngữ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Anh;
(4) Những từ ngữ vay mượn từ các ngôn ngữ khác (như tiếng Nga
tiếng Đức );
(5) những từ vay mượn từ các ngôn ngữ dân tộc thiểu số của Việt
Nam.
Do tính đặc thù của từng ngôn ngữ nên số lượng các đơn vị từ vay
mượn giữa các ngôn ngữ không giống nhau. Ví dụ, hiện nay trong tiếng
Anh có tới 56% đơn vị từ vựng là từ ngoại lai. Trong tiếng Hán chỉ có 1%
đơn vị từ ngoại lai. Trong tiếng Việt, số lượng từ mượn tiếng Hán đã
chiếm tới 70% của tổng số từ tiếng Việt.
Tuy nhiên, những số lượng thống kê của các nước như trên cũng
không phải là số lượng chính xác cuối cùng. Bởi vì quá trình giao lưu của
các nước và toàn cầu hóa còn chưa kết thúc. Theo sự giao lưu và tiếp xúc
chuyển dụng làm thuật ngữ ngôn ngữ học .
―Vay‖ : nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiền sẽ
trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương .
―mượn‖: lấy của người khác để dụng trong một thời gian, rồi sẽ trả lại
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
với sự đồng ý của người đó .Vay mượn là vay nói chung.
Cho nên trước hết vay mượn là do không có, thiếu thì phải vay mượn,
thiếu cái gì thì phải vay cái đó. Như vậy, trong ngôn ngữ cũng vậy. Trong
vốn từ của một ngôn ngữ, nếu thiếu các đơn vị từ vựng thì về lý thuyết có
thể vay mượn từ vựng của ngôn ngữ đang có.Ví dụ:
Tiếng Hán đã vay mượn các từ vốn chưa có:
巧克力(chocolate)[sô cô la]
咖啡(coffe)[cà phê]
坦克(tank)[xe tăng] v.v.
Tiếng Việt đã vay mượn các từ chưa có:
ghi-ta (guitar) [吉他]
phan (fan) (崇拜者)
ma-kê- tinh (market) [超市] v.v.
Nhưng còn có một kiểu vay mượn là mượn các đơn vị từ vựng nước
ngoài mà bản thân hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó đã có từ biểu thị.Ví
dụ:
Tiếng Hán hiện nay sử dụng từ ―拜拜 (bye bye) ‖ mặc dù tiếng Hán
đã có từ ―再见‖ biểu thị nghĩa đó .
Tiếng Hán hiện nay sử dụng từ “巴士‖(bus) biểu thị xe buýt, mặc
dù đã có từ ―公共汽车‖ biểu thị nghĩa đó .
Hiện nay những người trẻ Trung Quốc khi gặp nhau thích nói ―哈啰‖
(hello) thay thế từ ―你好‖.
8
Theo ―Từ Hải‖ của Trung Quốc, ―từ ngoại lai ‖cũng có thể gọi là ―từ
vay mượn ‖ hoặc ―ngôn ngữ ngoại lai‖. Đó là những từ ngữ vay mượn từ
ngôn ngữ khác.
Đối với khái niệm từ ngoại lai trong tiếng Hán, công trình đáng chú ý
nhất là của Sở Hữu Vi "Từ ngoại lai". tác giả đã giới hạn khái niệm từ
ngoại lai trong tiếng Hán như sau:
- Thông thường nghĩa của từ ngoại lai trước hết phải có nguồn gốc
ngôn ngữ dân tộc hoặc ngôn ngữ nước ngoài ;
- Về hình thức ngữ âm phải toàn bộ hoặc một bộ phận vay mượn
những từ tương ứng của ngôn ngữ dân tộc hoặc ngôn ngữ nước ngoài ;
- Ở một mức độ nhất định nó đã trở thành một từ tiếng Hán, tức là đã
được Hán hóa. Nói một cách nghiêm chỉnh , những từ này phải thỏa mãn
điều kiện đã được sự dụng một quãng thời gian tương đối dài , mới có thể
gọi là từ ngoại lai.(35, tr127)
Theo cách nhìn nhận này về từ ngoại lai, có thể thấy, từ ngoại lai phải
thoả mãn ít nhất là 04 yêu cầu sau:
1/ Có nguồn gốc ngôn ngữ của các dân tộc khác hoặc các nước khác.
2/ Về hình thức ngữ âm, toàn bộ hoặc một bộ phần tương ứng với từ
cho vay.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3/ Mang đặc trưng thành phần ngôn ngữ của tiếng Hán.
4/ Đã được sử dụng trong một quãng thời gian dài, và đã là thành viên
ổn định trong hệ thống từ vựng tiếng Hán.
Nhưng, nếu theo quan niệm này thì khái niệm từ ngoại lai chỉ bao
gồm những từ dịch âm hoặc những từ có thành phần dịch âm tham giao
cấu tạo từ, còn những từ chỉ mượn hình thái cấu tạo (chữ viết ) hoặc chỉ
mượn ý nghĩa của từ (từ dịch nghĩa ) thì không thể coi là từ ngoại lai ,như
nhiều từ trong tiếng Hán mượn từ tiếng Nhật.
1.Từ ngoại lai đều có gốc ngữ nước ngoài.
2. Hình thức ngữ âm và đặc điểm ngữ pháp của ngôn ngữ cho vay đều
phù hợp với ngôn ngữ đi vay .
3. Được bản địa hóa, tức là được Hán hóa hoặc Việt hóa.
4. Đều có yếu tố của thời gian (đã được sử dụng lâu).
1.3. Phân loại từ ngoại lai
1.3.1. Cách phân loại từ ngoại lai của Trung Quốc
Theo các ngôn ngữ học nghiên cứu về từ ngoại lai của Trung Quốc .
có thể từ các góc độ khác nhau để phân chia từ ngoại lai
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1/ Xuất phát từ phương thức vay mượn từ vựng có thể tách ra thành
từ mượn ngữ âm, từ mượn ngữ nghĩa, từ mượn kết hợp âm thanh và ngữ
nghĩa, từ mượn chữ viết.
2/ Xuất phát từ nguồn gốc, có thể chia thành nhiều loại như: từ ngoại
lai gốc tiếng Anh; từ ngoại lai gốc tiếng Pháp; từ ngoại lai gốc tiếng Anh,
gốc từ tiếng Nga, tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Mông Cổ, tiếng Tây Tạng,
tiếngUây-Ua, v.v.
3/ Xuất phát từ ngữ nghĩa, có thể chia ra nhiều loại như: từ ngoại lai
triết học, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kinh tế, công
nghiệp, quân sự, giáo dục, nghệ thuật, phong tục, sinh hoạt, v.v.
4/ Xuất phát từ thời đại, có thể tách ra thành từ ngoại lai thượng cổ, từ
ngoại lai trung cổ, từ ngoại lai cận đại và từ ngoại lai hiện đại.
5/ Ngoài ra còn có thể phân loại theo các lĩnh vực phân bố của từ
ngoại lai theo tầng lớp xã hội, hoặc phân loại theo dạng tồn tại, phân loại
theo gốc độ sử dụng, phân loại theo bình diện hệ thống cấu trúc v.v.
Nói chung, từ ngoại lai có nhiều cách phân loại, và tất cả cho thấy bức
tranh từ mượn trong ngôn ngữ vô cùng đa dạng và phức tạp.
1.3.2. Cách phân loại của từ ngoại lai Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
trong ngôn ngữ mượn, tức là bảo lưu như trong nguyên ngữ và (b) loại từ
mượn thay đổi dù ít hay nhiều so với chúng trong nguyên ngữ. (6, tr 57)
Thông qua những phân loại khác nhau của từ vay mượn Trung Quốc
và Việt Nam, chúng ta có thể thấy một bức tranh rất đa rạng. Có thể từ
nhiều gốc độ khác nhau để tiếp cận từ mượn của Trong Quốc và Việt
Nam.
1.4. Các cách vay mƣợn của từ trong tiếng Hán và tiếng Việt
Tiếng Hán cũng như tiếng Việt, khi nói đến một đơn vị từ vựng
đều bảo gồm các bình diện như ngữ âm, ngữ nghĩa, hình thái cấu
trúc và chữ viết. Cho nên bất kì ngôn ngữ nào cũng vậy, khi vay
mượn một từ nào đó dù ít hay nhiều từ ngữ đó sẽ phải cải tạo về các
bình diện đó, tức là phải Hán hóa hoặc Việt hóa. Cho nên cách vay
mượn của từ cũng sẽ liên quan đến các bình diện như trên.
1.4.1. Cách vay mượn từ trong tiếng Hán
Trong tiếng Hán phương thức vay mượn từ chủ yếu là thông qua các
hình thức phiên dịch để biểu đạt các từ ngoại lai. Xét về phương thức
biểu đạt, chữ Hán là một loại văn tự vừa có tính biểu nghĩa vừa có tính
biểu âm. Cho nên trong tiếng Hán vay mượn từ có mấy loại hình, như: từ
dịch âm, từ dịch nghĩa, từ kết hợp dịch âm và dịch nghĩa v.v.
1.4.1.1. Dịch âm (vay mượn phát âm )
Dich âm tức là thông qua ghi lại hình thức ngữ âm của từ nước ngoài
để vay mượn từ vựng. Những từ theo phương thức này dược mượn vào
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
gọi là từ dịch âm. Nói một cách nghiêm chỉnh, dịch âm không thể coi là
dịch, bởi vì khi vay mượn từ chỉ là sử dụng một phương thức tiếp nhận
nguyên dạng ngữ âm của từ. Vì là chữ Hán không phải là chữ La-tinh, hệ
mượn được Hán hóa.
Từ dịch nghĩa có thể chia thành hai loại: một loại là theo hình thức
cấu tạo của từ tiếng Hán, sử dụng những từ tố vốn có trong tiếng Hán
sáng tạo ra một từ mới.Ví dụ:
备份(backup), 互联网(internet), 随身听(walkman),
直升机(helicopter), 天使(angel), 交卷(film)v.v.
Còn có một loại là dịch dựa theo hình thức và kết cấu cứ pháp của
tiếng nước ngoài, làm cho hai tiếng về bình diện từ tố có thể phối hợp với
nhau. Tình hình này thường xảy ra trong khi vay mượn từ ghép. Ví dụ:
移动电话(mobilephone)
人才市场(jobmaket)
动作片(actionfilm)
黑板(blackborad)
蓝牙(blue thooth)
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.4.1.3. Kết hợp dịch âm và dịch nghĩa
Phương thức này kết hợp phiên âm và ý nghĩa của từ, tức là một bộ
phận xử lý bằng phương thức phiên âm, còn một bộ phận kia xử lý bằng
phương thức chuyển dịch. Hình thức này có thể chia thành 3 loại:
a. Nửa dịch âm nửa dịch nghĩa (Một bộ phận xử lý bằng phương thức
phiên âm, một bộ phận xử lý bằng phương thức chuyển dịch) . Ví dụ:
空中巴士(air bus) 绿卡(green card)
克隆羊(cloned sheep) 迷你裙(Mini-skirt)
新西兰(newzealand) 呼啦圈(Hula-hoop)
因特网(internet) 水上芭蕾(water-ballet)
b. Kết hợp phiên âm với việc thêm yếu tố chỉ loại. Ví du:
卡车(kǎ +che) car
啤酒 ( pí+jiǔ) beer